TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
HÀ VIỆT PHƢƠNG
TÌM HIỂU CÁC SẢN PHẨM
VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƢ VIỆN
TẠI THƢ VIỆN TỈNH NINH BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thƣ viện – thông tin Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S NGUYỄN THỊ HẠNH
Hà Việt Phƣơng
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài „„Tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin
- thư viện tại thư viện tỉnh Ninh Bình’’ là đề tài nghiên cứu của riêng em
dƣới sự hƣớng dẫn của thạc sĩ Nguyễn Thị Hạnh. Đề tài này đƣợc độc lập
nghiên cứu trên cơ sở tham khảo tài liệu, khảo sát thực tế và sự phân tích,
đánh giá tổng hợp của bản thân. Khóa luận hoàn toàn không có sự sao chép
nguyên văn của bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào.
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2014
Tác giả khóa luận Hà Việt Phƣơng DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
NDT: Ngƣời dùng tin
DDC: Dewey Decimal Classification
CSDL: Cơ sở dữ liệu
1.1.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của sản phẩm và dịch
vụ thông tin – thƣ viện 9
1.1.3 Tiêu chí đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện 12
1.2 Hoạt động thông tin - thƣ viện tại thƣ viện tỉnh Ninh Bình 13
1.2.1 Khái quát về thƣ viện tỉnh Ninh Bình 13
1.2.2 Nhu cầu tin và ngƣời dùng tin tại thƣ viện tỉnh Ninh Bình. 15
1.2.3 Nguồn lực thông tin của thƣ viện tỉnh Ninh Bình. 19
1.3 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện tại thƣ viện
tỉnh Ninh Bình. 20
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN -
THƢ VIỆN TẠI THƢ VIỆN TỈNH NINH BÌNH 22
2.1 Sản phẩm thông tin - thƣ viện tại thƣ viện tỉnh Ninh Bình 22
2.1.1 Hệ thống mục lục 22
2.1.2 Thƣ mục. 28
2.1.3 Cơ sở dữ liệu. 34
2.2 Dịch vụ thông tin – thƣ viện. 37
2.2.1 Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc. 37
2.2.2 Dịch vụ tra cứu tin 43
2.2.3 Giới thiệu, triển lãm sách 44
2.2.4 Dịch vụ hỏi đáp và tƣ vấn thông tin. 45
CHƢƠNG 3. NHẬN XÉT VÀ KHUYẾN NGHỊ 47
3.1 Nhận xét 47
3.1.1 Ƣu điểm 47
3.1.2 Nhƣợc điểm 48
3.1.3 Nguyên nhân 49
3.2 Khuyến nghị 50
3.2.1 Phát triển nguồn lực thông tin và tăng cƣờng cơ sở vật chất,
trang thiết bị 50
3.2.2 Phát huy nguồn lực con ngƣời. 53
3.2.3 Nâng cao chất lƣợng các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ
mở rộng khả năng giao lƣu, hội nhập và hợp tác giữa các thƣ viện trong và
ngoài nƣớc, đòi hỏi các trung tâm thông tin – thƣ viện cần cung cấp những
sản phẩm và dịch vụ thông tin với chất lƣợng ngày một cao hơn, chính xác và
kịp thời tới NDT.
Trong những năm gần đây, thƣ viện tỉnh Ninh Bình đã có nhiều cố
gắng xây dựng, hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng các sản phẩm và dịch vụ
thông tin. Thƣ viện đã đạt đƣợc nhiều thành tựu trong việc đáp ứng nhu cầu
thông tin, nâng cao dân trí, áp dụng những tiến bộ khoa học vào cuộc sống,
kinh tế của địa phƣơng. Tuy nhiên, việc xây dựng và phát triển các sản phẩm
và dịch vụ thông tin – thƣ viện tại thƣ viện tỉnh Ninh Bình trên thực tế vẫn
2
chƣa theo kịp so với tốc độ gia tăng nhu cầu tin, nhiều mảng tài liệu chƣa
đƣợc tổ chức và khai thác. Để phục vụ cho sự nghiệp phát triển chung của
toàn tỉnh trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, thƣ viện tỉnh Ninh Bình cần có
những giải pháp cụ thể để phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ
viện của cơ quan mình.
