Header Page 1 of 123.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
đinh quang hà
di dân tự do nông thôn - đô
thị
với trật tự xã hội ở Hà Nội
Chuyờn ngnh
: Xó hi hc
Mó s
: 62 31 30 01
luận án tiến sĩ xã hội học
Ngi hng dn khoa hc:
1. GS.TS nguyễn đình tấn
2. PGS.Ts phạm xuân hảo
Hà nội - 2014
LI CAM OAN
Footer Page 1 of 123.
Header Page 2 of 123.
9
9
15
28
33
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI DÂN TỰ DO NÔNG
THÔN - ĐÔ THỊ VỚI TRẬT TỰ XÃ HỘI
2.1. Một số khái niệm cơ bản trong nghiên cứu di dân tự do nông
thôn - đô thị với trật tự xã hội
2.2. Một số lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu di dân tự do nông
thôn - đô thị với trật tự xã hội
2.3. Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về di
dân, về trật tự xã hội
38
38
48
63
Chương 3: THỰC TRẠNG DI DÂN TỰ DO NÔNG THÔN - ĐÔ THỊ
VỚI TRẬT TỰ XÃ HỘI Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
3.1. Tình hình di dân tự do nông thôn - đô thị và trật tự xã hội ở Hà
Nội hiện nay
3.2. Thực trạng di dân tự do nông thôn - đô thị với trật tự xã hội ở
Hà Nội hiện nay
3.3. Yếu tố tác động di dân tự do nông thôn - đô thị với trật tự xã hội
161
Header Page 4 of 123.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Footer Page 4 of 123.
ANQG
An ninh quốc gia
DDTD
Di dân tự do
QLHC
Quản lý hành chính
TTATGT
Trật tự an toàn giao thông
TTATXH
Trật tự an toàn xã hội
TTCC
Thành phố Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2013
92
Bảng 3.5: Những hành vi thường bị dụ dỗ, lôi kéo của người di dân
tự do trong thời gian làm ăn, sinh sống tại Hà Nội
93
Bảng 3.6: Hành vi phạm tội, vi phạm tệ nạn xã hội của người di dân
tự do nông thôn - đô thị trong thời gian sinh sống, làm ăn
ở Hà Nội
94
Bảng 3.7: Quãng thời gian di dân ra Hà Nội của di dân tự do nông
thôn - đô thị
100
Bảng 3.8: Mức độ vi phạm quy định giao thông đô thị tính theo
quãng thời gian tính từ khi bắt đầu ra Hà Nội làm ăn sinh
sống của di dân tự do nông thôn - đô thị
101
Bảng 3.9: Hình thức phạm tội, vi phạm tệ nạn xã hội của di dân tự
do nông thôn - đô thị theo việc làm
Footer Page 5 of 123.
Footer Page 6 of 123.
84
97
102
103
107
110
111
112
114
116
Header Page 7 of 123.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Di dân là một hiện tượng xã hội phổ biến, mang tính quốc gia và quốc
tế. Di dân diễn ra trong phạm vi không gian, thời gian với hình thái cụ thể
khác nhau. Có di dân nội vùng, nội địa, có di dân quốc tế; di dân tự do và
di dân có tổ chức, có kế hoạch. Trong các dòng di dân đó có di dân tự do
nông thôn - đô thị.
Trong những năm gần đây, cũng như một số thành phố khác trên đất
nước ta, thành phố Hà Nội là một trong những địa phương có số lượng người
di dân tự do đến tìm kiếm việc làm, sinh sống nhiều nhất. Theo kết quả Tổng
điều tra dân số, trong 10 năm (1999-2009), dân số Hà Nội tăng bình quân
hàng năm 2,11%, cao hơn mức tăng trung bình của cả nước (1,2%). Trong 5
quản lý dân di cư tự do từ nông thôn đến khu vực nội thành còn nhiều bất cập;
tình hình vi phạm trật tự xã hội trong người di cư tự do từ nông thôn đến
khu vực nội thành còn có những diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, cần có
những lời giải thỏa đáng.
