ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
DƯƠNG PHƯƠNG NHUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI QUYẾT MỘT SỐ
VẤN ĐỀ BẤT CẬP VỀ MÔI TRƯỜNG CỦA NHÀ
MÁY CHẾ BIẾN TINH BỘT SẮN AN THÁI, HUYỆN
CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
Mã số: 60.52.03.20
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Đà Nẵng – Năm 2017
Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN ĐÌNH HUẤN
Phản biện 1: TS. Phan Như Thúc
Phản biện 2: TS. Vương Nam Đàn
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Khoa học họp tại Trường Đại học Bách khoa vào
ngày 29 tháng 12 năm 2016
vùng phụ cận khác thông qua trồng sắn nguyên liệu.
Đồng hành với những lợi ích mà Nhà máy chế biến tinh bột
sắn An Thái mang lại là nhiều vấn đề bất cập về môi trường. Do đó,
song song với việc mở rộng sản xuất để nâng cao sản lượng, việc áp
dụng các biện pháp kỹ thuật để giảm thiểu chất thải là cần thiết để
nâng cao năng lực sản xuất và bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát
triển bền vững.
Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng và giải
2
quyết một số vấn đề bất cập về môi trường của Nhà máy chế biến
tinh bột sắn An Thái, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị” làm luận văn
cao học của mình để góp phần vào công tác bảo vệ môi trường cho
Nhà máy An Thái nói riêng cũng như ngành chế biến sắn nói chung.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
2.2. Mục tiêu cụ thể
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
3.2. Phạm vi nghiên cứu
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập và nghiên cứu tài liệu
4.2. Phương pháp điều tra và khảo sát thực tế
4.3. Phương pháp kế thừa
4.4. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
4.5. Phương pháp lấy mẫu, phân tích mẫu:
5. Bố cục đề tài
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT TINH BỘT SẮN
thải).
Tuy nhiên, công nghệ sản xuất tinh bột sắn của Nhà máy An
Thái cũng có điểm khác đó là đã áp dụng các biện pháp quay vòng,
tái sử dụng nước hoàn toàn để giảm lượng nước thải ra bên ngoài.
Các nhà máy khác mới chỉ tái sử dụng nước sau công đoạn tách nước
để rửa củ nhưng Nhà máy An Thái đã tái sử dụng cả nước sau công
đoạn tách mũ để rửa củ.
Cũng không ngoại lệ, quá trình chế biến tinh bột sắn của nhà
máy An Thái gây phát sinh các vấn đề môi trường, đáng quan tâm
nhất là lượng vỏ sắn thải ra sau công đoạn rửa củ, lượng bã sắn sinh
ra sau công đoạn tách bã, bụi tinh bột thất thoát ra ngoài qua các
cyclon và trong quá trình đóng gói sản phẩm và nước thải sau công
4
đoạn rửa nước. Nhưng bã sau khi ra khỏi các máy tách bã được sấy
khô và bán làm thức ăn gia súc; nhà máy vẫn chưa có biện pháp xử lý
lượng bụi tinh bột thất thoát; nước thải nhà máy đang được xử lý
bằng cách cho qua các hồ yếm khí và hiếu khí, thu khí biogas đốt lò
sấy tinh bột. Từ tháng 5/2016, nhà máy đang tiến hành cải tiến hệ
thống xử lý nước thải củ để xử lý lượng nước thải tăng lên khi nhà
máy nâng công suất; lượng vỏ sắn phát sinh sau quá trình rửa củ
được nhà máy thu gom vào bãi tập trung và được phun chế phẩm EM
để hạn chế mùi hôi, sau đó cho người dân.
Ban đầu khi mới đi vào hoạt động, nhà máy chưa có các biện
pháp xử lý các chất thải phát sinh nên gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng. Điển hình, vào tháng 11/2014 việc nhà máy xả thẳng
nước thải ra môi trường đã làm cá chết trắng tại khu vực xả nước thải
của nhà máy ở đập Đùng. Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Trị
đã gửi văn bản yêu cầu Nhà máy An Thái dừng hoạt động để khắc
Đề tài tập trung nghiên cứu quy trình công nghệ của nhà máy
An Thái, các tác nhân ô nhiễm phát sinh từ quá trình sản xuất và các
hệ thống xử lý môi trường hiện có của nhà máy.
