ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài:
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA
NGAY TÌNH KHI CHỦ SỞ HỮU KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN
Giáo viên hướng dẫn
: Lê Thị Thu Hằng
Sinh viên thực hiện
: Võ Thị Thanh Thảo
Lớp
: 39K19
Đà nẵng, tháng 11 năm 2015
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
MỤC LỤC
...............................................................................................................................................................1
Giáo viên hướng dẫn : Lê Thị Thu Hằng.................................................................................................1
Trang 2
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng đây là đề án môn học của em. Các nội dung nghiên cứu và
kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công
trình nghiên cứu nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc
phân tích, nhận xét, đánh giá được chính em thu thập từ các nguồn khác nhau có chỉ ra
trong phân tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá
cũng như số liệu của một số tác giả, cơ quan tổ chức khác và cũng được thể hiện trong
phần tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu
sự xử lý theo quy chế của Đại học Đà Nẵng và quy chế của Trường đại học Kinh tế Đà
Nẵng.
Ký tên
Võ Thị Thanh Thảo
SVTH: Võ Thị Thanh Thảo
Trang 3
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
A – PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện mục tiêu đi lên Chủ nghĩa xã
hội, nâng cao đời sống của nhân dân, công bằng cho xã hội. Để phát triển kinh tế gắn
với công bằng xã hội và hơn nữa việc Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế
giới (WTO) và gần đây nhất Việt Nam cũng đã trở thành thành viên của TPP chứng tỏ
Việt Nam đang từng bước gia nhập với nền kinh tế toàn cầu. Vì vậy, việc thực hiện
các giao dịch trên tất cả các mặt đặc biệt giao dịch dân sự là một phần không thể thiếu
trong nền kinh tế của nước ta.
Nhưng thực tế hiện nay, về giao dịch của các bên thực hiện trong giao dịch dân sự
còn rất nhiều vấn đề cần phải tìm ra cách giải quyết hợp lý. Để bảo vệ quyền lợi cho
các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật. Từ đó tạo được lòng tin và sự an
tâm cho các bên tham gia giao dịch. Các tranh chấp về hợp đồng dân sự hay quyền lợi
của các bên trong giao dịch và đặc biệt là quyền lợi của người thứ ba tham gia vào các
quan hệ pháp luật này. Họ rất thiện chí và ngay tình nhưng khi có tranh chấp xảy ra thì
họ luôn là bên chịu thiệt hại nhiều nhất. Trên thực tế những giao dịch được thực hiện
với người thứ ba rất nhiều.
Vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự là
việc mà các nhà làm luật cần phải chú ý và hoàn thiện các quy định pháp luật để đưa
kinh tế nước ta vươn ra biển lớn mà không phải gặp những trục trặc về vấn đề pháp lý.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba
ngay tình khi bị chủ sở hữu kiện đòi tài sản để hiểu rõ hơn.
Đưa ra một số thực trạng và thông qua đó đánh giá hiệu quả của các quy định
-
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về bảo vệ quyền lợi của người thứ
ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản.
-
Chương 3: Kiến nghị phương hướng, giải pháp hoàn thiện những quy định của
pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện
đòi lại tài sản.
SVTH: Võ Thị Thanh Thảo
Trang 6
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
B – PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA
NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI CHỦ SỞ HỮU KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN
1.1. Quyền chiếm hữu tài sản.
Theo điều 182, Bộ luật dân sự 2005: Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý
tài sản. Đây là quyền năng của chủ sở hữu tài sản, được tự mình nắm giữ, quản lý tài
sản thuộc sở hữu của mình. Hơn nữa, quyền chiếm hữu còn là quyền kiểm soát, làm
chủ và chi phối tài sản đó theo ý định của mình mà không bị hạn chế hay gián đoạn về
thời gian (điều 184). Ví dụ trong trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, thất lạc, chôn
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
từ thời điểm phát hiện đến thời điểm trả lại cho chủ sở hữu hoặc đến thời điểm giao
nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
4. Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù
hợp với các điều kiện do pháp luật quy định. Theo điều 188, BLDS 2005, những chủ
thể này được chiếm hữu tài sản đó từ thời điểm được phát hiện đến thời điểm trả lại
cho chủ sở hữu.