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội đô thị trước xu hướng
gia tăng di dân tự do nông thôn - đô thị cần phải triển khai nghiên cứu để
trả lời các câu hỏi: Hiện trạng di dân tự do nông thôn - đô thị diễn ra trên
địa bàn thành phố Hà Nội như thế nào? Di dân tự do nông thôn - đô thị tác
động đến trật tự xã hội ở Hà Nội như thế nào (mức độ, quy mô, tính chất?
Loại hình (hình thái) di dân tự do nông thôn - đô thị nào tác động nhiều,
mạnh đến trật tự xã hội ở thành phố Hà Nội hiện nay? Nhóm nhân khẩu
dân di cư tự do nông thôn - đô thị nào ảnh hưởng nhiều, mạnh đến trật tự
xã hội ở thành phố Hà Nội hiện nay?
Từ những câu hỏi nêu trên, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài: “Di
dân tự do nông thôn - đô thị với trật tự xã hội ở Hà Nội”. Vấn đề nghiên cứu
là một trong những nội dung nghiên cứu của xã hội học, nhất là chuyên ngành
xã hội học đô thị, xã hội học quản lý. Với lý thuyết, cách tiếp cận và phương
pháp xã hội học cho phép tìm được các dữ liệu khoa học - thực tiễn để trả lời
các câu hỏi trên. Trên thực tế, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu sâu,
hệ thống về di dân tự do nông thôn - đô thị với trật tự xã hội ở Hà Nội.
Footer Page 8 of 123.
Header Page 9 of 123.
3
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn di dân tự do nông thôn - đô thị
4
- Phạm vi về không gian nghiên cứu. Các quận nội thành (nơi dân di cư
tự do đến): Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa.
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2001 đến 2012; thời điểm
khảo sát thực tiễn: năm 2013.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận, phương pháp luận
- Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử trong phân tích di dân tự do nông thôn - đô thị với trật tự xã
hội ở đô thị. Di dân tự do nông thôn - đô thị và trật tự xã hội ở đô thị là hiện
thực xã hội, thuộc về tồn tại xã hội. Hoạt động quản lý xã hội đô thị thuộc về
kiến trúc thượng tầng. Quản lý xã hội đô thị chỉ hiệu quả nếu đánh giá đúng
hiện thực di dân tự do nông thôn - đô thị và những hành vi vi phạm trật tự xã
hội đô thị của nhóm xã hội di dân tự do nông thôn - đô thị.
- Luận án quán triệt, vận dụng quan điểm, chính sách và pháp luật của
Đảng, Nhà nước ta về di cư, trật tự xã hội, an sinh xã hội để phân tích di dân
tự do nông thôn - đô thị với trật tự xã hội ở đô thị.
- Luận án ứng dụng lý thuyết xã hội học về sai lệch xã hội và mạng lưới
xã hội, lý thuyết về di dân trong nghiên cứu về di dân tự do nông thôn - đô thị
với trật tự xã hội ở đô thị. Các lý thuyết cụ thể:
Lý thuyết về sai lệch chuẩn mực xã hội. Vận dụng lý thuyết về sai lệch
chuẩn mực xã hội để phân tích hiện tượng vi phạm trật tự xã hội của người
dân di cư tự do từ khu vực nông thôn đến khu vực nội thành Hà Nội hiện nay.
Lý thuyết hút - đẩy của Everetts Lee (1966). Vận dụng lý thuyết hút - đẩy
để nhận diện các yếu tố tác động di dân tự do từ nông thôn đến khu vực nội
thành Hà Nội; trên cơ sở đó tìm hiểu, phân tích di dân tự do nông thôn - đô thị
với trật tự xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
Lý thuyết về mạng lưới xã hội. Vận dụng lý thuyết mạng lưới xã hội để
phân tích hiện tượng di dân tự do nông thôn - đô thị; phân tích hiện trạng di
đông người di dân tự do tạm trú giới thiệu để làm điểm khởi đầu điều tra. Sau
đó, từ sự giới thiệu của những người điều tra ban đầu tiến hành gặp và điều tra
đủ theo số lượng dự định điều tra. Cụ thể:
+ Điều tra ở quận Hoàn Kiếm 120 người; quận Ba Đình 80 người; quận
Đống Đa 100 người; quận Hai Bà Trưng 100 người.