Chính vì lẽ đó, em đã lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu các sản phẩm và dịch
vụ thông tin thư viện tại thư viện tỉnh Ninh Bình” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình. Với mong muốn vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã
học để tìm hiểu và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ,
đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu tin của NDT tại thƣ viện tỉnh Ninh Bình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề “Tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư vện” đã
đƣợc đề cập đến trong khóa luận tốt nghiệp của sinh viên và luận văn thạc sĩ
trong những năm gần đây:
- Đào Linh Chi (2007), Nghiên cứu phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin – thư viện tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.
- Nguyễn Thị Hạnh (2012), Nghiên cứu phát triển các sản phẩm và
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện tại
thƣ viện tỉnh Ninh Bình.
- Phân tích những yếu tố tác động đến các sản phẩm, dịch vụ thông tin -
thƣ viện.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông
tin thƣ viện tại thƣ viện tỉnh Ninh Bình.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Dựa trên phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
4
chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các chủ trƣơng chính sách
của Đảng, nhà nƣớc về phát triển văn hóa, giáo dục và hoạt động thông tin.
Phương pháp cụ thể:
Để thực hiện đề tài em đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp tài liệu.
- Phƣơng pháp quan sát (khảo sát thực tế).
- Phƣơng pháp thống kê toán học.
- Phƣơng pháp phân tích phiếu yêu cầu của bạn đọc.
- Phƣơng pháp phỏng vấn.
6. Ý nghĩa của khóa luận
Về mặt lí luận:
Khẳng định tầm quan trọng của việc hoàn thiện và phát triển các sản
phẩm và dịch vụ thông tin thƣ viện, hiệu quả của vệc sử dụng các sản phẩm
và dịch vụ thông tin - thƣ viện.
Về mặt thực tiễn:
Trên cơ sở nghiên cứu chất lƣợng các sản phẩm và dịch vụ thông tin
thƣ viện, đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả các
sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện tại thƣ viện tỉnh Ninh Bình.
tổng hợp thông tin.
Nhu cầu về sản phẩm thông tin – thƣ viện luôn luôn thay đổi, nó tƣơng
ứng và phù hợp với sự phát triển các nguồn tin cũng nhƣ nhu cầu nhận thức
của con ngƣời. Sản phẩm thông tin – thƣ viện trong quá trình tồn tại và phát
triển của mình cần không ngừng đƣợc hoàn thiện để thích ứng cả về nội dung
và hình thức với nhu cầu mà nó hƣớng tới.
Dịch vụ, cho đến nay chƣa có một định nghĩa về nó đƣợc chấp nhận
trên phạm vi toàn cầu. Tính vô hình và khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng,
phức tạp của các loại hình dịch vụ làm cho việc định nghĩa dịch vụ trở nên
6
khó khăn. Có thể hiểu dịch vụ luôn mang lại tiện ích nhằm thỏa mãn nhu cầu
cho mọi đối tƣợng trong cộng đồng.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “dịch vụ là những hoạt động phục
vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt”.
Trong Đại Từ điển tiếng Việt: "dịch vụ là công việc phục vụ cho đông
đảo quần chúng".
Tƣơng tự khái niệm về sản phẩm, thuật ngữ dịch vụ đƣợc sử dụng trong
nhiều lĩnh vực hoạt động. Trong lĩnh vực thông tin, dịch vụ thông tin – thƣ
viện bao gồm những công việc mang tính chuyên môn hóa và khi thực hiện
cần phải sử dụng một số tài sản hoặc một số sản phẩm nào đó.
Theo giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện” của tác giả
Trần Mạnh Tuấn thì dịch vụ thông tin – thƣ viện đƣợc định nghĩa: “Dịch vụ
thông tin – thƣ viện bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông
tin và trao đổi thông tin của ngƣời sử dụng các cơ quan thông tin – thƣ viện
nói chung”.
Dịch vụ thông tin – thƣ viện có mối quan hệ chặt chẽ giữa NDT và cán
bộ thƣ viện. Trên cơ sở các yêu cầu về thông tin của NDT, cán bộ thƣ viện
triển khai các dịch vụ, ngƣợc lại nhờ các dịch vụ do cán bộ thƣ viện tạo ra
NDT đƣợc thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình. Dịch vụ thông tin – thƣ viện
- Tính không thể tách rời/chia cắt (inseparability):
Thông thƣờng để thực hiện một dịch vụ, ngƣời cung cấp dịch vụ
thƣờng phải tiến hành một số bƣớc hoặc thao tác đi liền với nhau, không thể
tách rời nhau để thu đƣợc kết quả mà ngƣời mua dịch vụ mong muốn.
