BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
BÀI TIỂU LUẬN
QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Đinh Tuấn Hải
PGS.TS Dương Đức Tiến
Học viên thực hiện:
Đặng Hoàng Giang
Mã số học viên:
Lớp:
1582850302015
23QLXD21
Hà Nội, tháng 11/2016
CÔNG NGHỆ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN (BÊ TÔNG LU LÈN)
I.
Giới thiệu chung về công nghệ bê tông đầm lăn (bê tông lu lèn)
Bê tông đầm lăn (BTĐL), tên tiếng Anh là Roller Compacted Concrete
(RCC) là loại bê tông sử dụng các nguyên vật liệu tương tự như bê tông
thường. Bê tông được tạo thành bởi một hỗn hợp gồm cốt liệu nhỏ (cát thiên
nhiên hoặc cát nghiền từ đá), cốt liệu lớn (đá dăm), xi măng (có thể là xi măng
pooc lăng PC hoặc xi măng pooc lăng hỗn hợp PCB), phụ gia hoạt tính nghiền
mịn (tro bay nhiệt điện hoặc puzơlan thiên nhiên), nước và phụ gia hóa học
phương án đập vật liệu địa phương (đập đất, đá đổ...) do khối lượng thi công
đập vật liệu địa phương lớn hơn nhiều so với đập BTĐL.
2
Giảm chi phí cho biện pháp thi công: Thi công đập bằng công nghệ
BTĐL có thể giảm chi phí dẫn dòng trong thời gian xây dựng và giảm các thiệt
hại, các rủi ro khi nước lũ tràn qua đê quai.
Tuy nhiên công nghệ bê tông đầm lăn có nhược điểm là đòi hỏi trình độ
thi công cao, quy trình giám sát quản lý chất lượng nghiêm ngặt từ các khâu
thiết kế, chọn vật liệu đầu vào, quá trình trộn, vận chuyển vữa, quá trình san
đầm, bảo dưỡng...mới đạt được độ đồng đều về chất lượng của bê tông, đặc biệt
là với những công trình có diện tích mặt bằng thi công quá lớn ngoài ảnh hưởng
của nguyên nhân chủ quan như đã nêu ở trên còn ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu
tố chủ quan như nhiệt độ, độ ẩm môi trường...
II.
Khái niệm về bê tông đầm lăn
Bê tông đầm lăn (BTĐL), tên tiếng Anh là Roller Compacted Concrete
(RCC) là loại bê tông sử dụng các nguyên vật liệu tương tự như bê tông thường.
Bê tông được tạo thành bởi một hỗn hợp gồm cốt liệu nhỏ (cát thiên nhiên hoặc
cát nghiền), cốt liệu lớn (đá dăm), xi măng (có thể là xi măng pooc lăng PC
hoặc xi măng pooc lăng hỗn hợp PCB), phụ gia hoạt tính nghiền mịn (tro bay
nhiệt điện hoặc puzơlan thiên nhiên), nước và phụ gia hóa học. Khác với bê
tông thường, BTĐL sau khi trộn đều, vận chuyển, san rải, hỗn hợp được đầm
chặt bằng máy đầm lăn. Dưới tác dụng của tải trọng nén ép và chấn động rung
từ máy đầm lăn, bê tông được đầm chặt. Công tác đầm BTĐL được thực hiện
trong khi hỗn hợp vữa bê tông chưa bắt đầu đông kết.
Một số đặc điểm bê tông đầm lăn:
- Do lượng nước được đưa vào hổn hợp BTĐL nhỏ (trên dưới 100l/m 3 bê tông,
được phát sinh khe lạnh ở 2 lớp tiếp giáp...
III.
Áp dụng công nghệ bê tông đầm lăn vào điều kiện Việt Nam
1. Thành tựu áp dụng công nghệ BTĐL trên thế giới
Năm 1961 có đê quây tường tâm của đập Thạch Môn ở Đài Loan Trung
Quốc và năm 1975 ở Pakistan trong công việc sữa chữa các công trình, cũng
dùng phương pháp trên để thi công. Đây là lần sớm nhất ở các đập cục bộ xuất
hiện bê tông đầm lăn.
