“ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY - HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 5”
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở bậc tiểu học việc dạy đọc giữ một vai trò quan trọng, đọc đã
trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đọc giúp trẻ
em chiếm lĩnh được một số ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó
là công cụ để học các môn học khác, tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo
điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời ,là một
khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh.
Như vậy, đọc có một ý nghĩa hết sức to lớn vì nó bao gồm nhiệm vụ
giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó
là hoàn thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lưc được tạo nên từ 4 kĩ năng
cũng là yêu cầu về chất lượng của đọc: Đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát
,trôi chảy ), đọc có ý thức ( thông hiểu được nội dung những điều mình đọc
hay còn gọi là đọc hiểu ) và đọc diễn cảm. Sự hoàn thiện một trong những kĩ
năng này có tác dụng tích cực đến những kĩ năng khác.
Ngoài ra, đọc còn giáo dục lòng ham mê đọc sách, hình thành những
phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm cho học sinh thích đọc
sách và thấy được lợi ích to lớn của việc đọc. Bên cạnh đó, nó còn góp phần
làm giàu thêm kiến thức, ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học
sinh. Giúp ngôn ngữ và tư duy của học sinh dần được hoàn thiện, đồng thời
đóng vai trò to lớn trong việc giáo dục đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ
cho các em.
Vì những điều hết sức quan trọng trên, nên bản thân tôi luôn cố gắng
tìm tòi, học hỏi làm cách nào để “ Đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất
lượng dạy - học phân môn tập đọc lớp 5” để tiết dạy tập đọc và học tập đọc
đạt kết quả cao nhất.
* Phạm vi, đối tượng nghiên cứu:
tổ chức dạy tập đọc cho học sinh phải chính là quá trình làm việc của thầy và
trò
mà vấn đề chuẩn bị cho việc đọc là hết sức cần thiết.
Muốn đọc (đọc thành tiếng) tốt, thì học sinh phải có tinh thần bình tĩnh,
tự tin, ngồi ngay ngắn, khoảng cách nhìn từ mắt đến sách hợp lý (30-35cm),
cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi. Khi đọc thành tiếng
học sinh phải tính đến người nghe. Vì thế, ngoài việc rèn tác phong chuẩn bị
cho việc đọc tốt, tôi thường xuyên động viên và tổ chức thi giữa các em đọc
nhỏ, để các em đọc to hơn, đọc đủ lớn cho cả lớp cùng nghe. Cụ thể như: Tôi
thường mời học sinh lên bảng đọc để đối diện với người nghe. Tư thế đứng
đọc phải đàng hoàng, thoải mái, sách phải mở rộng và cầm bằng hai tay.
Nhờ áp dụng biện pháp trên đã tạo cho học sinh một tác phong, một
tinh thần thoải mái, tự tin trước khi bắt đầu học.
Sau khi rèn luyện tác phong chuẩn bị cho việc đọc, tôi mới tiến hành
các bước tiếp theo.
3.2. Luyện đọc đúng:
Đọc đúng là sự tái hiện về mặt âm thanh của bài đọc một cách chính
xác, không có lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không đọc sót âm, vần,
tiếng...đọc phải thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng các âm
thanh (đúng các âm vị) nghỉ, ngắt hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu). Tất cả
những điều trên học sinh thường khó có thể đọc đúng được yêu cầu.
- Vì thế vấn đề thứ nhất đặt ra là làm sao cho nhiều học sinh được bộc
lộ năng lực đọc mà không chiếm quá nhiều thời gian quy định và học sinh có
điều kiện để phát hiện tất cả các lỗi phát âm của các bạn trong lớp thì việc
chia đoạn trong một văn bản khi học sinh bước đầu tiếp xúc với văn bản
(luyện đọc lần 1) là rất quan trọng. Tôi thấy việc chia văn bản thành các đoạn
đọc (đơn vị chia tạm thời, không phải bao giờ cũng thống nhất với cách chia
đoạn theo bố cục văn bản). Giáo viên nên tham khảo sách giáo viên hoặc căn
Phương ngữ Nam bộ ( phổ biến ở địa phương đang giảng dạy): có
hiện
tượng đồng nhất hóa hai phụ âm đầu /v/ và /z/ khi phát âm.