Ví dụ, trong dịch vụ tìm kiếm thông tin, để có thể ngƣời cung cấp
thông tin cần phải thực hiện một số bƣớc sau đây:
1. Phân tích nhu cầu.
8
2. Xác định nguồn.
3. Thực hiện quá trình tìm.
4. Gửi kết quả tìm.
Các bƣớc trên không thể đƣợc tiến hành độc lập, bởi vì NDT không
quan tâm tới các kết quả riêng lẻ, mà họ chỉ quan tâm đến kết quả mà họ nhận
đƣợc có thỏa mãn nhu cầu của họ hay không.
Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện đóng vai trò quyết định hiệu
quả của hoạt động thông tin. Thông qua hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông
tin, các cơ quan có thể khẳng định đƣợc vai trò cũng nhƣ vị trí của mình trong
xã hội. Trƣớc nhu cầu giao lƣu, hội nhập và hợp tác giữa các thƣ viện trong
và ngoài nƣớc đòi hỏi các trung tâm thông tin – thƣ viện cần cung cấp những
sản phẩm và dịch vụ thông tin với chất lƣợng ngày một cao hơn, chính xác và
kịp thời tới NDT.
Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện là một hệ thống hết sức năng
động, luôn phát triển. Đây chính là kết quả của quy trình xử lý thông tin, là
cầu nối giữa giá trị nguồn lực thông tin và NDT. Chúng đƣợc xem là công cụ,
phƣơng tiện hoạt động để xác định, truy nhập khai thác, quản lý các nguồn, hệ
thống thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu của NDT.
Chất lƣợng của sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện đƣợc xem là
thƣớc đo hiệu quả hoạt động, là yếu tố cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ của
từng thƣ viện. Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện còn giúp cho việc
là vấn đề kỹ thuật mà chủ yếu là chia sẻ quyền lợi giữa những ngƣời tạo ra
thông tin, cung cấp thông tin và NDT thông tin.
Có thể khẳng định việc tạo điều kiện cho NDT thông qua các sản phẩm
và dịch vụ thông tin – thƣ viện thích hợp để khai thác nguồn tin là hoàn toàn
hợp lý. Đây cũng là mục tiêu cơ bản của các cơ quan thông tin trong hoạt
động của mình.
10
- Chính sách thông tin quốc gia.
Để có thể tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện phù hợp,
các cơ quan thông tin – thƣ viện cần có đƣợc hạ tầng thông tin quốc gia cho
phép nó hòa nhập với cộng đồng thông tin trong khu vực và quốc tế. Tuy
nhiên, có đƣợc điều kiện này hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách quốc gia, nhờ
đó chính phủ có cơ sở, kế hoạch định hƣớng đầu tƣ thỏa đáng, hợp lý. Ở Việt
Nam, do sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trƣờng nên càng thấy rõ sự quan
trọng và sự cần thiết của một chính sách thông tin quốc gia đồng bộ để tạo điều
kiện cho các cơ quan quản lý, khai thác thông tin có điều kiện để phát huy hết
chức năng và tận dụng tốt môi trƣờng thông tin dồi dào ở nƣớc ta hiện nay.
1.1.2.2 Các yếu tố trong cơ quan thông tin - thư viện
- Đối tƣợng xử lý thông tin
Đối tƣợng xử lý thông tin là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh
hƣởng trực tiếp tới các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện. Bởi vì, sản
phẩm chính là sự phản ánh về đối tƣợng, nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin về
chúng cho NDT.
Trong những năm gần đây, ngoài nguồn tài liệu (xuất bản phẩm: sách,
tài liệu chuyên khảo, báo, tạp chí, bản đồ, video, tranh ảnh ) vẫn đƣợc coi là
một trong những đối tƣợng xử lý thông tin quan trọng, các cơ quan thông tin –
thƣ viện còn quan tâm tới những đối tƣợng khác nhƣ các cơ quan, đơn vị hành
chính, cá nhân, các quá trình, hiện tƣợng Mỗi nhóm đối tƣợng này chứa
đựng các thông tin hết sức khác biệt nhau, có khả năng thỏa mãn những dạng
và dịch vụ thông tin – thƣ viện của mình. Công nghệ thông tin còn thâm nhập
cả vào quá trình tạo lập nội dung thông tin, quá trình phân phối thông tin, quá
trình trao đổi và truyền thông tin để hình thành nên các sản phẩm tƣơng ứng,
đặc biệt, là việc khai thác, chia sẻ, sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin
– thƣ viện của nhiều cơ quan khác nhau.
