Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
MỞ BÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm 60 của thế kỷ XX, Viện sĩ A. I. Berg (Nga) đã dự báo: Thông tin
sẽ trở thành khái niệm dẫn đầu trong các khoa học của thế kỷ XXI. Thế kỷ XXI,
loài người bước sang kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên thông tin, được đánh dấu bằng sự
ra đời của nền kinh tế mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế mạng... Cùng với đó,
một xu thế mới hình thành: xu thế toàn cầu hóa, giao lưu, hợp tác, chia sẻ cùng phát
triển. Bên cạnh đó là sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin
(CNTT) và viễn thông…tất cả những yếu tố này đã góp phần làm thay đổi bộ mặt
kinh tế, văn hoá, xã hội của cả loài người.
Trong kỷ nguyên mới, vai trò của thông tin ngày càng trở nên quan trọng và
không thể thiếu trong mọi lĩnh vực đời sống - xã hội. Thông tin góp phần làm nên
sức mạnh của một cá nhân nói riêng và của cả một dân tộc nói chung. Ngày nay,
thông tin cùng với vật chất và năng lượng trở thành 3 trụ cột chính quyết định sự
tồn tại của mỗi quốc gia. Các nguồn thông tin ra đời với tốc độ tăng chóng mặt và
số lượng tăng nhanh với cấp số nhân. Sự phát triển mạnh mẽ của thông tin kết hợp
với sự phát triển của CNTT và viễn thông đã nâng cao giá trị của mình để từ đó
hình thành nên môi trường thông tin số toàn cầu.
Nằm trong xu thế chung toàn cầu đó, Việt Nam cũng đang có những bước
phát triển mạnh mẽ dựa trên sự phát triển của CNTT và viễn thông. Theo Quỹ
nghiên cứu Internet GOV3 (Government for the third millennium – Chính phủ của
thiên niên kỷ thứ 3) của Anh công bố kết quả điều tra tình hình phát triển Internet
trên toàn thế giới ngày 17/11/2005: Việt Nam đứng thứ 3 về tốc độ phát triển
Internet trong 4 năm qua, với số người sử dụng tăng 27,48%, trong đó 7,2% dân sử
dụng thường xuyên. Những điều này cho thấy nhu cầu thông tin của con người ngày
càng cao. Việc phát triển một hệ thống thông tin nhằm cung cấp cho người sử dụng
ngày càng trở nên cần thiết.
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
mọi nơi một cách nhanh nhất, kịp thời nhất. Việc đa dạng và phong phú hoá các loại
hình SP&DV TT-TV gắn liền với việc ứng dụng CNTT là yếu tố sống còn của
Trung tâm, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Với ý nghĩa to lớn của SP&DV TT–TV trong hoạt động TT–TV tôi đã lựa
chọn vấn đề “Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện của Trung tâm
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
Page 2
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
Thông tin Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội” làm đề tài khoá
luận của mình.
1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu toàn bộ hệ thống SP&DV TT–TV của Trung tâm TT–TV
Trường ĐH GTVTHN. Trên cơ sở đó, đánh giá những ưu nhược điểm để:
* Mục đích: Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống
SP&DV TT-TV của Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN.
* Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài đi sâu giải quyết các vấn đề
sau:
- Tìm hiểu sơ lược về Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN.
- Nghiên cứu đặc điểm NDT và nhu cầu của NDT tại Trung tâm TT–TV
Trường ĐH GTVTHN.
- Tìm hiểu vai trò của SP&DV TT-TV đối với Trung tâm TT–TV Trường
ĐH GTVTHN.
- Tìm hiểu thực trạng và phân tích các SP&DV TT-TV của Trung tâm.