VD: zui zẻ (vui vẻ); zì zậy (vì vậy). Cũng tương tự, đồng nhất hóa hai
cặp phụ âm cuối /n/, /ng/ và /t/, /k/. VD: luôn luôn phát âm thành luông
luông; tuốt tuột phát âm thành tuốc tuộc; tóm tắt phát âm tóm tắc.
Hoặc biến âm chính /ă/ trong âm tiết tay thành /a/, cho nên không phân
biệt tay hay tai khi phát âm.
Tất cả những lỗi trên nguyên nhân thường do thói quen phát âm theo
tiếng địa phương. Vì thế, vấn đề đặt ra ở đây là làm sao rèn cho những học
sinh này đọc và phát âm đúng theo tiếng phổ thông. Một quá trình tập luyện
phải thường xuyên, liên tục, kiên trì và nhẫn nại. Biết được những yếu điểm
trong khi đọc học sinh thương mắc phải. Trước khi lên lớp trong lúc soạn bài,
tôi luôn dự tính để ngăn ngừa các lỗi mà học sinh đọc hay sai. Tôi liệt kê
những tiếng từ khó mà từng đối tượng, nhóm đối tượng học sinh hay mắc lỗi
(như trên đã nêu) để phát âm khi luyện đọc.
Tùy theo lỗi phát âm của học sinh mà tôi có thể sử dụng thủ pháp luyện
theo mẫu, phân tích cấu âm hay luyện âm đúng qua âm trung gian.
Trước khi lên lớp (tôi chú ý đến chữ đọc đúng và chữ đọc sai – đọc một
cách rõ ràng để có thể khi đọc hai chữ này học sinh dễ dàng phân biệt đọc như
thế nào là đúng và đọc như thế nào là sai).
Ví dụ: xanh ngắt ≠ ngúc ngắc; cây bàng ≠ cái bàn.
Trong phần luyện đọc đúng, tôi luôn chú trọng yêu cầu học sinh đọc
nối tiếp (đoạn văn, khổ thơ). Em nào đọc đoạn nào, khổ thơ nào tôi đều ấn
định một cách cụ thể.
Ví dụ: Em A đọc hay sai tiếng có vần iết / iếc, tôi chọn đoạn có từ đó
để yêu cầu em A đọc… nhờ vậy, tôi có điều kiện hơn trong vấn đề theo dõi
sửa lỗi đọc cho từng học sinh thuận tiện, cụ thể hơn.
bài đọc. Nhờ áp dụng những phương pháp trên mà tôi có thể kiểm tra được
tốc
độ đọc của học sinh và rèn học sinh đọc đúng tốc độ.
3.4. Luyện đọc thầm:
- Đọc thầm có ưu thế hơn đọc thành tiếng ở chỗ tốc độ đọc nhanh hơn
đọc thành tiếng từ 1,5 đến 2 lần. Nó có ưu thế hơn hẳn để thông hiểu nội dung
văn bản. Để rèn luyện kỹ năng đọc thầm tôi đã thực hiện một số biện pháp
sau:
+ Chuẩn bị cho việc đọc thầm (như việc chuẩn bị cho đọc thành tiếng).
+ Tổ chức quá trình đọc thầm (đọc bằng mắt).
- Vì đọc thầm nên tôi luôn có sự kiểm soát quá trình này bằng cách quy
định thời gian đọc thầm cho từng đoạn và bài (học sinh đọc xong, giơ tay để
giáo viên biết) nhờ đó mà tôi luôn nắm được và điều chỉnh được tốc độ đọc
thầm cho phù hợp.
- Để quản lý được học sinh chưa đọc xong cũng giơ tay bằng cách:
Giáo viên cũng đọc thầm theo và nhờ đó mà tôi luôn nắm được và điều chỉnh
được tốc độ đọc thầm của học sinh cho phù hợp cũng như biết được học sinh
nào đọc trung thành với bài văn.
3.5. Luyện đọc hiểu:
Hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn
bản đọc, kết quả đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu,
đoạn, bài tức là những gì được đọc.