12
1.1.3 Tiêu chí đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện
1.1.3.1 Đối với sản phẩm thông tin – thư viện
Để đƣa ra những sản phẩm thông tin – thƣ viện có chất lƣợng cao, đáp
ứng nhu cầu của NDT, cần dựa trên những tiêu chí cơ bản để đánh giá chất
lƣợng các sản phẩm. Hiện nay, có nhiều tiêu chí để đánh giá chất lƣợng các
sản phẩm thông tin – thƣ viện nhƣ:
- Mức độ bao quát nguồn tin: thể hiện ở khả năng bao quát toàn bộ
nguồn tin, thể hiện ở sự đầy đủ, đa dạng, phong phú bao quát các lĩnh vực
thông tin mà NDT quan tâm. Bên cạnh đó, mức độ bao quát nguồn tin không
chỉ đòi hỏi ở sự phát triển đồng đều giữa các loại hình sản phẩm mà phải phát
triển các loại hình mới phù hợp với những đối tƣợng NDT mới.
- Mức độ chính xác, khách quan: thể hiện thông tin phải sát thực với
tài liệu gốc, đảm bảo những nguyên tắc trong việc sử dụng và xử lý thông tin
từ biên mục, phân loại, định từ khóa Bên cạnh đó khắc phục, loại bỏ
những thông tin không cần thiết, không rõ ràng, nội dung sai lệch hoặc
không chính xác
- Khả năng cập nhật thông tin và tìm kiếm thông tin: thể hiện ở chỗ
thông tin phải đƣợc tiến hành đều đặn, bổ sung thƣờng xuyên, đảm bảo tính
liên tục. Còn khả năng tìm kiếm thông tin thể hiện ở các phƣơng tiện tra cứu
tin phải giúp NDT dễ sử dụng, khai thác. Tốc độ tìm tin linh hoạt, nhanh
chóng, kịp thời, đáp ứng tối đa nhu cầu tin cho NDT. Ngoài ra, khả năng tìm
kiếm thông tin phải đƣợc thể hiện ở dƣới nhiều hình thức tìm khác nhau nhƣ:
mục lục chữ cái, mục lục phân loại, thƣ mục hay trên các CSDL
Bình nằm trong thƣ viện tỉnh Hà Nam Ninh với vốn sách ban đầu không đáng
kể (7345 bản), chủ yếu là sách quyên góp, cán bộ nhân viên ít.
Năm 1992 tỉnh Hà Nam Ninh chia tách thành ba tỉnh: Hà Nam, Nam
Định, Ninh Bình.Từ lúc này Ninh Bình mới trở thành một tỉnh riêng biệt, và
14
thƣ viện đƣợc chia tách độc lập. Thƣ viện tỉnh Ninh Bình ban đầu là một bộ
phận trực thuộc phòng văn hóa quần chúng.
Cho đến nay, qua nhiều sự thay đổi, tới năm 2005 trụ sở thƣ viện tỉnh
Ninh Bình đƣợc xây dựng và đặt tại đƣờng Lê Hồng Phong, phƣờng Vân
Giang, TP. Ninh Bình. Thƣ viện gồm 3 tầng, khuôn viên rộng rãi.
Cơ cấu tổ chức của thƣ viện bao gồm các phòng ban:
- Phòng giám đốc.
- Phòng phó giám đốc.
- Phòng hành chính tổng hợp.
- Phòng tin học.
- Phòng bổ sung xử lí kĩ thuật.
- Phòng tuyên truyền phong trào cơ sở.
- Phòng đọc báo tạp chí
- Phòng địa chí.
- Phòng đọc tổng hợp.
- Phòng mƣợn.
- Phòng đọc điện tử.
- Phòng luân chuyển.
Từ khi mới thành lập, thƣ viện mới có 9 cán bộ, hiện nay thƣ viện có
24 cán bộ. Trong đó, có 5 cán bộ thƣ viện có trình độ đại học, 15 cán bộ thƣ
viện trình độ cao đẳng và 4 cán bộ thƣ viện trình độ trung cấp.
Hàng năm, ngoài nguồn kinh phí đƣợc cấp để duy trì việc bổ sung sách
báo và mua sắm các trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn và phục vụ
bạn đọc, thƣ viện tỉnh Ninh Bình đã tiếp nhận nguồn kinh phí từ chƣơng trình
NDT của thƣ viện tỉnh Ninh Bình thuộc nhiều đối tƣợng khác nhau với
các nhu cầu tin đa dạng và có thể chia thành các nhóm cơ bản sau:
16
- Nhóm 1: Cán bộ quản lí, lãnh đạo.