- Đánh giá những ưu, nhược điểm của hệ thống SP&DV TT-TV của Trung
tâm, những thuận lợi và khó khăn của Trung tâm khi tiến hành xây dựng, hoàn thiện
và phát triển hệ thống SP&DV TT-TV này.
tin-Thư viện Trường Đại học Giao thông-Vận tải Hà Nội” năm 2007 của Nguyễn
Thanh Huyền; “Tìm hiểu công tác phát triển vốn tài liệu tại Trung tâm Thông tinThư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải” năm 2005 của Nguyễn Thị Huyền;
“Tìm hiểu công tác tự động hoá tại Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại học Giao
thông Vận tải” năm 2006 của Hoàng Thanh Huyền; “Tìm hiểu công tác tổ chức và
khai thác cơ sở dữ liệu tại Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại học Giao thông Vận
tải” của Vũ Thị Hồng Nhung; “Tìm hiểu quá trình xử lý tài liệu tại Trung tâm
Thông tin-Thư viện Đại học Giao thông Vận tải” năm 2008 của Bùi Thị Thuy; “Tìm
hiểu công tác tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin-Thư
viện Trường Đại học Giao thông Vận tải” năm 2008 của Vũ Văn Hồng…
Về vấn đề SP&DV TT-TV của Trung tâm cũng đã có 01 đề tài luận văn tốt
nghiệp: “Tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện của Thư viện Đại học
Giao thông Vận tải” năm 2005 của Vũ Thị Thuý Nhài. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ đề
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
Page 4
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
cập tới những SP&DV TT-TV dạng truyền thống, ít đề cập đến các SP&DV TT-TV
hiện đại.
Đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện của
Trung tâm Thông tin-Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội” sẽ đi
sâu vào các loại hình SP&DV TT-TV hiện đại, sẽ là đề tài phát triển cao hơn, hoàn
thiện hơn so với các tài liệu về vấn đề SP&DV TT-TV của Trung tâm đã được đề
cập đến trước đó.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu: Khoá luận tìm hiểu và đánh giá hiệu quả hệ thống các
SP&DV TT–TV của Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN.
đại hiện đang là thế mạnh của Trung tâm.
- Khoá luận đưa ra đánh giá, nhận xét về hệ thống SP&DV TT–TV của
Trung tâm, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng SP&DV TTTV. Khoá luận sẽ là góp ý để Ban lãnh đạo Trung tâm xem xét và nâng cao hơn
chất lượng hoạt động TT–TV của mình.
1.7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung khóa luận gồm có 3
chương:
Chương 1: Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông
Vận tải Hà Nội trước nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường
Chương 2: Thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện của
Trung tâm Thông tin – thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
Page 6
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản
phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trung tâm Thông tin – thư viện Trường
Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
Page 7
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
Page 8
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
Trong những năm 1972-1973, do hoàn cảnh chiến tranh Nhà trường phải đi
sơ tán. Tuy nhiên, Nhà trường vẫn tham gia đóng góp xây dựng được nhiều công
trình giao thông quan trọng cho Đất nước. Đến năm 1973, Nhà trường trở về Hà
Nội, ngay lập tức bắt tay vào công tác ổn định và tiếp tục sự nghiệp giáo dục, đào
tạo của mình. Năm 1984, Trường chuyển về Bộ Đại học và Trung học chuyên
nghiệp ( Nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) quản lý. Năm 1985, Trường được đổi tên
thành Trường ĐH GTVTHN. Từ những cơ sở này, Nhà trường không ngừng nỗ lực
kiện toàn, hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
cán bộ kỹ thuật có trình độ cho Đất nước.
Hiện nay, Trường ĐH GTVTHN có đội ngũ cán bộ, giảng viên, công nhân
viên là 1.003 người. Trong đó: 452 Đảng viên; 726 Giảng viên; 4 Giáo sư; 42 Phó
Giáo sư; 2 Tiến sỹ Khoa học; 106 Tiến sỹ; 225 Thạc sỹ; 2 Nhà giáo Nhân dân và 18
Nhà giáo ưu tú.
