QUAN ĐIỂM VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC CỦA HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI THẮNG LỢI CỦA
CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Lý Thị Thu Huyền
Khoa Khoa học cơ bản – Đại học khoa học 1
TÓM TẮT
Đảng cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay, dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã chú trọng vấn đề dân tộc trong đường lối và hoạt động thực tiễn trong
các thời kỳ không chỉ nhằm phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị trước mắt, mà còn xuất phát từ bản chất
của cuộc cách mạng vô sản do con người và vì con người. Chính vì nhận thức được đầy đủ nội dung của
triết học Mác Lênin qua thực tiễn mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho
dân tộc Việt Nam, giúp dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân xâm lược
mà minh chứng là thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945.
Từ khóa: Hồ Chí Minh, quan điểm dân tộc, giải phóng dân tộc, cách mạng Tháng Tám……
MỞ ĐẦU
Tư tưởng Hồ Chí Minh mang sức sống mãnh
liệt, bền vững bởi vì tư tưởng ấy được xây dựng
trên nền tảng, một triết lý sống, một tư tưởng
nhân văn, nhân đạo cao cả và một phương pháp
luận khoa học – cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí
Minh nói chung và tư tưởng giải phóng dân tộc
của Người nói riêng là di sản quý giá, không
những có giá trị to lớn đối với cách mạng nước
ta mà còn có ý nghĩa quốc tế.
Với dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là kết tinh
những gì tốt đẹp nhất, ưu tú nhất của trí tuệ và tư
tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối
sống của con người và dân tộc Việt Nam. Người
tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh của dân tộc,
cho bản sắc của văn hóa dân tộc Việt Nam từ
truyền thống đến hiện đại. Tinh hoa của dân tộc,
lương tâm và khí phách của thời đại đã được thể
tộc với xã hội. Do đó, đã đưa đến những sai
phạm trong chính sách dân tộc, trong mối quan
hệ với các dân tộc đấu tranh giành độc lập. Đó là
một trong những nguyên nhân dẫn tới tan rã các
nước này, làm bùng nổ những cuộc xung đột sắc
tộc, những cuộc nội chiến trong khuôn khổ mỗi
nước.
Hồ Chí Minh trước khi đến với chủ nghĩa Mác –
Lênin đã bước đầu nhận thức về vấn đề dân tộc
và con đường giải phóng dân tộc. Nhận thức đầu
tiên của Hồ Chí Minh về dân tộc là sự nhận biết
về cảnh sống nghèo khổ của đồng bào trên quê
hương, rồi khắp đất nước đang bị áp bức bóc lột,
chịu sưu cao, thuế nặng. Từ sự nhận biết thực
trạng đất nước cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX,
Hồ Chí Minh đi đến lòng căm ghét bọn người áp
bức bóc lột, chế độ thống trị thực dân phong
kiến, tình cảm yêu thương đồng bào, quê hương
đất nước rồi đến nhận thức tư tưởng về đồng
bào, về tổ quốc, về dân tộc.
Năm 1911, ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí
Minh xuất phát từ ý thức dân tộc với mong muốn
xem các nước làm như thế nào để tự giải phóng,
rồi về giúp đồng bào chúng ta giải phóng. Sau
nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, được tận mắt
chứng kiến cuộc sống của nhân dân lao động ở
1
các nước tư bản đế quốc cũng phải sống cuộc
Sự vận dụng sáng tạo đường lối của Quốc tế
cộng sản vào điều kiện cụ thể của cách mạng
Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc thể hiện rõ tinh
thần: Tập trung vào nhiệm vụ chống đế quốc,
giải phóng dân tộc, đoàn kết tập hợp mọi lực
lượng dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
để chống đế quốc vào tay sai. Ở xã hội Việt Nam
thuộc địa nửa phong kiến tồn tại hai mâu thuẫn
là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp,
nhưng trên hết và trước hết là mâu thuẫn giữa
toàn thể dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực
dân cướp nước. Nhiệm vụ giành độc lập dân tộc,
giải phóng nhân dân khỏi ách áp bức nô lệ là
nhiệm vụ mang ý nghĩa cấp bách, sống còn được
đặt trước nhiệm vụ đấu tranh giai cấp. Trong
cuộc đấu tranh này Đảng cần tập hợp được khối
lực lượng đông đảo nhất, huy động sức mạnh
đoàn kết to lớn nhất mới đảm bảo giành được
thắng lợi.
Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam chưa bao
giờ nhiệm vụ dân chủ có ý nghĩa ngang với
nhiệm vụ dân tộc. Vì nhận thức được đúng đắn
vấn đề dân tộc, nhất là vấn đề dân tộc trong điều
kiện bị áp bức vô cùng nặng nề của đế quốc
Pháp- Nhật, nên Đảng đã giải quyết thành công
việc xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất của
toàn dân. Có thể nói đây cũng là một bước phát
triển mới tư tưởng đoàn kết toàn dân tộc của
đồng chí Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng
lần thứ VIII của Trung ương Đảng rằng nói đến
vấn đề dân tộc tức là nói đến sự độc lập tự do
của mỗi dân tộc. “Các dân tộc sống trên cõi
Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành
liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành
một dân tộc quốc gia tùy ý…Văn hóa của mỗi
dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và được
đảm bảo. Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ
được thừa nhận và coi trọng” [2, tr.113]. Chủ
trương như vậy không có nghĩa là tách rời cách
mạng Việt Nam với cách mạng Lào và
Campuchia. Cách mạng Việt Nam vẫn quan hệ
mật thiết với cách mạng Lào và Campuchia.