5. Các trường hợp khác do pháp luật quy định như: chiếm hữu dựa trên quyết
định của cơ quan nhà nước thẩm quyền hoặc do pháp luật quy định có quyền đương
nhiên chiếm hữu vật. Ví dụ: các cơ quan công an, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân
dân, theo chức năng và thẩm quyền có quyền thu giữ và chiếm hữu tang vật trong quá
trình điều tra, truy tố, xét xử.
1.1.2. Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật.
Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu không phù hợp với quy
định tại điều 183 – BLDS 2005. Cụ thể là những trường hợp mà người chiếm hữu một
tài sản không phải là chủ sở hữu hoặc không chiếm hữu theo những căn cứ do Bộ luật
dân sự đã quy định. Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật có hai trường hợp xãy ra:
chiếm hữu không có pháp luật nhưng ngay tình và chiếm hữu không có căn cứ pháp
luật không ngay tình.
1.1.3. Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình.
Theo ý 2, điều 189, BLDS, người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật
nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết hoặc không thể biết việc chiếm
hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.
Vì pháp luật không bắt buộc người chiếm hữu phải biết về tính bất hợp pháp
trong việc chiếm hữu tài sản của mình nên khi thực hiện giao dịch hoặc nhận được tài
sản thì người chiếm hữu không đặt trách nhiệm trong việc tìm ra ai là người có quyền
sở hữu tài sản.
Theo điều 256, BLDS 2005, quyền đòi lại tài sản chính là việc chủ sở hữu yêu cầu
người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lời về tài sản không có căn cứ
pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của
mình trả lại tài sản.
- Không phải lúc nào chủ sở hữu cũng có quyền đòi lại tài sản, theo điều này thì
chủ sở hữu không được đòi lại tài sản trong các trường hợp được quy định tài điều
247, BLDS năm 2005. Đó là trường hợp người chiếm hữu, người được lợi về tài sản
không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai, trong thời hạn mười
năm đối với động sản và ba mươi năm đối với bất động sản thì khi đó họ trở thành chủ
sở hữu đối với tài sản đó trừ tài sản thuộc quyền chiếm hữu của nhà nước. Và trường
hợp đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình được quy định tài điều 257 và 258 Bộ
luật dân sự năm 2005.
- Kiện đòi tài sản là một trong các phương thức để bảo vệ quyền của chủ sở hữu
tài sản. Bảo đảm tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Tôn trọng quyền lợi của
chủ sở hữu. Tạo được niềm tin cho các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật
dân sự.
- Theo quy định tại các điều 259, 260, của Bộ luật dân sự, ngoài việc kiện đòi tài
sản thì chủ sở hữu vẫn có thể áp dụng hai phương thức khác là kiện yêu cầu chấm dứt
hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu
(điều 259) và kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (điều 260). Nhưng phương thức kiện
đòi lại tài sản vẫn là phương thức được đa số chủ thể áp dụng, vì đây là phương thức
SVTH: Võ Thị Thanh Thảo
Trang 9
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
động sản bị chiếm đoạt trái pháp luật như bị trộm cắp, cướp giật, lừa đảo và những
động sản của chủ sở hữu mà người khác có được từ việc vô tình nhặt được, chủ sở
hữu để quên... nhưng không thông báo để chủ sở hữu biết về tài sản hoặc không báo
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền như luật định. Vì vậy chủ sở hữu được đòi lại tài
SVTH: Võ Thị Thanh Thảo
Trang 10
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
sản trong trường hợp này là chính đáng do người đang chiếm hữu tài sản đã có động
cơ bất hợp pháp để chếm hữu tài sản.