+ Số lượng phiếu được xử lý 376 (24 phiếu không chứa đủ thông tin,
không được xử lý).
Footer Page 11 of 123.
Header Page 12 of 123.
6
- Cơ cấu mẫu điều tra:
+ Về giới tính: Nam 181 người, chiếm 48,13%, nữ 195 người, chiếm 51,86%.
+ Về độ tuổi: Dưới 25 tuổi 30 người, chiếm 8,0%; 26 tuổi đến 30 tuổi
236 người, chiếm 62,8%; từ 31 tuổi đến 35 tuổi 83 người, chiếm 22,1%; từ 36
tuổi đến 40 tuổi 23 người chiếm 6,1%; từ 41tuổi đến 45 tuổi 2 người chiếm
0,5%; trên 45tuổi 2 người, chiếm 0,5%.
+ Về trình độ học vấn: Tiều học 116 người, chiếm 30,85%; trung học cơ
sở 114 người, chiếm 30,31%; trung học phổ thông 80 người, chiếm 21,27%;
trung cấp 57 người, chiếm 15,15%; cao đẳng, đại học 9 người chiếm 2,39.
+ Về việc làm khi ra Hà Nội làm ăn, sinh sống: Không có việc cố định
97 người, chiếm 25,79%; xe ôm 75 người, chiếm 19,94%; thợ xây dựng 42
người, chiếm 11,17%; bán hàng rong 37 người, chiếm 9,84%; bốc vác 36
người, chiếm 9,57%; giúp việc 33 người, chiếm 8,8%; thu gom phế thải 22
người, chiếm 5,9%; tham gia chợ lao động 34 người chiếm 9,04%.
+ Quãng thời gian di dân tự do ra Hà Nội làm ăn sinh sống: dưới 1 năm
27 người, chiếm 7,2%; 1-5 năm 222 người, chiếm 59,0%; 10 năm 60 người,
Biến phụ thuộc: Đăng ký nhân khẩu, hộ khẩu; Trật tự, an toàn giao thông
đô thị; Tội phạm và tệ nạn xã hội của dân di cư tự do nông thôn - đô thị.
Biến can thiệp: Điều kiện kinh tế - xã hội địa phương xuất cư và nhập
cư; Quan điểm, chính sách, quy định về di dân, quản lý di dân tự do của
Đảng, Nhà nước, thành phố Hà Nội.
5.3. Khung phân tích
Điều kiện kinh tế - xã hội địa phương xuất, nhập cư
Hình thái
di dân tự do
Đăng ký nhân
khẩu, hộ khẩu
Giới tính, độ tuổi,
học vấn người di
dân tự do
Việc làmcủa người
di dân tự do
Di dân tự
do nông
thôn - đô thị
Trật tự, an
toàn giao thông
Tội phạm, tệ nạn
xã hội
Footer Page 14 of 123.
Header Page 15 of 123.