Đến năm 1980 - 1984 ở Nhật Bản, Anh, Mỹ cũng đã xây dựng xong các
đập bê tông đầm lăn
Năm 1986 - 1989 ở Trung Quốc xây dựng xong các đập bê tông đầm lăn
Khang Khẩu Cầu Thiên Sinh, Long Môn Than, Phan Gia Khẩu vv...
Qua quá trình phát triển đến nay đã hình thành 3 trường phái chính về công
nghệ BTĐL trên thế giới: Mỹ, Nhật, Trung Quốc. Mặc dầu công nghệ BTĐL
được áp dụng muộn hơn so với các nước phương Tây, song đến nay Trung
Quốc với sự nổ lực và sáng tạo, đã trở thành đầu đàn trên thế giới về công nghệ
BTĐL này, thể hiện qua các yếu tố sau:
- Số lượng đập BTĐL được xây dựng nhiều nhất so với các nước trên thế
giới.
- Số lượng đập cao được xây dựng nhiều nhất so với các nước trên thế
giới. Đập cao nhất đã nghiên cứu cao gần 200m - đập Long Than.
- Cường độ thi công đạt cao nhất thế giới (thể hiện tính cơ giới hoá cao).
- Đã phát minh ra bê tông biến thái theo đó đã đưa tỷ lệ (BTĐL:Tổng khối
lượng bê tông đập) lên cao nhất thế giới. Trình độ thiết kế đập BTĐL được
thể hiện thông qua tỷ lệ này.Tỷ lệ càng cao thể hiện trình độ càng cao.
- Lần đầu tiên trên thế giới đã áp dụng công nghệ BTĐL vào đập vòm
trọng lực và ngay cả vòm mỏng.
4
Quốc)
89
50
57
Vật liệu kết
dính
Chiều
Chiều
dài
rộng Cimen Tro
đập
đáy
t
than
(m)
3
Kg/m Kg/m3
Thời
gian
Vc
hoàn (giây)
thành
Thuyết minh
1983
80
Trộn lượng tro
151 bay cao, chống
1986
0
thấm bằng vữa
cát nhựa đường
Mặt thượng hạ
lưu cấp phối 2,
các thấm ở biên
đầm chặt, độ sụt
1987 17-29 0.6-1.14
cm,
thường
bằng
cốp pha trượt,
trộn lượng tro
bay nhiều
4
Thượng
Tỉnh Thuỷ 88
(Mỹ)
5
814
79
173
10-5 Chống
thấm
5
Kiều (Tr.
Quốc)
7
Phan Gia
Khẩu (Tr.
Quốc)
8
Nham
Than
(Tr.Quốc)
9
Thuỷ Khẩu
68
94
90
60-65
28.2 85-54
3-5
Đầm nén trên
toàn bộ mặt cắt
thêm vữa vào để
đầm
44
1989
55
Bê tông cấp
1992 105 phối 2 chống
thấm
1-3
Bê tông đầm lăn không chỉ áp dụng vào xây dựng đập mà còn phải được
tiếp tục nghiên cứu áp dụng vào việc xây dựng sân bay, cảng, kè chắn sóng, các
công trình bê tông khối lớn, diện rộng...
Do còn mới mẻ nên việc áp dụng công nghệ này vào điều kiện
Việt Nam cần phải có bước đi và giải pháp thích hợp:
- Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước để rút ngắn thời gian nghiên cứu.
Qua phân tích nhận thấy Trung Quốc là nước láng giềng Việt Nam, là nước đầu
đàn về công nghệ BTĐL trên thế giới, chi phí học tập nghiên cứu với Trung
Quốc lại rẽ, vì vậy có thể xây dựng công nghệ BTĐL Việt Nam bằng việc kế
thừa kinh nghiệm Trung Quốc.
- Xây dựng đập nhỏ, thấp trước, đúc rút kinh nghiệm để làm đập cao sau.