• Theo điều 258, BLDS 2005, đây là trường hợp chủ sở hữu được đòi lại động
sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản. Nhưng trừ trường hợp người thứ ba
chiếm hữu ngay tình có được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với
người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu
tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định
bị hủy, sửa. Điều này thể hiện nội dung: chủ tài sản có quyền đòi lại tài sản có đăng ký
quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. Có nghĩa là tài sản đã được chủ đăng ký
quyền sở hữu thì dù cho người thứ ba chiếm giữ có căn cứ pháp luật cũng vẫn phải trả
lại tài sản cho chủ sở hữu. Vì tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì khi chuyển giao có
người khác cần phải làm thủ tục sang tên, đổi chủ tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Vì thế nếu chủ sở hữu không chuyển quyền sở hữu thì người ngay tình không
thể có quyền sở hữu đối với tài sản mình đang chiếm hữu.
1.4. Quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản.
Song song với việc các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu
hữu đối với tài sản. Những người sở hữu tài sản trong trường hợp này hoàn toàn hợp
pháp và không có lỗi. Thực chất khi họ thực hiện giao dịch thì họ biết được tài sản đã
có căn cứ và hơn nữa khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã quyết định trao quyền
sở hữu cho người thứ ba ngay tình thì quyền sở hữu của họ được đảm bảo dù cho
quyết định, bản án có bị sửa đổi.
- Quyền lợi của người thứ ba ngay tình còn được bảo vệ trong điều 247, BLDS
2005, cụ thể: nếu người chiếm hữu ngay tình tài sản được xác lập theo thời hiệu thì
chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản. Quyền lợi của người thứ ba ngay tình vẫn
sẽ được bảo vệ.
SVTH: Võ Thị Thanh Thảo
Trang 12
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI CHỦ SỞ
HỮU KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN.
2.1. Những bất trong các quy định pháp lý về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba
ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản.
-
Điều 258, BLDS năm 2005 quy định: ”Chủ sở hữu được đòi lại bất động sản
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
- Hội đồng quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình
chỉ giải quyết vụ án, nếu các vụ án đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại
Điều 192 của BLTTDS 2004.
- Hội đồng tái thẩm có quyền: Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
để xét sử sơ thẩm lại; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải
quyết vụ án (Điều 309).
- HĐXX phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu tòa án cấp
sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp:
1. Việc chứng minh và chứng cứ đã thực hiện chưa đầy đủ và không đúng theo
quy định tại chương VII của BLTTDS 2004;
2. Việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm
nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ (Điều 276).
- Theo quy định như vậy của điều luật thì người đọc sẽ hiểu như thế nào về
“quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ở đây là cơ quan nhà nước cụ thể nào có trách nhiệm trong trường hợp này và thẩm
quyền của họ là gì?
Vậy có thể hiểu theo cách tất cả quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
liên quan đến việc xác định ai là chủ sở hữu tài sản đều được xác định là đối tượng tại
điều luật này. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước thì rất
nhiều nếu không quy định rõ ràng sẽ trở thành vấn đề rắc rối trong việc giải quyết các
vụ án về tranh chấp quyền sở hữu và đòi lại tài sản từ người thứ ba chiếm hữu ngay
tình. Và hơn nữa nếu trong trường hợp cả hai cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền
cũng ra một quyết định vậy thì phải áp dụng quyết định của cơ quan nào? Ở đây sẽ
không có căn cứ cụ thể để áp dụng. Nếu trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cao hơn ra quyết định công nhận quyền sở hữu tài sản của chủ thể này nhưng cơ quan
hiệu được quy định tài điều 247, BLDS 2005.
“1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng
ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm
đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm
hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ
pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng
không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó.”
- Theo quy định tại điều luật 247, BLDS 2005 thì người chiếm hữu tài sản không
có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình được quyền xác lập sở hữu đối với một tài sản khi
đáp ứng được những điều kiện nhất định theo khoản 1 điều này. Khi quyền sở hữu của
người chiếm hữu được xác lập thì cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt quyền sở hữu
đối với người có tài sản bị chiếm hữu.