Tôi áp dụng biện pháp để học sinh hiểu bài đọc bắt đầu từ việc hiểu
nghĩa từ. Việc chọn từ nào để giải nghĩa và cách giải thích thế nào cho phù
hợp, phải phụ thuộc nhiều vào đối tượng học sinh. Đồng thời, phải chuẩn bị
để có lời giải đáp cho học sinh về các từ ngoài chú giải mà các em yêu cầu.
Để giúp học sinh hiểu nghĩa từ, tôi chọn một trong các biện pháp giải
nghĩa: Giải thích bằng trực quan, giải nghĩa bằng ngữ cảnh, giải nghĩa bằng
cảnh vật giờ đây như thuộc về riêng em, của em.
Hay trong bài: “Hạt gạo làng ta” nếu học sinh không hiểu từ “hạt
vàng” trong câu: “ Em vui em hát – Hạt vàng làng ta” thì không thể hiểu nội
dung bài đọc cũng như cảm xúc chủ đạo của bài thơ – Vì đây là câu thơ quan
trọng
nhất của bài.
Ngoài ra, trong mọt số câu văn ta cần dùng biện pháp so sánh chúng
với lời nói thông thường để nhận ra tín hiệu nghệ thuật có giá trị.
Ví dụ: Để giúp học sinh phát hiện ra giá trị biểu cảm của từ “ giữ”
trong câu:
“ Bầy ong giữ hộ cho người
Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày”.
Không phải ong đã giữ hộ cho hoa không tàn phai mà chính là bằng
mật ong kết tinh vị ngọt, mùi thơm của một loài hoa, bầy ong giữ lại cho
người những mùa hoa đã tàn phai theo thời gian – Đây là điều kỳ diệu mà
không ai có thể làm được.
Ngoài ra, cũng cần hướng học sinh đến việc phát hiện ra những hình
ảnh những chi tiết tiêu biểu nhất của bài.
Kỹ năng đọc thầm còn được hình thành qua các câu hỏi tìm hiểu bài và
hệ thống bài tập đọc hiểu. Những câu hỏi và bài tập này xác định những cái
đích mà việc đọc thầm của học sinh cần hướng tới. Đó cũng là phương tiện để
học sinh đạt đến sự thông hiểu văn bản. ( Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý lứa
tuổi và vốn kiến thức đã có của mình). Các câu hỏi và bài tập có thể yêu cầu
học sinh phát hiện ra những từ mà mình không hiểu.
Ví dụ: Cách nói: Vạt áo chàm thấp thoáng
Nhuộm xanh cả nắng chiều
Và gió thổi suối reo
Ấm giữa rừng sương giá.
diệu rừng xanh”)
+ “Vàng rợi” là từ chỉ:
Màu vàng ngời sáng, rực rỡ.
Màu vàng đều khắp và rất đẹp mắt.
Cả hai ý trên.
+ Vì sao rừng khộp được gọi là “giang sơn vàng rợi”?
Trên cây khộp và dưới gốc có lá vàng như cảnh mùa thu.
Trong rừng khộp có nắng vàng rực rỡ và mấy con mang lông vàng.
Sự phối hợp của nhiều sắc vàng (ở trên) trong một không gian rộng
lớn.
Đối với mỗi tiết dạy, bao giờ tôi cũng có sự chuẩn bị chu đáo như:
Tôi luyện đọc bài nhiều lần để đọc tốt và hiểu thấu đáo nội dung bài
đọc và trả lời các câu hỏi một cách chính xác nhất. Chính các câu trả lời đó sẽ
giúp xác định mục đích yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học bài tập
đọc như:
Dự tính các lỗi đọc học sinh hay mắc (thường là những tiếng, từ khó,
những chỗ ngắt nhịp khó hay những câu văn quá dài).
Tìm hiểu giọng chung của bài như thế nào? Đoạn nào cần nhấn mạnh,
cần đọc diễn cảm, cần bộc lộ cảm xúc gì?
Bài cần được đọc trong thời gian bao lâu?
Những từ ngữ nào cần được dạy, những nội dung nào cần hướng dẫn
học sinh tìm hiểu…?
Dùng ký hiệu ghi lại ngữ điệu của bài (bằng bút chì) trên sách giáo
khoa.
Ví dụ:
Dấu “ / ” dùng khi ngắt hơi, tạo tiết tấu.