6
Dịch thuật các tài liệu, quy phạm các nước đặc biệt của Trung Quốc để
trên cơ sở thực tiễn xây dựng tại Việt Nam , hoàn chỉnh thành bộ quy phạm
thiết kế, thi công đập BTĐL của Việt Nam.
- Đối với các dự án BTĐL đầu tiên, lớn, quan trọng cần phải có :
+ Thuê, hợp tác với nước ngoài để cùng Việt Nam tham gia tư vấn thiết kế.
+ Thuê Tư vấn thẩm định quốc tế để thẩm định lại hồ sơ thiết kế.
+ Thuê Tư vấn Giám sát chất lượng xây dựng quốc tế để giám sát thi công.
+ Thuê Tư vấn Kiểm định chất lượng xây dựng quốc tế để kiểm định chất
lượng xây dựng.
Nếu có những bước đi và giải pháp như trên được áp dụng thì công nghệ
BTĐL sẽ được áp dụng vào Việt Nam một cách hiệu quả và an toàn nhất
Bảng 2.Một số công trình đập BTĐL đã được xây dựng ở nước ta
Tên đập
Năm
Hồ
340
1400
129
Bản Vẽ
2004
1800
1200
135
Sông
Tranh
2006
730
-
96
AVương
9260
3100
138
1420
-
108
Lai Châu
2011
1215
2200
138
Đồng Nai 2004
3
Vấn đề áp dụng công nghệ BT đầm lăn vào công trình thủy điện Sơn
La
- Theo tài liệu Công trình thuỷ điện Sơn La - Thiết kế kỹ thuật giai đoạn I, xuất
bản tháng 3 năm 2004, đập bê tông có chiều cao đập lớn nhất là 138m, còn nhỏ
hơn so với đập Long Than được xây dựng ở Trung Quốc đợt 1cao 192m. Vì vậy
- Quy trình lựa chọn vật liệu cho BTĐL (chất kết dính, phụ gia hoạt tính,
phụ gia chậm ninh kết...)
- Quy trình thí nghiệm thiết kế cấp phối trong phòng và thực hiện các bước
thí nghiệm ngoài hiện trường.
- Quy trình trộn và vận chuyển hỗn hợp bê tông ra mặt đập.
- Quy trình dải, san, đầm BTĐL ngoài mặt đập.
- Quy trình sử lý khe thi công.
- Quy trình kiểm tra kiểm soát chất lượng.
Chi tiết các quy trình theo điều kiện kỹ thuật thi công công trình trích dưới
đây:
Quy trình chọn tỷ lệ cấp phối BTĐL
Cấp phối cho RCC được dùng cho toàn bộ công trình. Tỷ lệ cấp phối của
hỗn hợp trộn RCC sẽ nằm trong phạm vi dưới đây:
Kích cỡ dăm tối đa thông (mm)
thường
50
Nước tự do
(kg/m3)
110 – 120
Xi măng pooclăng
(kg/m3)
60
8
Trung bỡnh
Max
2 000
21
24
18
Thi gian ninh
kt cui cựng
(gi)
Phụ
gia
Cát
Ngia
chậm
xay D1=4,75- D1=12,5- D1=25- ớc
khoáng
đông
(m3) 12,5mm 25mm
(m3)
50mm
(kg)
kết
(lít)
9
1
CÊp
phèi
vËt
liÖu
1m3
v÷a
RCC
®¸
4.7560
50mm;
xi
như các yêu cầu của ASTM C94.
- Các cốt liệu dùng cho bê tông RCC phải theo đúng như các yêu cầu
trong ASTM C 33 – 03, như điều chỉnh dưới đây để phù hợp với cấp phối tiêu
chuẩn sử dụng tại Việt Nam. Tổng thành phần hạt kim, dẹt trong các nhóm hạt
cốt liệu riêng biệt không được vượt quá 25% theo như tiêu chuẩn của Anh: BS
812.