- Nhưng trên thực tế quy định này còn có nhiều vấn đề. Nếu thời hiệu để người
chếm hữu ngay tình được xác lập quyền sở hữu là 10 năm đối với động sản và 30 năm
đối với bất động sản mà không quy định gì thêm thì đã thật sự hợp lý và có hiệu quả?
- Có rất nhiều câu hỏi đặt ra cho vấn đề này. Thứ nhất nếu trường hợp tài sản là
bất động sản mà một người đã xác lập quyền sở hữu nhưng họ không có lý do để dùng
SVTH: Võ Thị Thanh Thảo
Trang 15
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
đến tài sản, không ở tại nơi có tài sản đó trong thời gian dài vượt khỏi thời gian quy
- Ngày 14/03/2002 vợ chồng ông Lê Hùng Sơn đã chuyển nhượng lại một phần
quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Trương Mỹ Hoa (diện tích chuyển nhượng là
21.110 m2). Việc chuyển nhượng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
SVTH: Võ Thị Thanh Thảo
Trang 16
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
Ngày 21/07/2003, UBND huyện Quế Sơn đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho bà Trương Mỹ Hoa đối với toàn bộ diện tích bà nhận chuyển nhượng này.
- Tháng 11/2006 bà Nguyễn Thị Quyên (mẹ ông Sơn) khởi kiện ông Lê Hùng
Sơn và bà Trương Mỹ Hoa đến Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn yêu cầu Tòa án buộc
ông Sơn và bà Hoa phải trả lại toàn bộ phần diện tích mà bà Hoa đã nhận chuyển
nhượng từ ông Sơn. Vì theo bà Nguyễn Thị Quyên trình bày thì phần diện tích đất này
vợ chồng bà được chế độ cũ cấp từ năm 1958. Năm 1978 chồng bà mất không để lại di
chúc. Năm 1987 ông Sơn lấy vợ và ở chung với bà. Đến năm 1995 vợ chồng ông Sơn
và bà Quyên làm chung một căn nhà xây cấp 4, diện tích xây dựng là 186m 2, năm
2001 xây thêm căn nhà kho diện tích 97m 2 để làm ăn buôn bán. Năm 2006, vợ chồng
ông Sơn đi làm ăn nơi khác và giao cho bà Quyên quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản
nêu trên. Tháng 10/2006 do bà Hoa giao bán toàn bộ diện tích đất nói trên nên bà
Quyên mới phát hiện ông Sơn đã tự ý kê khai đất của bà và chuyển nhượng cho người
khác. Bà Quyên đã làm đơn khiếu nại đến UBND xã Quế An, trong quá trình hòa giải
tại UBND xã Quế An, bà Quyên đã đề nghị bà Hoa chuyển nhượng lại cho bà Quyên
một phần diện tích đất nêu trên. Tuy nhiên sau đó bà Quyên yêu cầu hủy bỏ biên bản
hòa giải này và khởi kiện ông Sơn, bà Hoa ra tòa.
được quyền kiện đòi ông Sơn bồi thường thiệt hại cho bà. Xét theo quy định của
BLDS 2005, bà Quyên đã chứng minh được quyền sử dụng đất của mình đối với mãnh
đất do ông Sơn đang đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên tòa án
quyết định như trên đối với vụ việc này thì đây là quyết định phù hợp theo quy định
của pháp luật.
- Nhưng ở đây nếu xét theo điều 258, BLDS 2005 thì vụ việc này có thuộc trường
hợp theo quy định của điều luật này hay không? Trong trường hợp này, việc UBND
huyện Quế Sơn đã cấp giấy chứng nhận cho bà Hoa là có hợp lý hay là sai theo quy
định của BLDS 2005? Theo quy định của luật đất đai thời kỳ này thì không bắt buộc
bà Quyên phải đi đăng ký quyền sử dụng đất và việc bà Quyên chứng minh được lô
đất này là do vợ chồng bà tạo lập từ năm 1958 nên mãnh đất này thuộc quyền sử dụng
của bà. Nhưng khi ông Sơn đến làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ quan có
thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất đã không tìm hiểu rõ về quyền sử dụng đất của
ông Sơn mà đã cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng mãnh đất của bà Quyên cho ông
Sơn. Ở đây, quyết định của UBND huyện Quế Sơn đã sai và không phù hợp với quy
định trong trường hợp này. Vậy việc tòa án nhân dân huyện Quế Sơn quyết định như
vậy là đang vô tình làm trái theo quy định tại điều 258, bộ luật này.