Có thể sơ bộ quá trình sản xuất với các dòng đầu vào và ra như
hình 2-1.
1.6.2.Phạm vi nghiên cứu
1.7. Phƣơng pháp nghiên cứu
1.7.1.Phƣơng pháp thu thập và tổng hợp tài liệu
1.7.2.Phƣơng pháp điều tra khảo sát, thực địa
1.7.3.Phƣơng pháp kế thừa
1.7.4.Phƣơng pháp lấy mẫu, phân tích mẫu:=
1.7.5.Phƣơng pháp thực nghiệm
Trong phạm vi đề tài, với vấn đề cấp bách của nhà máy, ở đây
tiến hành thực nghiệm làm phân compost từ vỏ sắn để giải quyết vấn
đề môi trường do vỏ sắn gây ra cũng như nhằm đem lại kinh tế cho
nhà máy.
6
a. Phương pháp thực hiện
b. Tiến hành thực nghiệm
Phân tích chỉ tiêu đầu vào
Nguồn nguyên liệu chính để sản xuất phân compost là vỏ sắn
lấy từ Nhà máy chế biến tinh bột sắn An Thái. Kết quả các chỉ tiêu về
hóa lý của nguyên liệu vỏ sắn bảng 2-2.
Bảng 2-2. Kết quả phân tích vỏ sắn đầu vào
Stt
Chỉ tiêu
Đơn vị
Kết quả
- Máy sục khí
: 1 máy
- Vỏ sắn
: 75 kg
- Chế phẩm sinh học EM
: 1 lít
- Nước
* Tiến hành quy trình ủ:
Sau khi chuẩn bị các nguyên vật liệu đã được thống kê ở trên,
tiến hành thí nghiệm ủ compost với 5 mô hình ủ.
* Mô hình thực nghiệm:
Mô hình 1 và mô hình 2: Như hình 2-2.
- Chuẩn bị thùng xốp hình chữ nhật kích thước D x R x H =
7
47 x 34 x 28 (cm), không có nắp đậy.
- Đục nhiều lỗ xung quanh thùng để có không khí vào.
- Có ống thoát nước rò rỉ từ quá trình ủ.
- Lượng vỏ sắn được đưa vào mỗi mô thùng ủ là 15 kg, được
băm nhỏ kích thước từ 15 - 25 mm, sau đó đem phơi.
- Mỗi mô hình bổ sung thêm 0,5 lít chế phẩm EM.
Mô hình 3, 4, 5: Như hình 2-3.
- Chuẩn bị thùng xốp hình chữ nhật kích thước D x R x H =
47 x 34 x 28 (cm), không có nắp.
- Mô hình có ống dẫn khí được đặt song song với chiều rộng
và trên thành của mô hình với khoảng cách 12cm, có đường kính
1cm, trên ống phân phối khí có đục lỗ có d = 3mm, ống thoát nước rò
rỉ từ quá trình ủ đặt phía dưới mô hình. Không khí được đưa vào mô
hình bằng 1 máy thổi khí.
Quy trình sản xuất tinh bột sắn nhà máy An Thái được thể hiện
trong hình 3-1.
3.1.1. Tác động của bụi, khí thải, mùi hôi
- Khí thải: tác nhân này phát sinh trong quá trình sản xuất tinh
bột sắn không lớn. Khí ô nhiễm có thể phát sinh từ quá trình phân
hủy các hợp chất hữu cơ trong nước thải từ hệ thống xử lý nước thải
như H2S, NH3 có khả năng gây các bệnh về đường hô hấp gây nguy
hiểm cho con người.
- Bụi:
+ Bụi bột phát sinh trong quá trình sàng, sấy khô và đóng bao.
+ Không khí còn bị ô nhiễm bởi bụi đất từ quá trình vận
chuyển sắn nguyên liệu từ các vùng nguyên liệu tới khu vực tập kết
sắn của nhà máy.