Trong hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển của mình, Trường ĐH
GTVTHN đã đạt được rất nhiều thành tựu, được Đảng và Nhà nước nhiều lần tặng
bằng khen: Huân chương kháng chiến hạng nhì (1973); 02 huân chương lao động
hạng ba (1966 và 1999); 02 huân chương lao động hạng nhì (1977 và 2004); 02
huân chương lao động hạng nhất (1982 và 1990); 01 huân chương độc lập hạng ba
(1986); 01 huân chương độc lập hạng nhì (1995); 01 huân chương độc lập hạng nhất
(2000); 01 huân chương Hồ Chí Minh (2005); 01 danh hiệu Anh hùng lao động
(2007); 02 huân chương tự do, 01 huân chương lao động hạng nhất, 01 huân chương
hữu nghị của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào; Nhiều tập thể, cá nhân trong
trường được nhận huân chương, huy chương các loại…
Trường ĐH GTVTHN kỳ vọng trở thành một trường đại học kỹ thuật- công
Nhà trường đã cho phép mở rộng mạng máy tính của Trung tâm TT-TV lên tới 50
máy tính. Đến năm 2003-2004, Trường tham gia dự án mức C “Xây dựng trung tâm
tài nguyên TT-TV”. Đây là một dự án lớn góp phần làm thay đổi căn bản Trung tâm
cả về lượng và chất. Dự án này đã cho phép xây dựng một cơ sở hạ tầng thông tin
hiện đại, trang bị số lượng lớn tài liệu truyền thống và tài liệu điện tử bằng tiếng
Việt và tiếng nước ngoài mới nhất. Đồng thời dự án còn bao gồm cả chương trình
đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước nhằm nâng cao nghiệp vụ thư viện và trình
độ quản lý đội ngũ cán bộ thư viện.
Hiện nay, Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN được đánh giá là Trung
tâm TT-TV hiện đại nhất cả nước và là thư viện điện tử đóng góp hiệu quả vào quá
trình phát triển của Trường ĐH GTVTHN.
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
10
Page
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
1.2.2 .Chức năng, nhiệm vụ
* Chức năng
Trung tâm Thông tin Thư viện Trường ĐH GTVTHN nằm trong hệ thống
TT-TV cả nước. Bên cạnh đó, Trung tâm được định hướng là bộ phận tư liệu của
Trường ĐH GTVTHN hoạt động phù hợp với xu hướng hiện đại của xã hội và yêu
cầu đào tạo của Nhà trường. Đây là Trung tâm TT-TV chuyên ngành. Vì vậy, Trung
tâm vừa mang những chức năng chung của một Trung tâm TT–TV, vừa có chức
năng riêng phục vụ cho các chuyên ngành giao thông vận tải của Nhà trường.
Trong hoạt động TT-TV của các trường đại học, ngoài chức năng cơ bản của
một thư viện là tàng trữ nguồn thông tin, văn hoá, giáo dục. Trung tâm TT-TV
Trường ĐH GTVTHN có vai trò quan trọng là giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa
giao, gồm toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất trang thiết bị, hệ thống tài nguyên thông
tin của Trung tâm.
- Tổ chức các công tác in ấn, xuất bản chung của Nhà trường, các tài liệu
giảng dạy, học tập dùng trong nội bộ Nhà trường.
- Tiếp tục cập nhật kiến thức, không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ, tin
học, ngoại ngữ… cho các cán bộ của đơn vị.
1.2.3. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trung tâm
* Cơ cấu tổ chức
Theo quyết định số 753QĐ/BGD &ĐT/TCCB năm 2002, cơ cấu tổ chức của
Trung tâm được tổ chức một cách chặt chẽ, cụ thể gồm 01 Giám đốc, 02 Phó giám
đốc quản lý các Phòng, Ban trực thuộc của Trung tâm
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
12
Page
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
Ban
Giám
đốc
Bộ
phận
nghiệp
vụ
Bộ
phận
phục vụ
NDT
Phòng
đọc
Việt
Phòng
đọc
báo-tạp
chí…
Page 13
Phòng
đọc
điện tử
Phòng
đọc
sách
tiếng
Nga
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
* Đội ngũ cán bộ
Hiện nay, Trung tâm TT–TV Trường ĐH GTVTHN có 20 cán bộ, các cán bộ
của Trung tâm đều là những cán bộ có chuyên môn, nghiệp vụ cao về nghiệp vụ
TT-TV, đồng thời có chuyên môn, kiến thức về chuyên ngành giao thông vận tải.
Trong đó có: 04 thạc sỹ, 15 cử nhân, 01 trung cấp.