- Trong trường hợp này, TAND huyện Quế Sơn đã không xem xét lại hiệu lực
trong quyết định của UBND huyện Quế Sơn về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Sơn nên dẫn đến việc ra quyết định có lợi cho bà Quyên. Nhưng xét
theo điều 258 thì tòa án nên giải quyết theo quy định bảo vệ quyền lợi cho người thứ
ba ngay tình là bà Hoa. Vì khi bà Hoa xác lập giao dịch với người đang sở hữu tài sản
theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hợp lý theo quy định của pháp
luật. Bà Hoa hoàn toàn không biết và không thể biết việc cơ quan nhà nước đã sai
SVTH: Võ Thị Thanh Thảo
Trang 18
anh đã đến báo tại cơ quan Công an quận Ngũ Hành Sơn. Tại TAND quận Ngũ Hành
Sơn, anh An đã cung cấp những giấy tờ lúc mua tài sản bao gồm: hóa đơn tính tiền mang
tên anh và chiếc máy tính được đăng ký dưới tên của anh. Như vậy anh An đã chứng
minh được quyền sở hữu của mình với chiếc máy tính mà anh Hòa đang sử dụng.
SVTH: Võ Thị Thanh Thảo
Trang 19
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
Về phía người đang chiếm hữu tài sản là anh Hòa thì anh công nhận răng chiếc máy
tính là do anh Hòa mua lại từ một người thanh niên vào ngày 25/7/2013. Nhưng vì giá trị
của chiếc máy tính không lớn và không xác lập quyền sở hữu nên anh Hòa đã mua chiếc
máy tính này. Và anh Hòa không có bất cứ giấy tờ nào chứng minh quyền sở hữu đối với
chiếc máy tính.
Quyết định:
- Sau khi xem xét tất cả chứng cứ và giấy tờ liên quan cũng như lời khai của các
bên ngày 30/1/2014, TAND quận Ngũ Hành Sơn ra quyết định anh Hòa phải trả lại tài sản
là chiếc máy tính HP 1254 do anh đang sử dụng lại cho anh An_người chứng minh được
là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc máy tính.
Bình luận:
- Theo quy định tại điều 257, BLDS 2005, đây là trường hợp chủ sở hữu được
quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình khi tài sản bị lấy cắp. Anh Hòa là
người mua lại chiếc máy tính đã bị lấy cắp, mặc dù hợp đồng anh Hòa xác lập là hợp
đồng có đền bù nhưng vẫn không được bảo vệ vì tài sản là chiếc máy tính đã rời khỏi
ngoài ý chỉ của chủ sở hữu tài sản là anh An. Vậy việc tòa án ra quyết định trả lại tài sản
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đòi hỏi pháp luật của Nhà nước cần phải chặt
chẽ, công bằng, bảo vệ được những chủ thể trong các quan hệ xã hội và phù hợp với
tình hình đất nước.
Qua phân tích từ các chương trên, dưới góc độ nghiên cứu của đề án, sau đây là
một số kiến nghị mang tính chủ quan để góp phần hoàn thiện hơn chế định về bảo vệ
quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản.
3.1.
Kiến nghị phương hướng.
3.1.1. Cần có biện pháp bảo vệ người thứ ba ngay tình mạnh mẽ hơn.
- Pháp luật mà cụ thể là Bộ luật dân sự cần có những quy định chặt chẽ về quyền
lợi của người thứ ba ngay tình nhằm đảm bảo sự ổn định của các quan hệ dân sự tránh
gây nhiều xáo trộn, đồng thời nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển trong điều kiện
kinh tế thị trường.