- Mùi hôi:
Đặc trưng của mùi hôi là chua và thối. Trong thời gian đầu
hoạt động, nhà máy chưa có biện pháp nào để xử lý môi trường nên
mùi hôi lan rộng, tác động đến công nhân trực tiếp tham gia sản xuất,
9
dân cư sống gần khu vực nhà máy. Đặc biệt là tác động đến 11 hộ
dân đang sinh sống tại khu vực Bái Sơn, đội Bắc, Công ty lâm nghiệp
đường 9 thuộc xã Cam Tuyền cách nhà máy 400 m; cách 700m về
phía Nam có cụm dân cư sinh sống thuộc thôn An Thái, Tân Lập;
cách 1,1 km về phía Tây có cụm dân cư của Thôn Xuân Mỹ, xã Cam
Tuyền; cách thị trấn Cam Lộ khoảng 3km về phía Bắc.
3.1.2. Tác động của nƣớc thải
Trong quá trình vận hành nhà máy, nước thải được sinh ra do
các nguồn chính sau đây:
- Nước thải sản xuất:
rắn sinh hoạt.
3.1.4. Các vấn đề môi trƣờng khác
Theo điều tra, khảo sát thực tế tại nhà máy và qua ý kiến của
công nhân trực tiếp tham gia sản xuất tại nhà máy, thấy rằng.
Ánh sáng:
Vấn đề chiếu của nhà máy là khá hợp lý.
Nhiệt độ và độ ẩm:
Theo nhận xét của công nhân vào những ngày gió Lào có ảnh
hưởng đáng kể đến điều kiện làm việc do độ ẩm quá thấp và nhiệt độ
khá cao.
Tiếng ồn:
Một số công đoạn ảnh hưởng tiếng ồn khá lớn đến sức khỏe
công nhân. Theo đánh giá của người dân cho thấy tiếng ồn của nhà
máy không ảnh hưởng đáng kể đến khu vực xung quanh.
3.2. Biện pháp bảo vệ môi trƣờng của nhà máy
3.2.1. Bụi, khí thải, mùi hôi
a. Biện pháp
Than đá dùng để đốt lò sấy tinh bột được thay bằng khí thu hồi
từ các hồ yếm khí, vừa tiết kiệm chi phí than đá, vừa giảm thiểu ô
nhiễm khói bụi từ việc đốt than.
Không khí bị ô nhiễm chủ yếu là bụi bột thất thoát ra ngoài qua
các cyclon và trong quá trình đóng gói sản phẩm. Hiện nhà máy vẫn
chưa có biện pháp xử lý nguồn phát sinh này.
11
Để hạn chế ảnh hưởng của bụi và khí thải, nhà máy đã trồng
cây xung quanh khu vực nhà máy (tập trung vào khu vực xung quanh
các hồ sinh học), ngoài tác dụng điều hòa khí hậu, còn có tác dụng
điều hòa cảnh quan trong khu vực.
Nước thải sinh hoạt: Chủ yếu là nước sinh hoạt của công
nhân viên nhà máy, lượng nước từ các nhà vệ sinh được xử lý bằng
bể tự hoại trước khi thải ra ngoài. Phần nước rửa được tách cặn trước
khi thải.
b. Đánh giá
Đối với nước thải sinh hoạt không ảnh hưởng đáng kể đến môi
trường của nhà máy. Tuy nhiên nước thải sản xuất được xử lý rất
phức tạp qua nhiều bậc nhưng không đạt yêu cầu xả thải, gây khó
khăn trong vận hành, khó cải tạo khi nâng công suất của nhà máy. Do
vậy tình trạng nước thải ra có màu và mùi cũng như vượt các chỉ tiêu
xả thải. Để khắc phục tình trạng này nhà máy phải xây dựng bổ sung
nhiều hồ để lưu trữ tạm thời với hy vọng giảm dần các tác nhân ô
nhiễm trong nước trước khi thải. Tuy nhiên, theo thời gian các chất ô
nhiễm sẽ bão hòa trong các hồ, sự cố vượt tiêu chuẩn ô nhiễm tiếp
diễn.
3.2.3. Chất thải rắn
a. Biện pháp
Đối với vỏ, cùi thải: phát sinh khoảng 78 – 104 tấn/ngày. Khối
lượng chất thải rắn này được nhà máy thu gom vào bãi tập trung và
được phun chế phẩm EM để hạn chế mùi hôi. Một lượng lớn chất
thải này được người dân lấy về để làm phân… hay để phục vụ cho
mục đích khác thì không kiểm soát được.