Dấu “ // ” dùng để ghi lại sự nghỉ hơi dài.
bài đọc.
Đọc diễn cảm yêu cầu giọng đọc phù hợp với từng ý của bài, phù
hợp kiểu câu, thể loại, biết nhấn giọng ở từ gữ biểu cảm, gợi tả, phân biệt lời
nhân vật, lời tác giả và thể hiện được cảm xúc của người đọc.
Để đọc diễn cảm học sinh phải làm chủ được tốc độ đọc (nhanh,
chậm hay việc dẫn nhịp đọc) làm chủ được cường độ giọng (đọc to, nhỏ, nhấn
giọng hay không), làm chủ ngữ điệu (độ cao của giọng đọc, lên giọng hay
xuống giọng) và tốc độ có ảnh hưởng đến sự diễn cảm, đặc biệt là chỗ có sự
thay đổi về mặt tốc độ gây sự chú ý, có giá trị biểu cảm.
Ví dụ: Bài: “ Những người bạn tốt”
A – ri – ôn là một nghệ sĩ nổi tiếng của nước Hy Lạp cổ. Trong
một cuộc thi ca hát ở đảo Xi – xin, ông được giải nhất với nhiều tặng vật quý
giá. Trên đường trở về kinh đô, đến giữa biển thì đoàn thủy thủ trên chiếc tàu
chở ông nổi lòng tham, cướp hết tặng vật và đòi giết A – ri – ôn.
( Theo: Lưu Anh)
Nếu ở hai câu đầu đọc giọng kể chậm rãi để giới thiệu về nghệ sĩ
tài ba A –ri – ôn thì những câu sau đó đọc nhanh dần để diễn tả đúng tình
huống nguy hiểm mà nghệ sĩ A – ri – ôn đang gặp. Có như vậy mới gây được
sự chú ý, hấp dẫn của câu chuyện đối với người nghe ở phần tiếp theo.
Ngoài ra, ngữ điệu đọc lên cao hay xuống thấp, ngữ điệu mạnh
hay yếu cũng là một trong những yếu tố thành công của việc đọc diễn cảm.
Ví vụ: Đoạn 1 của bài: “Mùa thảo quả” được đọc nhấn với ngữ
điệu mạnh ở các từ có giá trị gợi tả cao: lướt thướt, quyến, đưa, ngọt lựng,
thơm nồng. Bởi đó là những từ đặc biệt nhất, gợi cảm giác hương thảo quả lan
tỏa kéo dài trong không gian.
Rèn kỹ năng đọc diễn cảm không thể không coi trọng giữa việc
hiểu và đọc diễn cảm có quan hệ tương hỗ nhau. Có hiểu bài văn mới đọc tốt
được, nhưng đọc tốt càng hiểu thêm bài văn. Vì thế, trước khi đọc diễn cảm
+ Không được tách một từ ra làm hai:
Ví dụ: Không đọc ngắt hơi như sau:
Giữa ngút / ngàn cây trái.
Hay: Thấy lất / phất mưa phùn.
+ Không tách từ chỉ loại với danh từ mà nó đi kèm:
Ví dụ: Không đọc:
Ngôi / nhà như trẻ nhỏ.
+ Không tách động từ -hệ từ “là” với danh từ đi sau đó.
Ví dụ: Không đọc
Không gian là / nẻo đường xa.
Mặc dù đôi khi trong dòng thơ ngắt giọng theo nhịp 2/2 hoặc 3/2
đọc như thế dễ hơn, nghe nhịp nhàng hơn (do nhịp câu thơ), nhưng không
phải dòng nào cũng đọc theo nhịp chung mà có những dòng thơ khi đọc cần
lưu ý
để người nghe dễ hiểu và hiểu đúng.
Việc dựa vào nghĩa và quan hệ cú pháp sẽ giúp ta xác định cách
ngắt nhịp của các câu sau:
Biển sẽ nằm / bỡ ngỡ giữa cao nguyên
( không ngắt:
Biển sẽ nằm bỡ ngỡ / giữa cao nguyên).
Hay:
Trải qua mưa nắng / vơi đầy
Men trời đất / đủ làm say đất trời.