Cấp phối hạt tổng thể của cốt liệu cho RCC phải đáp ứng các yêu cầu tiêu
chuẩn sau:
10
Tiêu chuẩn kỹ thuật
Kích cỡ mắt sàng thiết kế
% lọt sàng theo trọng lượng
(mm)
63mm
100
50 mm
100
38 mm
87 - 100
25mm
0.30 mm
8 – 15
0.15mm
6 – 12
0.075 mm
5 -10
Cấp phối hạt ở trên sẽ đạt được bằng cách trộn hỗn hợp phù hợp giữa
cốt liệu hạt mịn và 3 nhóm loại cốt liệu thô theo quy định dưới đây, trong đó
tỉ lệ là phần trăm lọt sàng có kích cỡ định danh.
50-20mm
20-10mm
10 - 5mm
Mắt sàng
Đã
chỉnh
63
100
điều Đã
chỉnh
Cát
điều Đã
chỉnh
điều
11
50-20mm
20-10mm
10 - 5mm
Cát
Mắt sàng
Đã
chỉnh
20
1
1
20
30
100
100
100
5
1
1
1
1
1
20
75
100
1
35
62
0.6
1
1
1
1
1
1
25
48
0.3
1
1
0.075
1
1
1
1
1
1
11.5
25
điều Đã
chỉnh
24%
22%
điều Đã
chỉnh
16%
dạng file Excel để cấp cho Tư vấn giám sát với khoảng thời gian cấp là chưa
đến một tháng một lần.
Thiết bị sẽ phải có khả năng kiểm soát việc phân phát các vật liệu sao
cho sự kết hợp không chính xác trong nạp vật liệu và đo lường trong quá trình
hoạt động bình thường sẽ không vượt quá sai số trọng lượng qui định trong
bảng dưới đây.
Thí nghiệm
Chênh lệch tối đa cho phép
Lượng nước của một hỗn hợp trộn 2%
đây (% theo trọng lượng)
Mỗi một kích cỡ dăm định danh
3%
Mỗi một thành phần chất kết dính
1%
Phụ gia
3%
Bê tông phải được trộn hoàn toàn trong máy trộn cưỡng bức trục đôi
được thiết kế để đảm bảo sự phân bố đồng nhất của tất cả vật liệu hợp thành
trong bê tông ở cuối giai đoạn trộn.
Bê tông, khi xả ra từ nồi trộn, sẽ phải đồng đều về thành phần và phải
ổn định từ mẻ trộn này đến mẻ khác. Nồi trộn sẽ được phía Tư vấn giám sát
kiểm tra thường xuyên về các thay đổi trong điều kiện có sự tích thừa của bê
phương tiện đó không bám các tạp chất có hại có thể gây hư hỏng bề mặt lớp
nâng.
Công tác vận chuyển RCC đến đập phải tách bịêt với việc vận chuyển ở
trên đập.Không phương tiện vận chuyển RCC nào ở ngoài đập được phép đi
lên bề mặt đang làm việc của đập. Công tác bảo dưỡng hoặc sửa chữa thiết bị
không được phép thực hiện ở trên RCC trừ khi chu trình đó đã được Tư vấn
giám sát thi công thông qua bằng văn bản.
Tất cả các phương tiện bánh lốp đi lại trên bề mặt RCC phải là loại bánh
xe hướng kép để giảm thiểu hư hại trên bề mặt RCC và tất cả các thiết bị vận
chuyển sẽ được thiết kế sao cho việc phân tầng của các hạt dăm thô từ vữa
được giảm thiểu. Công tác vận chuyển vữa sẽ phải diễn ra với mức nhanh nhất
có thể theo thực tế bằng nhiều cách để đảm bảo rằng vào thời điểm đổ xuống
nó sẽ có chất lượng, tính ổn định cao và đổ xuống gần với vị trí đầm cuối
cùng.
Vận chuyển vữa bê tông ra mặt đập bằng băng tải công suất 720m3/h
Trong quá trình nạp tải, các xe tải và xe ben thùng phải di chuyển về
phía trước hoặc lùi lại phía sau để tránh tạo thành những đống vật liệu ở trên
thân xe mà có thể gây ra sự phân tầng của RCC".
Quy trình dải san đầm và dưỡng hộ của đập.