Đối với bã sắn: sau khi ra khỏi các máy tách bã được sấy khô
và bán ra thị trường bên ngoài làm thức ăn gia súc. Quy trình sấy khô
được thể hiện như hình 3-8.
b. Đánh giá
Vấn đề vỏ và bã sắn đang là vấn đề bất cập nhất của nhà máy.
Nguồn phát sinh này lớn, gây nước rỉ và mùi hô khó chịu, ảnh hưởng
đến dân cư xung quanh. Việc để người dân sử dụng nguồn chất thải
triệt để lượng khí phát sinh thì cần xây dựng hệ thống thu khí đồng
14
bộ cả từ UASB và các hồ phủ bạt.
3.3.3. Đối với chất thải rắn
3.3.3.1. Bã sắn
Nhà máy An Thái ngoài sấy khô bã sắn làm thức ăn cho gia
súc cũng có thể sản xuất ethanol từ bã sắn như Thái Lan, giúp nâng
cao hiệu quả giải quyết vấn đề bã sắn phát sinh tại nhà máy.
3.3.3.2. Vỏ sắn
Xuất phát từ ý tưởng của người dân địa phương, họ xin vỏ và
về để ủ làm phân bón cho cây trồng. Tuy nhiên phương pháp thực
hiện của mỗi gia đình một kiểu mà không theo một quy trình nào,
dẫn tới hiệu quả không cao và đôi lúc phát sinh những tác nhân ô
nhiễm khác không kiểm soát được. Chính vì thế luận văn muốn tập
trung nghiên cứu biện pháp sản xuất phân bón từ vỏ sắn để có
phương pháp cũng như các thông số hợp lý nhất trong quá trình thực
hiện. Nếu biện pháp này được thực hiện sẽ giải quyết được một
lượng lớn chất thải của nhà máy đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế
đáng kể.
Phương pháp làm phân compost này được chi tiết hóa trong
mục 3.4.
3.3.4. Đối với tiếng ồn
Do một số thiết bị máy móc khi lắp đặt không có thiết bị đệm
chống rung nên gây ồn và chấn động khi hoạt động, do vậy cần bổ
sung thêm đệm cao su dưới các động cơ này. Theo sổ bảo trì thiết bị
của nhà máy cho thấy công tác duy tu bảo dưỡng không được thường
xuyên và định kỳ, chỉ chờ đến khi máy móc hỏng hóc mới tiến hành
sửa, do vậy nhiều máy móc phát ra tiếng ồn đáng kể theo thời gian sử
hình 4
hình 5
Nhiệt độ
40
39
36
34
30
pH
7,0
6,7
6,7
6,5
6,3
Độ ẩm (%)
61
53
56
54
52
Tổng N (%)
1,15
1,51
2,51
2,63
2,75
Tổng P (%)
0,31
0,36
0,37
34,05
Mô hình
3 (cm3)
45,00
44,22
38,11
33,47
31,81
4 (cm3)
45,00
43,86
35,21
28,55
25,89
5 (cm3)
45,00
42,36
32,36
24,27
20,61
16
Ngày
15
18
21
36,34
2 (cm3)
33,57
32,68
32,79
31,96
31,32
30,76
29,46
28,56
27,86
27,20
26,68
26,68
26,68
26,68
26,68
26,68
Mô hình
3 (cm3)
30,96
29,96
29,18
28,00
27,45
26,85
26,05
25,49
13,98
12,49
11,50
10,70
9,94
8,62
7,48
6,16
5,22
4,65
4,65
4,65
4,65
4,65
cm 3
50
45
40
35
Mô hình 1
30
Mô hình 2
25
Mô hình 3
Mô hình 4
và bắt đầu từ ngày 15 thì giảm dần bắt đầu chuyển sang giai đoạn ổn
17
định. Các mô hình khác nhau cho thấy thời kỳ ổn định khác nhau, cụ
thể:
Mô hình 1 tới ngày thứ 30 khối tích ổn định, gần như không
thay đổi. Với mô hình 2 là ngày 45. Các mô hình 3,4,5 khá giống
nhau, ngày 48. Do lúc này các VSV hoạt động chậm lại và bắt đầu
ngừng tiêu hủy các hợp chất hữu cơ.