( không ngắt:
Trải qua mưa / nắng vơi đầy
toàn bài theo kỹ thuật đã được xác lập.
Với những bài tập đọc có lời đối thoại của các nhân vật (VD: Vở
kịch “Lòng dân” của Nguyễn Văn Xe; câu chuyện “Chuỗi ngọc lam” của
Phun-tơn O-xlơ, do Nguyễn Hiến Lê dịch…), tôi cho các em đọc phân vai.
Trong khi đọc tôi luôn hướng dẫn cho học sinh thói quen chú ý đến người
nghe và làm chủ vai đọc của mình. Đồng thời, lưu ý học sinh đọc diễn cảm là
không phải đọc sao cho điệu, thiếu tự nhiên dựa vào ý thức chủ quan của
người đọc mà nó là sự thể hiện cảm xúc của người đọc thông qua ngữ điệu.
Và để kích thích hứng thú luyện đọc của học sinh, tôi tổ chức trò chơi học tập
khi đọc diễn cảm (thường là các bài học thuộc lòng) như: Thi đọc nối tiếp
từng đoạn (theo nhóm, tổ), đọc “truyền điện”, thi tìm nhanh, đọc đúng, nhìn
một từ - đọc cả câu hoặc nhìn một câu đọc cả đoạn, nghe đoạn đọc – đoán tên
bài “Thả thơ”…
Ví dụ: Khi dạy bài: Bài ca về trái đất.
Tôi tổ chức trò chơi: Thi đọc thuộc lòng theo phiếu.
- Mục đích:
+ Trau dồi khả năng đọc thuộc tại lớp bài thơ.
+ Luyện trí nhớ (kết hợp giữa hình thức và nội dung) dựa vào
một số từ ngữ làm điểm tựa trong bài học thuộc lòng, rèn kỹ năng đọc thuộc,
đọc diễn cảm đoạn thơ, hoặc toàn bộ bài thơ.
- Chuẩn bị:
Các phiếu học thuộc lòng bằng giấy viết sẵn các từ ngữ đầu dòng
thơ làm điểm tựa, giúp học sinh nhớ và đọc thuộc từng khổ thơ hay toàn bài.
Bài ca về trái đất.
Trái đất này……
Qủa bóng xanh…
Bồ câu ơi…
Hải âu ơi…
và chỉ đóng vai trò hỗ trợ (cụ thể hóa bằng hình ảnh thị giác), không thay thế
văn bản, không minh họa được tình cảm, cảm xúc được gợi ra từ văn bản
nghệ thuật. Do vậy giáo viên cần tránh khuynh hướng khai thác tranh minh
họa qúa kỹ, dẫn đến xa rời yêu cầu của bài tập đọc.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà: Đọc bài, xem
bài, tìm hiểu bài trước…
- Hiểu rõ đặc điểm học sinh của mình, tin tưởng vào khả năng
học tập và tôn trọng ý kiến của các em.
- Nắm vững kỹ thuật dạy học, tổ chức hoạt động học tập của học
sinh một cách linh hoạt và sáng tạo.
- Có khả năng tạo ra hứng thú học tập ở mỗi học sinh và thúc đẩy
sự hợp tác học tập giữa các học sinh.
- Kiên nhẫn lắng nghe học sinh, biết cách gợi mở và nâng cao
vốn trí thức sẵn có ở mỗi em, xử lý kịp thời có tính sư phạm các thông tin
phản hồi từ học sinh.
- Có kỹ thuật đánh giá khoa học, hợp lý kết quả học tập của học
sinh.
Có được những điều trên thì chắc chắn rằng: Không chỉ phân
môn tập đọc mà tất cả các phân môn học khác đều có thể đạt kết quả tốt như
mong muốn.
* Trên đây là một vài những suy nghĩ, kinh nghiệm nhỏ nhằm
góp phần đổi mới phương pháp dạy và học phân môn tập đọc lớp 5. Chắc
chắn rằng còn những vấn đề mà trong đề tài tôi chưa đề cập đến. Kính mong
nhận được sự góp ý nhiệt tình của Hội đồng khoa học.
Tôi chân thành cảm ơn.
ĐakPơ, ngày 01 tháng 02 năm 2012
Người viết