9
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DI DÂN, DI DÂN TỰ DO
NÔNG THÔN - ĐÔ THỊ VỚI LĨNH VỰC TRẬT TỰ XÃ HỘI
1.1. NGHIÊN CỨU VỀ DI DÂN TRÊN THẾ GIỚI
Trong lịch sử, nước Mỹ là một quốc gia của nhiều người nhập cư. Vì thế,
những nghiên cứu di dân sớm nhất phải kể đến các tác giả người Mỹ, đặc biệt
là các nhà địa lý. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, ở nước Mỹ đã có nhiều công trình đề
cập đến vấn đề di dân và nghiên cứu về di dân. Đó là những nghiên cứu về di
dân quốc tế, nghiên cứu hiện tượng di dân từ các quốc gia trên thế giới đến định
cư tại nước Mỹ. Thời kỳ này, các tác giả thường dừng lại ở việc phân tích tác
động của di dân tới nền kinh tế của nước Mỹ, với hai quan điểm ủng hộ hoặc
phản đối. Các xuất bản phẩm về vấn đề này thường dưới dạng các bài báo, chưa
có công trình nghiên cứu tổng hợp, chuyên sâu về di dân. Ví dụ: “Nước Mỹ nên
vui mừng với hiện tượng nhập cư”, năm 1845 của Thomas L.Nichols; “Mỹ nên
giảm bớt nhập cư”, năm 1849 của Garrtt Davit [75, tr.385-389].
Vào thập kỷ 60 đến thập kỷ 80 thế kỷ XX, nghiên cứu về di dân thực sự
phát triển ở nước Mỹ. Các tác giả đều là những nhà khoa học, những giáo sư,
nhà nghiên cứu ở các trường đại học, viện nghiên cứu địa lý, viện nghiên cứu
kinh tế; một số người trong số đó: Norris Robert Eart, Corugean, C.Curtis
Roseman, U.A.V. Clark, E.C. Moore,…. Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, các
nhà khoa học đưa ra lý thuyết có giá trị trong nghiên cứu về di dân. Các nghiên
cứu đó tập trung vào các vấn đề: Phân loại di dân (tác giả: Norris Robert Eart,
Xô,… trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, dân số,… Đặc điểm của
những nghiên cứu về di dân ở thời kỳ này là, mỗi nhà khoa học tập trung
nghiên cứu chuyên sâu đối với mỗi loại hình di dân.
Cùng với hiện tượng đô thị hóa trong các nước phát triển, di dân nông
thôn - đô thị trở thành một hiện tượng xã hội nổi trội, các nghiên cứu về di
dân nông thôn - đô thị trở thành một xu hướng. Các nghiên cứu này không chỉ
phát triển ở nước Mỹ và châu Âu mà còn phát triển ở châu Á, châu Phi, châu
Mỹ la tinh. Nền tảng của những nghiên cứu về di dân nông thôn - đô thị là
những ý tưởng của E.G.Ravenstein [Trích theo 6]. Đồng thời, từ nghiên cứu
thực nghiệm, lý thuyết và phương pháp luận nghiên cứu di dân nông thôn - đô
thị được bổ sung, phát triển, hoàn thiện.
Footer Page 16 of 123.
Header Page 17 of 123.
11
Một số nước châu Á như: Nhật Bản, Thái Lan, Philippin, Inđônêxia,
Malayxia, Hàn Quốc, Trung Quốc, tình trạng đô thị hóa diễn ra mạnh, vì thế
đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về di dân nông thôn - đô thị. Về
mặt lý thuyết và phương pháp luận, các nghiên cứu này vẫn chủ yếu dựa vào
mô hình lý thuyết và phương pháp luận của một số học giả phương Tây. Song
do điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc điểm tự nhiên cùng đặc
điểm về con người, cộng đồng người khác nhau nên các nghiên cứu này có
những bổ sung, cụ thể hóa lý thuyết và phương pháp luận trong nghiên cứu về
di dân nông thôn - đô thị.