- Vữa RCC được vận chuyên đế vị trí đổ bằng ô tô tự đổ 42 tấn, sau khi
đổ xong, sử dụng máy ủi Caterpillar - D6 có gắn thiết bị điều khiển laze, thiết
bị này có tác dụng tự động điều chỉnh lưỡi gạt máy ủi ở 1 cao độ cố định để
khi san tạo thành lớp đổ tương đối phẳng, các lớp đổ sau khi san có chiều dày
35cm, sau khi đầm xong còn 30cm. sau khi san được dải dài từ 15-:-20m bắt
đầu đầm. Thiết bị đầm là máy đầm rung Bomag trọng lượng tĩnh 15 tấn, tải
trọng rung tối đa khoảng 25 tấn, trình tự đầm, số lượt đầm được xác định qua
công tác thí nghiệm hiện trường, cụ thể đầm lăn tĩnh 2 lượt sau đó đầm chế độ
rung 6 lượt. Sau khi đầm xong cả dải đắp thì tiến hành kiểm tra dung trọng
RCC bằng thiết bị đo dung trọng hạt nhân.
Khi lớp bê tông được thi công xong, quan sát trên bề mặt bê tông bị se
hợp với đường đi hoặc với phương pháp thay thế, thì xích trên đường rãnh
xích phải được hạ xuống mức thấp nhất có thể để giảm thiểu thiệt hại lên bề
mặt lớp RCC. Xe ủi phải có thể đi nghiêng và lật nghiêng lưỡi ủi được theo sự
điều khiển của người vận hành.
Toàn bộ thiết bị phải được duy trì trong điều kiện vận hành tốt để không
làm rò rỉ dầu, dầu nhờn hoặc chất có hại nhìn thấy được lên RCC.
Nhà thầu phải quan sát, giám sát liên tục quá trình đổ và san bê tông để
đảm bảo việc thi công giảm tối đa sự phân tầng của cốt liệu và hoạt động san
sau khi đổ bê tông xuống. Mỗi lớp RCC phải được kiểm tra đều đặn, kỹ lưỡng
sau khi san nhưng chưa đầm về độ đồng đều của cốt liệu và độ dày lớp quy
định nằm trong dung sai độ dày quy định theo yêu cầu. Mỗi khu vực đổ có
diện tích là 500 m2 sẽ được kiểm tra dung trọng tại hai vị trí.
RCC chỉ được đổ khi máy lu rung không gây sụt lún hơn 5cm ở RCC đã
đầm chặt. Nguyên nhân của hiện tượng này là do tỷ lệ thành phần hỗn hợp
không đúng và nước dùng quá nhiều do bảo dưỡng hoặc do có mưa lớn.
15
Mưa nặng hạt được coi là lớn khi cường độ mưa lớn hơn 2,5 mm/giờ.
Nếu có mưa lớn phải dừng ngay công tác đổ RCC.
RCC đã được đổ và san trước khi bắt đầu mưa có thể được đầm chặt
trước khi dừng thi công, miễn là lớp vữa váng không tràn lên bề mặt.Sau khi
tạnh mưa, tất cả RCC chưa đầm chặt sẽ phải loại bỏ và nếu lớp vữa ximăng đã
nổi lên trên bề mặt sau khi được đầm chặt thì cũng phải loại bỏ toàn bộ RCC
lớp đó.Bề mặt lớp đổ trước đó sẽ được chuẩn bị như quy định đối với khe ấm
hoặc khe lạnh.
- Mỗi lớp RCC sẽ phải được đầm chặt đến một dung trọng như quy định
trong trong vòng 30 phút sau khi rải. Máy lu rung sẽ phải theo đúng như các
yêu cầu, đối với máy lu rung tự hành cỡ lớn và máy lu rung loại nhỏ. Máy
đầm rung loại nhỏ cũng phải có khả năng đầm tương đương như máy đầm
16
Nếu là khe ấm non (giai đoạn sau khi bắt đầu ninh kết) thì dùng máy
đánh xờm có găn chổi nhựa để đánh. Nếu là khe ấm già (nửa giai đoạn cuối
của kết thúc ninh kết) thì dùng mày đánh xờm có gắn chổi thép để xử lý bề
mặt tạo nhám rồi tiến hành đổ lớp tiếp theo.