Hàng năm, Trung tâm vẫn không ngừng tiếp tục bổ sung số lượng cán bộ,
đồng thời tổ chức đào tạo, đào tạo lại chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ để cán bộ
của Trung tâm có thể bắt kịp với nhịp độ phát triển chung của ngành TT-TV trong
nước cũng như thế giới để nâng cao chất lượng phục vụ cho NDT của Trung tâm.
Các cán bộ thư viện của Trung tâm luôn được quan tâm về đời sống vật chất và tinh
thần tạo điều kiện cho họ có thể học tập, nâng cao chuyên môn, khả năng nghiệp vụ,
yên tâm phát huy hết khả năng, năng lực của bản thân nhằm nâng cao chất lượng
phục vụ NDT.
1.2.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lực thông tin của Trung tâm
* Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng và các thiết bị vật chất kỹ thuật
Để trở thành Trung tâm TT–TV hiện đại hàng đầu cả nước như hiện nay
Trung tâm đã trải qua những khó khăn, nỗ lực không ngừng, biết tận dụng những cơ
hội cũng như phát huy những khả năng nội tại của Trung tâm. Năm 2005, được sự
đầu tư, hỗ trợ của Dự án Giáo dục Đại học do World Bank tài trợ ở mức C, hầu hết
trang thiết bị của Trung tâm được trang bị mới hoàn toàn từ đầu. Hiện nay, Trung
tâm đã xây dựng được một mặt bằng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật kiện toàn, hiện
đại với khuôn viên rộng 4000 m2, khang trang, thoáng mát, đảm bảo các điều kiện
cho các công tác nghiệp vụ của Trung tâm. Hệ thống cơ sở vật chất cần thiết cho
công tác phục vụ NDT như hệ thống bàn ghế, tủ kệ, tủ trưng bày, máy tính, quạt,
bóng điện, máy điều hoà….cũng được đầu tư và trang bị đầy đủ.
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
đều được trang bị hệ thống máy tính để phục vụ NDT.
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
16
Page
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
Ngoài ra còn có một số thiết bị mạng Swich, thiết bị không dây để đảm bảo
khả năng hỗ trợ các kết nối tốc độ cao, hỗ trợ các công nghệ tiên tiến, truyền thông
đa phương tiện (mutilmedia). Đồng thời tăng khả năng truy nhập hệ thống, cho
phép các giáo viên và học viên trong Trường có thể đồng thời sử dụng các máy tính
cá nhân của mình để truy cập mạng khi cần thiết…
- Máy in Lazer các cỡ phục vụ cho công tác nghiệp vụ và NDT sao chụp tài
liệu.
- Hệ thống kiểm tra từ: Được đặt ở 3 phòng đọc mở để bảo đảm an toàn cho
nguồn tài liệu.
- Hệ thống Camera theo dõi: Được đặt ở tất cả các phòng của Trung tâm. Có
khoảng 30 camera có khả năng lưu giữ hình ảnh, được lắp đặt ở các vị trí khác nhau
giúp cho cán bộ Trung tâm có thể quan sát NDT thuận tiện và dễ dàng.
- Hệ thống khoá và mở cửa tự động dùng thẻ từ cho các phòng nghiệp vụ của
Trung tâm.
- Nhãn từ tính: Được dán trên khoảng 6000 đầu tài liệu được sử dụng trong
phòng đọc tự chọn.
- Các máy đọc mã vạch sử dụng ở các quầy cho mượn sách.
- Máy photocopy phục vụ cho nghiệp vụ và NDT sử dụng…
Hạ tầng phần mềm: Trung tâm không ngừng xây dựng và phát triển hệ thống
phần mềm ứng dụng nhằm tăng hiệu quả hoạt động nghiệp vụ của Trung tâm:
- Phần mềm quản lý thư viện ILIB của công ty CMC
- Phần mềm thư viện số DLIB
- Phần mềm xuất bản thông tin.
- Công nghệ RFID.
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
18
Page
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
Cùng một số phần mềm công cụ phục vụ cho ứng dụng và phát triển các tiện
ích khác.
* Nguồn lực thông tin
• Nguồn tin truyền thống.