Trong một vài thập kỷ gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về di
dân nông thôn - đô thị ở các nước thứ ba được triển khai dưới sự giúp đỡ
trong khuôn khổ các dự án nghiên cứu do tài trợ của một số nước và một số tổ
cư; hiện nay, có khoảng 20 triệu người nhập cư hợp pháp, khoảng 2 triệu
người nhập cư trái phép vào các nước Tây Âu. Về di dân trong nước, cuốn
sách chỉ ra rằng, di dân sẽ tạo ra “sự ngoại ô hóa” và “cuộc sống nông thôn
bật dậy”. Sách chỉ rõ: giai đoạn 1980-1990, ở nước Mỹ, các hạt ngoại ô đã
tăng trưởng về dân số lên đến 14% trong khi tổng dân số Mỹ chỉ tăng 10% và
tỷ lệ dân số sống ở các trung tâm thành phố vẫn bất biến, khoảng 1/3 dân số
kể từ năm 1950. Đồng thời, sách cũng chỉ ra khuynh hướng trở về nông thôn,
tạo ra hiện tượng“cuộc sống nông thôn bật dậy”. Người dân trở về nông thôn
vì lo ngại về chất lượng sống ở các khu đô thị và các vùng ngoại ô. Với những
bằng chứng, sách đã cho thấy hai khuynh hướng: khi mà cư dân nông thôn đổ
xô về thành phố sinh sống sẽ tạo ra vùng “đệm ngoại ô”; ngược lại, khi mà ở
đô thị không bảo đảm cuộc sống an toàn về các phương diện, thì người dân di
cư lại trở về nông thôn, làm bật dậy đời sống khu vực nông thôn. “Sự ngoại ô
hóa” và “cuộc sống nông thôn bật dậy” là hai khái niệm, phản ánh hai hiện
tượng của di dân nông thôn - đô thị cần tham khảo trong nghiên cứu về di dân.
Một hướng nghiên cứu về di dân đáng lưu ý, đó là nghiên cứu về mối
quan hệ giữa di dân với bình đẳng tộc người. Các sách: Xã hội học của John
& Macionis [67]; Xã hội học của Richard T. Schaefeer [75]; Những bài giảng
về xã hội học [119], trong phần nghiên cứu về chủng tộc và dân tộc đều có
mục về di dân, nhìn bình đẳng tộc người từ góc độ di dân. Sách: Xã hội học
của Richard T. Schaefeer [75], nghiên cứu về các nhóm thiểu số; thành kiến
Footer Page 18 of 123.
Header Page 19 of 123.
13
và sự kỳ thị; các cấu trúc và quan hệ liên nhóm; chủng tộc và sắc tộc tại Mỹ.
Từ đó đưa ra một số luận điểm: kiến trúc xã hội bằng chủng tộc; thành kiến và
Header Page 20 of 123.
14
trọng “tạo lực đẩy” dân nông thôn ra khu vực đô thị sinh sống. 1954, Lewin
cho rằng, sự khác biệt về cơ hội việc làm và mức thu nhập giữa nông thôn và
thành thị đã khuyến khích di dân từ nông thôn ra đô thị. 1966, Evenretts Lee
đã xây dựng lý thuyết “hút - đẩy” trên cơ sở tổng kết quy luật di dân. Về cơ
bản, các lý thuyết về di dân, nhất là lý thuyết “hút - đẩy” được ứng dụng phổ
biến trên thế giới trong các nghiên cứu về di dân hiện nay.
Thứ hai: Nghiên cứu về di dân trên thế giới ở thế kỷ XIX, XX đã đặt nền
móng cho sự hình thành và phát triển chuyên ngành xã hội học nghiên cứu về
di dân. Các nghiên cứu về di dân thường được đặt trong mối quan hệ với tôn
giáo, tộc người, quan hệ giữa dân chính cư và dân nhập cư, dưới cái nhìn
công bằng, bình đẳng, phân tầng xã hội. Nghiên cứu về di dân được mặc định
về nội dung cho những nghiên cứu về phân tầng xã hội, bình đẳng xã hội,
hướng mạnh vào nghiên cứu di dân trong sự liên hệ với sự ổn định và phát
triển xã hội.
Các nghiên cứu về di dân được đặt trong mối quan hệ giữa các quốc gia
dân tộc, vùng lãnh thổ; được lồng ghép vào vấn đề chính trị, trong mối quan
hệ giữa các quốc gia dân tộc và trong các quan hệ quốc tế, chủ yếu những
nước phát triển và chậm phát triển, những nước nghèo. Sâu hơn, đó là vấn đề
độc lập, chủ quyền và quyền tự quyết dân tộc của các quốc gia dân tộc có chủ
quyền trong nhìn nhận và giải quyết vấn đề di dân.