- Xử lý khe lạnh: Dùng máy phun nước áp lực cao (khoảng 200Bar) để
phun trên bề mặt bê tông bóc bỏ lớp vữa RCC bộc lộ các viên cốt liệu thô, sau
đo phun nước rửa sạch, hút khô nước rồi đổ lớp RCC tiếp theo.
-Xử lý khe siêu lanh: các bước thực hiện như đối với khe lạnh, tuy nhiên
phải tười trên bề mặt bê tông lớp vữa GEVR (tỷ lệ Nước/XM = 0,6) dày 2cm
trước khi đổ RCC lớp tiếp theo.
RCC sẽ không được đổ cho đến khi lớp RCC đổ trước đó đã được đầm
nén kỹ lưỡng và bề mặt lớp RCC tươi đã được nghiệm thu. Trước khi đổ RCC,
bề mặt phải được làm sạch khỏi các chất bẩn như: các vật liệu không đầm nện,
long rời hoặc những vật liệu RCC không được bảo dưỡng đúng quy cách, váng
vữa hoặc bất kỳ vật liệu nào mà không phải là RCC bao gồm nhưng không hạn
chế đến những chất bẩn, sản phẩm chứa xăng, hợp chất bảo dưỡng bê tông,
nước tự do trên bề mặt từ bất cứ nguồn nào, các vật liệu bê tông còn lại từ
RCC đã được loại bỏ hoặc lớp nâng bê tông hoặc cát dùng cho thổi v.v.
Trước khi được rải, bề mặt bên trên các lớp RCC sẽ được xử lý như quy
định dưới đây cho mỗi loại khe.Nhà thầu sẽ không được nhận khoản thanh
toán riêng nào cho bất cứ một xử lý khe nối ngang như xác định dưới đây.
Các loại khe khác nhau được xác định theo thời gian bóc lộ (tức là thời
gian tính từ thời điểm hoàn thành việc đầm nén lớp đổ trước đó cho đến thời
gian đổ lớp mới). Những hạn chế thời gian quy định có thể được Tư vấn giám
sát thay đổi dựa vào kinh nghiệm và các ghi chép có được trong khi thi công
Đắp thí nghiệm toàn diện ngoài hiện trường và/hoặc trong khi thi công đập.
Tháng
39
39
60
62
3
18
18
36
36
54
56
4
17
17
33
48
50
7
18
18
32
32
48
50
8
17
17
32
32
48
10
18
18
34
34
52
54
11
20
20
38
38
57
59
12
Sau khi xử lý, khe sẽ được làm sạch giống như đối với khe nóng.Công tác vệ
sinh làm sạch phải được thực hiện cuối cùng trước khi đổ RCC lên bề mặt lớp
đổ.
Xử lý khe lạnh:
Ở giai đoạn ninh kết ban đầu nhưng trước khi ninh kết cuối cùng của bê
tông, bề mặt khe lạnh phải được rửa sạch bằng nước và bằng các tia nước khí
nén. Mục đích của việc rửa là để loại bỏ vữa váng khỏi bề mặt, tách các thành
tố bán long rời ra và chỉ để lộ lại các cốt liệu dăm thô mà vẫn không cắt bỏ
hay tách hẳn các hạt dăm thô đó ra.Bề mặt của các khe lạnh đã đông cứng phải
được chuẩn bị bằng cách dùng thiết bị phụt nước với áp lực cao.Trong quá
trình chuẩn bị khe nâng, phải chú ý ngăn ngừa không cắt bỏ cốt liệu trong
RCC.Thiết bị phụt nước với áp lực cao phải được trang bị một cái điều khiển
18
áp lực thích hợp và có một công tắc tắt bật tại miệng vòi mà sẽ tự động cắt áp
lực nếu miệng vòi bị rơi xuống.Công tác rửa và làm khô bề mặt sẽ được thực
hiện cuối cùng trước khi đổ RCC. Sau khi xử lý để bề mặt khe nâng được
nghiệm thu, bề mặt sẽ được làm sạch như khe nóng.