Nguồn tin truyền thống của Trung tâm hiện có rất đa dạng và phong phú cả
về số lượng và loại hình. Theo thống kê năm 2006, Trung tâm có tổng số 40.960
đầu sách với 127.358 cuốn tài liệu với tất cả các loại hình: giáo trình, sách tham
khảo, sách ngoại văn, tài liệu tra cứu, luận văn, luận án, nghiên cứu khoa học, báo,
tạp chí tiếng Việt, tạp chí tiếng nước ngoài… Các tài liệu này chủ yếu về lĩnh vực
chuyên ngành giao thông vận tải, chuyên ngành Nhà trường đào tạo: CNTT, Cơ khí,
Thủy lợi, Kiến trúc… Ngoài ra cũng có những tài liệu về xã hội, các tài liệu giải trí,
văn học…
Hầu hết các nguồn tài liệu này đang được Trung tâm tiến hành số hoá để đưa
vào phục vụ NDT một các thuận tiện hơn. Bên cạnh đó Trung tâm vẫn thường
xuyên mua, xử lý, số hoá và phục vụ NDT 200 loại báo, tạp chí các loại (gồm cả
trong nước và ngoài nước).
Bảng 1: Nguồn lực thông tin truyền thống của Trung tâm Thông tin – Thư viện
4
Ngoại văn
3778
4639
5
Sách tra cứu
28
37
6
Luận văn
963
1102
7
Luận án
34
52
52
11
Tạp chí đóng quyển
4091
4091
•
Nguồn tin điện tử: Bao gồm các CSDL ngoại nhập và CSDL nội sinh.
+ CSDL nội sinh: là CSDL do Trung tâm xây dựng. Hiện nay, Trung tâm đã
xây dựng được 80 CSDL điện tử, 500 CSDL báo- tạp chí điện tử và 10 CSDL về
chuyên ngành GTVT từ mạng Internet…
Ngoài ra còn có các CSDL được lưu trữ dưới dạng đĩa CD–ROM về các
luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học của các giảng viên, sinh viên... trong
Trường.
+ Nguồn tài liệu ngoại nhập: là CSDL do Trung tâm mua và trao đổi trong
nước và nước ngoài. Hiện nay, Trung tâm có 8 CSDL chuyên ngành bằng tiếng Anh
Trung tâm mua từ nước ngoài:
- CSDL Tiêu chuẩn Giao thông Vận tải.
- CSDL tiêu chuẩn về giao thông vận tải của Viện tiêu chuẩn Anh (BSI).
- Tạp chí điện tử của Viện Điện – Điện tử - Kỹ thuật Mỹ.
- CSDL tiêu chuẩn về giao thông vận tải của Viện tiêu chuẩn Anh (BSI).
- Tạp chí điện tử toàn văn của Hội Kỹ thuật dân dụng Mỹ (ASCE).
Nhóm NDT là cán bộ lãnh đạo và quản lý bao gồm: Ban Giám hiệu Nhà
trường, cán bộ các phòng, ban chức năng, ban chủ nhiệm khoa, chủ nhiệm môn và
các cấp lãnh đạo thuộc ĐH GTVTHN.
Nhóm 2: Nhóm NDT là cán bộ giảng dạy
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
21
Page
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
Nhóm NDT là cán bộ giảng dạy bao gồm: Đội ngũ cán bộ của Trung tâm,
chủ yếu là những cán bộ có trình độ cao, sử dụng CNTT thành thạo để phục vụ cho
công tác nghiệp vụ của họ. Hiện nay, Trường ĐH GTVTHN có đội ngũ cán bộ,
giảng viên, công nhân viên là 1.003 người. Trong đó: 452 Đảng viên; 726 Giảng
viên; 04 Giáo sư; 42 Phó Giáo sư; 02 Tiến sỹ Khoa học; 106 Tiến sỹ; 225 Thạc sỹ;
02 Nhà giáo Nhân dân và 18 Nhà giáo ưu tú. Đây là những cán bộ trực tiếp trong
công tác giảng dạy của Nhà trường. Trung tâm cần quan tâm đến đối tượng này,
cung cấp cho họ những thông tin phù hợp và có phương pháp cung cấp phù hợp để
họ có được thông tin một cách nhanh nhất và đầy đủ nhất.