- BLDS 2005 đã không bảo vệ được quyền lợi hợp pháp, chính đáng triệt để cho
người mua tài sản trong trường hợp họ là người thứ ba ngay tình. Điều 138 BLDS
2005 chỉ bảo vệ được người thứ ba ngay tình trong hai trường hợp: Thứ nhất, khi giao
dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở
hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao
dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực. Thứ hai, khi người thứ ba ngay tình nhận được
bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thông qua bán đấu giá hoặc
giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản
án, quyết định bị hủy, sửa.
- Tuy nhiên, quá trình thực thi cho thấy quy định hiện hành chưa bảo vệ một cách
triệt để quyền lợi của người thứ ba khi mà việc giao dịch của họ là thiện chí, ngay tình và
trong một số trường hợp chưa bảo đảm được tính ổn định của các giao dịch dân sự.
SVTH: Võ Thị Thanh Thảo
ký quyền sở hữu nhưng bị những đối tượng lừa đảo làm giấy tờ giả thì những người
ngay tình hoàn toàn không biết được và khi bị đòi tài sản thì họ chịu thiệt thòi nặng nề.
- Hơn nữa, quy định việc đăng ký quyền sở hữu rõ ràng còn giúp cho Tòa án có
căn cứ xác thực để giải quyết tranh chấp và đưa ra quyết định hợp lý bảo vệ quyền lợi
của các bên chủ thể.
3.2. Giải pháp hoàn thiện.
3.2.1. Quy định cụ thể hơn quy định tại điều 258 Bộ luật dân sự 2005.
- Điều 258 BLDS 2005 quy định:
“Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản,
trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua
SVTH: Võ Thị Thanh Thảo
Trang 22
Đề án môn học
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ
sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.”.
- Cần quy định vấn đề “người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản
thông qua bán đấu giá thì chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản” cụ thể hơn về
các trường hợp nhận được tài sản thông qua bán đấu giá. Trường hợp thực tế xảy ra từ
quy định trên:
+ Nếu người tham gia bán đấu giá tài sản và nhận được tài sản trong trường hợp
tài sản bị chiếm hữu trái pháp luật và làm giả giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu sau đó
GVHD: Lê Thị Thu Hằng
2. Nếu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu nhưng tài sản đó chưa được đăng ký tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác
với người thứ ba ngay tình thì việc chiếm hữu của người thứ ba không được chấp nhận
và chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản, trừ trường hợp người này nhận được tài sản
thông qua bán đấu giá nhưng phù hợp với quy định của pháp luật về bán đấu giá.
- Bên cạnh việc mâu thuẫn trong quy định về bán đấu giá và nên hoàn thiện thì
quy định chưa rõ ràng về trường hợp: “người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được
tài sản này thông qua giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là
chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.”.
- Cần quy định cụ thể về chủ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết
định, các bản án đối với việc quyết định người đã thực hiện giao dịch với người thứ ba
ngay tình là chủ sở hữu tài sản. Thẩm quyền ra quyết định, bản án của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong trường hợp chủ sở hữu kiện đòi tài sản
có đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. Cụ thể:
“Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản trừ
trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản thông qua giao dịch
với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp đã xác định là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là
chủ sở hữu tài sản đó do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.”.
3.2.2. Tham khảo, so sánh để hoàn thiện những quy định pháp luật từ những
quy định pháp luật tiến bộ của các nước trên thế giới quy định về cùng vấn đề
trong luật Việt Nam.
- Việc tham khảo những quy định trong pháp luật của các nước trên thế giới là
điều kiện phương thức hiệu quả để hoàn thiện pháp luật trong nước. Những nhà làm
luật Việt Nam nên tham khảo những quy định của pháp luật các nước trên thế giới,
ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam và sau đó phát triển thành những quy phạm pháp