Xử lý khe hỏng:
Toàn bộ các bề mặt khe nâng được Tư vấn xác định bị hỏng đến mức
cần phải làm sạch hơn, sẽ được phân loại như những “khe hỏng” và được
chuẩn bị theo cách giống như ở khe lạnh.
Xử lý khe siêu lạnh:
Bề mặt của toàn bộ khe siêu lạnh sẽ được xử lý giống như đối với khe
lạnh (xem ở trên) và sẽ dùng vữa xi măng.Vữa xi măng sẽ có tỷ lệ nước/xi
măng là 0.60 và tỷ lệ tối ưu trong khoảng 0.50 đến 0.65. Thực hiện rải vữa xi
măng đồng bộ với độ dày khoảng từ 5-10mm. Công tác hút chân không và rải
vữa xi măng sẽ được thực hiện ở bước cuối, trước khi đổ vữa lên bề mặt lớp
đổ. Không được rải vữa xa hơn 10m ở phía trước của dải đang đổ. RCC sẽ
cốp pha phải được chôn với khoảng cách không nhỏ hơn 2 lần đường kính
hoặc gấp đôi kích thước nhỏ nhất của thanh chốt hoặc 10mm hay lớn hơn tuỳ
theo. Thanh chốt phải được đặt sao cho 2 đầu hoặc đầu buộc chặt có thể tháo
ra được mà không gây hư hại đáng kể đến bề mặt bê tông. Các chỗ lõm để lại
sau khi tháo chốt buộc cốp pha không cần phải sửa chữa hoặc nút lại.
Thi công vữa bê tông làm giàu GEVR bề mặt bê tông tiếp giáp cốp
pha.
Vữa GEVR được đổ lên phần cốp pha mặt thượng lưu và hạ lưu đập và
cũng đổ lên phần cốp pha đối với các khe co ngót ở phía cuối các phần khác
nhau của đập RCC.
Các qui trình thi công GEVR đổ vữa GEVR lên bề mặt BTĐL vữa san
rải, đầm bằng đầm dùi, hoàn thiện bề mặt bằng lu rung loại nhỏ. Lượng vữa
ước tính sử dụng phải xấp xỉ 8 lít trên một mét dài tuyến tính bề mặt.
Các khe co ngót ngang được bít kín bằng cách sử dụng các tấm ngăn
nước lắp đặt trong lớp GEVR ở mặt thượng lưu và hạ lưu.
Các khe ngang được hình thành trong lớp GEVR bằng dụng cụ tạo khe
đặt trong bê tông. Cần chú ý đảm bảo các tấm tạo khe cố định tiếp xúc hoàn
toàn với vật chắn nước và đặt ở vị trí như thể hiện trong Bản vẽ, giếng thoát
nước đảm bảo được đặt chính giữa các tấm chắn nước với độ chính xác ±3
mm. Tấm tạo khe bằng thép có chiều cao 30 cm và xuyên qua toàn bộ chiều
cao lớp GEVR. Khung giữ tấm ngăn nước phải chắc chắn để giữ tấm ngăn
nước, vật tạo giếng thoát nước và các tấm tạo khe cố định đúng vị trí theo
chiều thẳng đứng trong quá trình thi công GEVR.
Quy trình kiểm soát chất lượng bê tông:
Nhà thầu có trách nhiệm cung cấp các biện pháp kiểm soát chất lượng
để đảm bảo RCC phù hợp theo các yêu cầu đã định.