Nhóm 3: Nhóm NDT là nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và sinh viên
Nhóm NDT là nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và sinh viên: là đối
tượng phục vụ chủ yếu của Trung tâm. Đây là đối tượng có NCT phong phú và đa
dạng nhất và cũng là đối tượng dùng tin có trình độ cao, có khả năng sử dụng CNTT
trong khai thác và sử dụng thông tin.
1.3.2. Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin Trường Đại học Giao thông Vận tải
Hà Nội.
Tương ứng với từng nhóm NDT khác nhau của Trung tâm sẽ có những đặc
thông tin, tài liệu. Về mặt hình thức, hoạt động TT-TV bao gồm các hoat động bổ
sung, xử lý, lưu trữ, bảo quản tài liệu...
Nhằm mục đính đánh giá đúng vai trò của SP&DV TT-TV trong hoạt động
TT-TV, cần phải hiểu rõ khái niệm về SP&DV TT-TV.
Sản phẩm thông tin - thư viện (SP TT-TV) là kết quả của quá trình xử lý
thông tin, do một cá nhân/ tập thể nào đó thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu của
NDT. [12, tr. 21]
Dịch vụ thông tin - thư viện bao gồm những hoạt động nhằm thoả mãn nhu
cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan TT-TV nói
chung. [12, tr. 24]
Đối với hoạt động TT-TV, SP&DV TT-TV là công cụ cơ bản để thoả mãn
nhu cầu thông tin của NDT. SP&DV TT-TV chính là thước đo để nghiên cứu đánh
giá hoạt động, xác định được đóng góp của các cơ quan TT-TV trong quá trình phát
triển của cơ quan chủ quản nói riêng và quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói
chung.
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
23
Page
Tìm hiểu SP&DV TT-TV của Trung tâm TT-TV Trường ĐH GTVTHN
SP&DV TT-TV đóng vai trò quan trọng trong hoạt động TT-TV của Trung
tâm. Chúng được xem là công cụ, phương tiện hoạt động do Trung tâm tạo ra để
xác định, truy nhập, khai thác, quản lý các nguồn tin nhằm đáp ứng nhu cầu của
NDT. SP&DV TT-TV là cầu nối giữa NDT với các nguồn lực thông tin của Trung
tâm. Do đó chất lượng của SP&DV TT-TV được xem là thước đo, là nhân tố quyết
định trực tiếp đến hiệu quả hoạt động phục vụ nhu cầu thông tin cho NDT của
các nhiệm vụ mà Nhà Trường đã giao phó cho Trung tâm lại càng trở nên quan
trọng và cấp bách.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN
– THƯ VIỆN CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI
HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HÀ NỘI
2.1. Thực trạng các sản phẩm thông tin thư viện của Trung tâm Thông tin Thư
viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội.
2.1.1. Hệ thống mục lục
Hệ thống mục lục là tập hợp các đơn vị/ phiếu mục lục được sắp xếp theo
một trình tự nhất định, phản ánh nguồn tin của một/ một nhóm cơ quan TT–TV.
[12, tr. 37]
Vì vậy, ta cũng có thể hiểu: Mục lục là một tập hợp có thứ tự các điểm truy
nhập, cùng với các mô tả thư mục tới nguồn tài liệu của một/ một nhóm cơ quan
TT–TV cụ thể.
Hệ thống mục lục được xây dựng với những chức năng, mục đích quan
trọng:
+ Cho phép NDT xác định được vị trí của tài liệu trong kho, các thông tin về
tài liệu.
+ Hệ thống mục lục phản ánh được trữ lượng, thành phần kho tài liệu.
+ Trợ giúp cho việc lựa chọn tài liệu của NDT.
Đây là một loại SP TT có vai trò quan trọng: “là công cụ tra cứu quan trọng
vào bậc nhất trong thư viện” (M. Bloomberg và G.E. Evans) [12, tr. 38]
Trần Thị Loan – K50 – Thông tin thư viện
25
Page