Cùng với mô tả về di dân, các nghiên cứu về di dân hướng mạnh vào làm
rõ các vấn đề xã hội, hiện tượng xã hội, quá trình xã hội của di dân. Xã hội
học về di dân đặt vấn đề di dân với sự ổn định và phát triển xã hội.
Các nghiên cứu về di dân không dừng lại ở việc mô tả, giải thích mà đều
hướng tới công tác quản lý xã hội, khuyến nghị các giải pháp quản lý xã hội
về di dân, góp phần ổn định và phát triển xã hội.
Thứ ba: Các công trình nghiên cứu đã xác lập phương pháp chủ yếu
Anh, Hoàng Văn Chức, Trần Hữu Quang, Nghiêm Xuân Đạt, Đồng Bá
Hướng, Lê Bạch Dương, Thân Văn Liên, Lê Đăng Giang, v.v… đã có các
công trình nghiên cứu, bài luận khoa học về di dân, tác động của di dân đến
các vấn đề thuộc về an sinh xã hội, kiến nghị thiết lập các chính sách để quản
lý quá trình di dân. Một số công trình nghiên cứu trong số đó:
Đề tài Di dân theo mùa vụ nông thôn - đô thị và các giải pháp do Lê
Đăng Giảng chủ nhiệm [36] đã làm rõ: di dân theo mùa vụ gần sát nghĩa với
Footer Page 21 of 123.
Header Page 22 of 123.
16
di dân “con lắc” và di dân tạm thời; di dân theo mùa vụ diễn ra vào thời kỳ
nông dân không “bận việc”, những ngày người nông dân “không có việc
làm”, thời điểm “nông nhàn”; nguyên nhân chủ yếu của di dân theo mùa vụ là
tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập, bảo đảm cuộc sống. Đề tài có những nghiên
cứu sâu về hiện trạng di dân theo mùa vụ vào thành phố, chỉ ra mặt tích cực,
tiêu cực và kiến nghị các giải pháp hạn chế, quản lý di cư theo mùa vụ nông
thôn - đô thị. Về các tác động tiêu cực, đề tài chỉ ra, di dân theo mùa vụ nông
thôn - đô thị gây ra sự lộn xộn về trật tự xã hội, gây ách tắc giao thông,… “tạo
sức ép về mặt xã hội, an ninh của thành phố”. Với một vài số liệu, đề tài đã
cho thấy mức độ, loại hình tệ nạn xã hội, tội phạm của những người nông dân
vào thành phố, lang thang kiếm sống. Đề tài đưa ra dẫn chứng, phân tích 4958
người lang thang thu gom được trong các năm ở Hà Nội trong các năm 1989,
1990, 1991, cho con số: trộm cắp 357 người, mại dâm 435 người, lừa đảo 190
người, buôn bán vé, chèo kéo khách đi ô tô 49 người,... Con số đó cho thấy,
mại dâm và trộm cắp là hai hiện tượng nổi trội trong nhóm người từ nông
thôn vào thành phố Hà Nội kiếm sống. Số liệu và một vài nhận định về tác
kinh tế Đông Bắc; khu vực 3, Tây Nguyên; khu vực 4, Thành phố Hồ Chí
Minh; khu vực 5, khu công nghiệp Đông Nam bộ. Mẫu của cuộc điều tra gồm
10.000 cuộc phỏng vấn, gồm 5.000 phỏng vấn người di cư và 5.000 phỏng
vấn người không di cư, được chia đều cho các khu vực.
Mục đích của cuộc điều tra là góp phần hiểu biết về các lĩnh vực: Quá
trình di cư; các yếu tố kinh tế - xã hội, nhân khẩu học và các yếu tố thuận lợi
đối với di cư; kết quả di chuyển đối với người di cư và gia đình; so sánh tình
trạng người di cư và không di cư tại nơi chuyển đến. Thông tin thu được từ
cuộc điều tra cũng sẽ giúp đưa ra các khuyến nghị về chính sách phát triển
nông thôn để giảm bớt xuất cư, về kế hoạch phát triển vùng có thể ảnh hưởng
đến quá trình di cư, và về việc làm thế nào để cải thiện điều kiện sống của
người di cư ở nơi đến.