Bên cạnh đó ta thấy sau khi kết thúc quá trình ủ, mô hình 1, 2
thể tích còn lại nhiều hơn so với mô hình 3, 4, 5. Độ sụt giảm thể tích
giảm mạnh theo thứ tự mô hình 5, 4, 3, 2, 1. Điều này chứng tỏ ở mô
hình 3, 4, 5 có thổi khí cưỡng bức nên quá trình phân hủy xảy ra
nhanh và hiệu quả hơn mô hình 1, 2 để thoáng khí tự nhiên.
3.4.1.2. Nhiệt độ
Kết quả đo nhiệt độ của các mô hình trong quá trình ủ như sau:
Bảng 3-3. Nhiệt độ của các mô hình theo thời gian
Ngày
1
10
20
30
40
50
60
Mô hình 1
40
42
Hình 3-15. Biến thiên nhiệt độ
Mô hình 5
40
56
35
31
30,5
30
30
18
Nhận xét:
Nhìn vào hình 3-15 ta thấy có sự thay đổi nhiệt độ rõ rệt. Nhiệt
độ cực đại ở các mô hình thường ở khoảng 10 ngày sau khi vận hành.
Các mô hình 1,2 với chế độ làm thoáng khí tự nhiên, nhiệt độ
cực đại không cao bằng các mô hình làm thoáng cưỡng bức (3, 4, 5),
đối với mô hình 2 nhiệt độ tăng cao nhất là 45oC.
Mô hình 3, 4, 5 ở với chế độ thổi khí cưỡng bức thì nhiệt độ
tăng khá cao, trong đó mô hình 5 có nhiệt độ tăng cao nhất 56oC
(Hình 3-15). Đây là mô hình có lượng khí cấp cưỡng bức nhiều nhất
(thổi khí 1 ngày 3 lần, mỗi lần 30 phút).
Từ ngày thứ 10 trở đi các mô hình để thoáng khí tự nhiên 1, 2:
Mô hình 1 nhiệt độ bắt đầu giảm dần từ ngày thứ 10 đến ngày thứ 30
và ổn định ở các ngày sau cùng là 40oC, mô hình 2 nhiệt độ bắt đầu
giảm dần đến ngày thứ 40 và ổn định ở các ngày sau cùng là 390C.
Ở các mô hình thổi khí cưỡng bức 3, 4, 5 nhiệt độ bắt đầu giảm
dần từ ngày thứ 10 đến ngày thứ 40 và bắt đầu ổn định ở những ngày
sau cùng là 30 ÷ 36oC.
7,0
pH
Mô hình 3
7,3
6,5
6,9
6,7
6,5
6,3
6,3
Mô hình 2
7,3
6,8
7,0
6,9
6,8
6,7
6,7
Mô hình 4
7,3
6,0
7,2
6,8
6,4
6,1
6,1
1
0
0
10
20
30
40
50
60
70 Ngày
Hình 3-16. Biến thiên giá trị pH
Nhận xét:
Giá trị pH ở cả 5 mô hình đều nằm trong khoảng 6,1 – 7,3 là
tối ưu cho vi sinh vật trong quá trình ủ phân rác. Nhìn vào bảng 3-4
và hình 3-16, ta thấy giá trị pH của nhóm mô hình thổi khí cưỡng bức
giảm nhanh trong 10 ngày đầu tiên, pH ở nhóm mô hình để thoáng
khí tự nhiên có giảm nhưng tương đối ít. Chứng tỏ trong thời gian
này ở nhóm mô hình thổi khí cưỡng bức vi sinh vật, nấm tiêu thụ các
hợp chất hữu cơ và thải ra các axit hữu cơ mạnh, ở nhóm mô hình để
thoáng khí tự nhiên thì yếu hơn. Toàn bộ các thí nghiệm đều không
sử dụng hóa chất để điều chỉnh pH.