- Nhóm 2: Cán bộ nghiên cứu giảng dạy, cán bộ trong các đơn vị hành
chính, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh.
- Nhóm 3: Học sinh, sinh viên.
- Nhóm 4: Các đối tƣợng khác.
Để tiến hành nghiên cứu về NDT và nhu cầu tin, khóa luận chủ yếu sử
dụng phƣơng pháp phỏng vấn, quan sát, điều tra bằng phiếu, thống kê yêu cầu
tin và phân tích các dữ liệu.
Nhóm 1: Cán bộ quản lí, lãnh đạo
Đây là nhóm NDT chiếm số lƣợng ít, khoảng 22.5% trong tổng số
NDT của thƣ viện nhƣng lại là nhóm NDT rất quan trọng.
Đặc điểm của nhóm người dùng tin này:
Họ là những ngƣời có trình độ văn hóa cao. Công việc của họ gắn với
chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc.
Đối tƣợng lao động hàng ngày của họ là thông tin: thông tin vừa là
phƣơng tiện vừa là sản phẩm của quá trình quản lí.
Cán bộ quản lí lãnh đạo là những ngƣời đƣa ra cá quyết định mang tính
chiến lƣợc và sách lƣợc ở tầm vĩ mô hay vi mô. Vì vậy, nhà quản lí, lãnh đạo
muốn nắm bắt những kiến thức thông tin tổng hợp ở diện rộng về nhiều lĩnh
vực, khía cạnh khác nhau và luôn xem xét vấn đề dƣới con mắt kinh tế, chính
trị và môi trƣờng.
Về các kỹ năng sử dụng và khai thác nguồn lực thông tin. Đây là nhóm
đối tƣợng không đƣợc qua các lớp giới thiệu và hƣớng dẫn sử dụng thƣ viện,
họ thƣờng tìm kiếm tài liệu theo thói quen hoặc nhờ cán bộ thƣ viện tìm giúp.
Về nhu cầu tin:
Do đặc thù công việc nên nhóm đối tƣợng này có nhu cầu rất cao về
Tài liệu họ cần thƣờng là tài liệu xám, chuyên sâu về một ngành, một
lĩnh vực mà họ quan tâm.
18
Hình thức phục vụ nhóm này là các thông tin chuyên đề, thông tin chọn
lọc, thông tin tài liệu mới.
Để đáp ứng nhu cầu của nhóm NDT này đòi hỏi cán bộ thƣ viện phải
là ngƣời hểu biết sâu rộng về chuyên môn nghiệp vụ và các vấn đề kinh tế, xã
hội, văn hóa Đồng thời tạo ra các dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu của họ.
Nhóm 3: Học sinh, sinh viên
Học sinh, sinh viên là nhóm độc giả đƣợc nhiều sự quan tâm của thƣ
viện, với số lƣợng đông đảo. Đó là học sinh của trƣờng Đảng, Đại học, Cao
đẳng, trung cấp chuyên nghiêp, trung học phổ thông, trung học cơ sở, tiểu học
nằm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Nhóm này chiếm khoảng 42.5% số lƣợng
bạn đọc.
Đặc điểm của nhóm người dùng tin này:
Là những ngƣời có trình độ học vấn cao, một số có khả năng sử dụng
tiếng Anh để đọc dịch tài liệu.
Có nhiều thời gian cho việc khai thác và sử dụng tài liệu.
Có khả năng sử dụng các công cụ tìm kiếm để tìm kiếm và khai thác
nguồn lực thông tin của thƣ viện.
Về nhu cầu tin:
Nhu cầu tin của nhóm NDT này rất phong phú, đa dạng. Họ mong
muốn tham khảo tài liệu để mở rộng kiến thức và hỗ trợ học tập.
Số lƣợng tài liệu mà nhóm bạn đọc này quan tâm và sử dụng nhiều nhất
là các tác phẩm văn học, tiếp đến là các tài liệu về giáo dục chính trị, toán
học, sinh học, hoá học. Ngoài ra, họ còn có nhu cầu đọc, mƣợn truyện về nhà.
Thƣờng xuyên sử dụng mạng internet để khai thác thông tin nhằm thỏa
mãn nhu cầu thông tin phục vụ cho học tập, tham khảo và giải trí.
Loại hình tài liệu đƣợc mƣợn nhiều nhất là sách chuyên khảo. Đặc biệt