Kết quả điều tra cho thấy, người di cư có độ tuổi trẻ, khoảng 60% người
di cư là nam, 66% người di cư là nữ trong độ tuổi từ 15-29; hầu hết người di
cư không có nhà ở phải đi thuê và đăng ký hộ khẩu tạm trú (ở khu vực Hà Nội
chủ yếu KT3 và không đăng ký tạm trú); người di cư đến Hà Nội và khu công
nghiệp Đông Bắc chủ yếu đến từ các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, người
Footer Page 23 of 123.
Header Page 24 of 123.
18
di cư đến thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nguyên không thuộc vùng
nào nổi trội; nhân tố chủ yếu thúc đẩy di cư là kinh tế, tìm kiếm việc làm;
nhìn chung, người di cư gặp những bất lợi về chăm sóc sức khỏe, an sinh xã
hội. Những số liệu, nhận định trong “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004” do
Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên Hợp quốc thực hiện là tài liệu tham
khảo tốt trong quá trình thực hiện luận án. Nhận định: người di cư đến Hà Nội
với 200.000 dân trở lên. Trong thập niên qua, tỷ lệ dân số đô thị tăng từ
23,7% năm 1999 lên 29,6% năm 2009 (10 năm tăng 5,9%). Điều đó có nghĩa
là dân cư đô thị chiếm 25,4 triệu người trong tổng số 85,8 triệu dân toàn quốc,
thời điểm năm 2009. Điều đó cho thấy, công nghiệp hóa là yếu tố thúc đẩy
nhanh quá trình đô thị hóa.
Sách Di dân trong nước: Vận hội và thách thức đối với công cuộc đổi
mới và phát triển ở Việt Nam của Đặng Nguyên Anh [4] đã phân tích khá rõ
các vấn đề: xu hướng và đặc điểm của di dân; những vấn đề nổi bật của di dân
trong nước; khuyến nghị các chính sách. Trong công trình này, tác giả đã làm
rõ các khái niệm trong nghiên cứu về di dân; chỉ ra 3 hướng di dân chủ yếu ở
trong nước vào những năm 90 thế kỷ XX và đưa ra nhận định: “Các thành
phố lớn đã trở thành tâm điểm đến đầu tiên của các luồng di dân”, di cư đến
thành phố là “muốn tìm cơ hội cuộc sống tốt đẹp hơn”, “là một chiến lược
sinh kế cho đại đa số gia đình ở nông thôn”. Về hệ quả của di dân nông thôn đô thị, sách đã chỉ ra rằng: lao động di cư là đối tượng ít được bảo vệ; tiếp cận
y tế và xã hội là vấn đề bức xúc nhất đối với người di cư; người di cư là nữ
giới chịu nhiều thiệt thòi, dễ bị xâm hại tình dục và bạo lực. Từ đó sách kiến
nghị một số giải pháp, trong đó có giải pháp quản lý người di cư nông thôn đô thị, để giúp họ có cuộc sống ổn định và giảm bớt những vấn đề xã hội
phức tạp ở đô thị mà di dân là tác nhân chủ yếu.
Trong cuốn sách: “Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi”, Đặng Nguyên Anh [6] đã tập trung làm rõ: quan
niệm về di dân, thực trạng di dân ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây
Nguyên, hiệu quả các chính sách di dân đối với cộng đồng và phát triển kinh
tế - xã hội ở miền núi, đưa ra kiến nghị đổi mới chính sách di dân ở miền núi
Việt Nam. Cuốn sách đã cho biết khá tường tận về một không gian diễn ra di
dân ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên và hiện trạng di dân trong
đồng bào dân tộc thiểu số.
Footer Page 25 of 123.