Mô hình 2
75
70
63
60
70
68
53
Độ ẩm (%)
Mô hình 3
75
67
60
56
69
65
56
Mô hình 4
75
65
59
54
67
60
54
Mô hình 5
trong thời gian ủ, nhiệt độ môi trường xung quanh khá cao cùng với 2
hình thức ủ (cấp khí cưỡng bức kết hợp đảo trộn bằng tay, để thoáng
khí tự nhiên kết hợp đảo trộn bằng tay) có thể không đều nên đã ảnh
hưởng một phần nào đó đến chất lượng của phân.
Các mô hình có thể tích sụt giảm nhiều khi: Mô hình 1 có nhiệt
độ từ 40 ÷ 42 0C, pH dao động từ 7,0 ÷ 7,3, độ ẩm dao động từ 67 ÷
75%; Mô hình 2 có nhiệt độ từ 40 ÷ 45 0C, pH dao động từ 6,5 ÷ 7,3,
độ ẩm dao động từ 63 ÷ 75%; Mô hình 3 có nhiệt độ từ 40 ÷ 48 0C,
pH dao động từ 6,5 ÷ 7,3, độ ẩm dao động từ 60 ÷ 75%; Mô hình 4
có nhiệt độ từ 40 ÷ 52 0C, pH dao động từ 6,0 ÷ 7,3, độ ẩm dao động
từ 59 ÷ 75%; Mô hình 5 có nhiệt độ từ 40 ÷ 56 0C, pH dao động từ
5,6 ÷ 7,5, độ ẩm dao động từ 54 ÷ 75%.
Các mô hình 1, 2, 3 trong khoảng thời gian có thể tích sụt giảm
nhiều nhất, các giá trị nhiệt độ, pH, độ ẩm vẫn không nằm trong
khoảng tối ưu. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến thể tích khối ủ sụt
giảm không đáng kể.
22
Các mô hình 4, 5 trong khoảng thời gian có thể tích sụt giảm
nhiều nhất, các giá trị nhiệt độ, pH, độ ẩm nằm trong khoảng tối ưu.
Vì vậy ta xét hai mô hình 4, 5 nhận thấy: Nên chọn mô hình cấp khí
cưỡng bức có đảo trộn, chế độ cấp khí 3 lần/ngày để cho kết quả tối
ưu, nếu cho cấp khí nhiều hơn 3 lần/ ngày thì những ngày đầu pH
tăng cao dẫn đến khí NH3 thất thoát nhiều gây mùi hôi, hơn nữa cấp
khí nhiều cũng dẫn đến chi phí làm phân cao.
Trong quá trình ủ phân, các giá trị nhiệt độ, pH, độ ẩm chưa
hoàn toàn đạt khoảng tối ưu nên đã làm cho quá trình ủ kéo dài đến
60. Do đó, trong quá trình ủ cần lưu ý các chỉ số trên rút ngắn thời
gian ủ phân.
0,31
0,36
0,37
0,41
0,85
K
0,64
0,69
1,70
2,73
3,22
23
Từ kết quả trên cho thấy sản phẩm không đạt tiêu chuẩn về
phân hữu cơ vi sinh từ chất thải rắn của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn, vì vậy cần phải bổ sung thêm phân hóa học NPK để
đáp ứng tiêu chuẩn ngành 10 TCVN 562 – 2002 (Phụ lục 1).
So sánh giữ hai hình thức ủ (thóang khí tự nhiên và cưỡng bức)
thì các mô hình thổi khí cưỡng bức đạt hiệu quả cao hơn để thoáng
khí tự nhiên. Chứng tỏ khi được thổi khí cưỡng bức thì quá trình
phân hủy chất hữu cơ (vỏ sắn) sẽ diễn ra nhanh và hiệu quả hơn.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. KẾT LUẬN
Nhà máy chế biến tinh bột sắn An Thái đi vào hoạt động đã
giải quyết việc làm cho lao động địa phương vào sự phát triển kinh tế
địa phương. Chính vì vậy phải tìm ra hướng để nhà máy phát triển
sao cho tốt nhất mà không ảnh hưởng đến môi trường.
Trong quá trình hoạt động, nhà máy cũng khá quan tâm đến
vấn đề môi trường. Cơ sở vật chất phục vụ công tác bảo vệ môi