Nhà thầu phải tiến hành chương trình kiểm soát chất lượng một cách
thống nhất tối thiểu theo như thí nghiệm qui định, để thực hiện trong phòng thí
nghiệm với các thiết bị lấy mẫu và thí nghiệm của Nhà thầu. Ngoài chương
trình kiểm soát chất lượng bê tông, Nhà thầu phải tiến hành các thí nghiệm tới
(ngày)
thí
Cường độ nén Và
Mẫu trụ 2 000 m3
2D, 7, 28,
Vị trí đổ trên Để tương quan với
56B, 91, 182,
đập
các kết quả Mô đun 365, 1000B
biến dạng
Mẫu trụ 6 000 m3
Thí nghiệm
bảo
dưỡng
nhanh
6
ngày,
bảo
dưỡng
thường
+7
Cường độ nén 2
Vị trí đổ trên
ngày
nghiệm
được thực hiện
(ngày)
Vị trí đổ trên
Cường độ kéo
đập
thí
91, 182, 365,
1000
2, 7, 14, 28,
Vị trí đổ trên Mô đun biến dạng
Mẫu trụ 100 000 m3
56, 91, 182,
đập
trong kháng nénC
365, 1000
Vị trí đổ trên
Mẫu trụ 100 000 m3
Hệ số PoissonC
đập
Mẫu trụ 100 000 m3
Trọng
lượng
khối
(Bulk)
đập
Ngay lập tức
250 m3
Trạm trộn
Nhiệt độ RCC
Ngay lập tức
250 m3
Vị trí đổ trên
Nhiệt độ RCC
đập
Ngay lập tức
Cứ 500m2 Vị trí đổ trên
Độ ẩm của RCC
lấy 2 vị trí đập
Máy đo
dung
trọng
hạt
nhân
Tại 2 vị trí
sâu 150 và
300 mm
Ngay lập tức
Trọng lượng đơn vị
tại chỗ
Ngay lập tức
22
Loại
mẫu
nghiệm
Tần suất
khoan
mỗi
diện
tíchA
tại lang trong đập
mỗi
mức và/mặt hạ lưu
tuổi
Nõn
mỗi
diện Từ các hành
Mô đun biến dạng
tíchA
tại lang trong đập
91, 365, 1000
khi kéo
mỗi
mức và/mặt hạ lưu
tuổi
Vị trí
Tuổi
Các thí nghiệm
nghiệm
được thực hiện
(ngày)
thí
91, 365, 1000
Nõn
khoan
3 mẫu ở
mỗi diện
tíchA tại
mỗi mức
Các vùng được thiết kế như sau:
Khối đổ bên vai trái và từ mỗi một hành lang
Khối đổ bên vai phải ở kênh dẫn dòng và từ mỗi một hành lang
23
Loại
mẫu
nghiệm
Tần suất
Vị trí
Tuổi
Các thí nghiệm
nghiệm
được thực hiện
(ngày)
thí
B
Các thí nghiệm mẫu trụ tuổi 56 và 1000 ngày có thể thay thế lẫn nhau,
tức các bộ mẫu trụ luân phiên có thể được dùng cho các thí nghiệm ở tuổi 56
ngày và 1000 ngày
C
Ngoài tuổi 14 ngày, các thí nghiệm có thể được thực hiện sử dụng
mẫu trụ cho thí nghiệm cường độ nén
4
Thí nghệm Los Angeles trên cốt liệu
ASTM C131
5
Thành phần hạt kim dẹt
6
Lấy mẫu bê tông tươi
ASTM C172.
7
Tính đồng nhất của bê tông
ASTM C94
8
ASTM C138C – 138M–
Dung trọng (trọng lượng đơn vị) và sản 01a
lượng
ASTM C1040–2000.
9
Tạo mẫu và bảo dưỡng mẫu thí nghiệm
ASTM C1435–1999
bê tông hình trụ
ASTM C1176–1998
13
Gắn phủ đầu mẫu bê tông hình trụ
14
Cường độ nén của mẫu nghiệm bê tông
BS1881 - 116
hình trụ
15
Cường độ nén của nõn khoan bê tông
16
Phương pháp VeBe đo độ ổn định bê
Xem Phụ lục D
tông
17
Cường độ kháng nén của nõn khoan
18
Phương pháp TN chuẩn cho mô đun đàn
USACE CRD – C – 166
hồi tĩnh của bê tông khi kéo
24
Từ biến của bê tông khi nén
ASTM C512 – 02
25
Cường độ kéo của nõn khoan
ASTM C 496/C 496M
– 04
26
Đo chiều dài của nõn khoan bê tông
ASTM
C
1542M–02
27
Hợp chất bảo dưỡng màng lỏng