2
Pháp – Nhật là kẻ thù chung của ba dân tộc.
Không thể thắng chúng nếu chỉ có riêng rẽ lực
lượng của mỗi dân tộc. Muốn đánh đuổi chúng
phải có một lực lượng thống nhất của tất thảy
các dân tộc Đông Dương. Đối với các dân tộc
Miên, Lào …Việt Nam phải có nghĩa vụ dìu dắt
giúp đỡ trong bước đường tranh đấu tự do độc
lập và phải có sự đoàn kết, ủng hộ phong trào
cách mạng, phong trào dân chủ chống phát xít
thế giới. Chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc
trong khuôn khổ từng nước của Đảng ta là thể
hiện tư tưởng Hồ Chí Minh – một tư tưởng nhất
quán trong đường lối, chủ trương cách mạng do
Người đề ra, trong các tổ chức cách mạng do
Minh bao gồm 44 điểm về chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội và đối với các giai cấp và tầng lớp
nhân dân nhằm thực hiện hai điều mà toàn thể
đồng bào cả nước đang mong ước là: làm cho
nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; làm cho
toàn dân Việt Nam được sung sướng, tự do. Từ
Pác Pó ánh sáng Việt Minh đã lan toả khắp nông
thôn, thành thị, có hệ thống từ trung ương đến
địa phương, từ Bắc tới Nam. Các đoàn thể cứu
quốc được thành lập và ngày càng mở rộng. Việt
Minh trở thành một phong trào rộng lớn, tiêu
biểu nhất là ở Cao Bằng. Nơi đây đã trở thành
một căn cứ địa cách mạng, một địa bàn điển hình
về xây dựng và phát triển lực lượng, chuẩn bị
cho cuộc khởi nghĩa vũ trang toàn dân. Với
những nội dung như trên Việt Minh trở thành
một mặt trận rộng rãi có tính chất dân tộc hơn
hết, dễ hiệu triệu và nhất là có thể thực hiện
được trong tình thế lúc bấy giờ. Sự thành lập của
Mặt trận Việt Minh đã đánh dấu bước tiến của
Đảng trong việc nhận thức vấn đề dân tộc và giai
cấp trong quan hệ ba nước Đông Dương. Sự ra
đời và hoạt động của Việt Minh đã động viên và
tập hợp được sức mạnh của dân tộc trong toàn
quốc đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật bằng cuộc
khởi nghĩa dân tộc tháng Tám năm 1945, thành
lập chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa. Đây là một điển hình thành công về
chiến lược, phương thức và nghệ thuật khởi
có một của dân tộc đã đến song tình thế đang
3
diễn ra gay go, phức tạp. Quân Đồng minh đang
kéo vào và thực dân Pháp cũng đang ráo riết
chuẩn bị kéo quân trở lại xâm lược Đông Dương
lần thứ hai. Trước tình hình đó, Hội nghị đại biểu
toàn quốc của đảng họp từ ngày 13 đến 15-81945 tại Tân Trào đã kịp thời họp và quyết định
phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, xác
lập địa vị làm chủ đất nước trước khi quân Đồng
minh kéo vào giải giáp quân đội Nhật. Ngay sau
khi Hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội quốc
dân khai mạc theo chủ trương của chủ tịch Hồ
Chí Minh đề ra tại Hội nghị lần thứ VIII của Ban
chấp hành Trung ương Đảng và thư của Người
gửi đồng bào toàn quốc tháng 10-1944. Với tầm
quan trọng mang tính pháp quyền, Hồ Chí Minh
đã chỉ thị cuộc Đại hội Đại biểu quốc dân phải
khai mạc chậm nhất vào trung tuần tháng 71945. Người đã từng cân nhắc giá trị của thời
gian, của mỗi ngày, của mỗi giờ trong lúc tình
hình đất nước đang có sự chuyển biến. Cho nên
khi thấy công việc chậm chễ thì Hồ Chí Minh đã
thúc giục động viên tinh thần của cán bộ nhanh
chóng tổ chức đại hội theo đúng kế hoạch đã đề
ra. Người thấy rõ lúc bấy giờ, chậm một chút tức
là bỏ lỡ cơ hội thuận lợi. Song vì liên lạc khó
khăn, đường sá trắc trở mãi đến ngày 16-8-1945
Đại hội quốc dân Tân trào mới được khai mạc.
Đại hội đã nhất trí tán thành chủ trương phát
nước, lòng khát khao độc lập tự do đã xuống
đường đấu tranh giành chính quyền. Cuộc Tổng
khởi nghĩa tháng Tám là sự vùng dậy mãnh liệt
với một tinh thần dũng cảm của khối đoàn kết
dân tộc Việt Nam trong cả nước với một quyết
tâm rất cao với ý chí dù hi sinh tới đâu, dù đốt
cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết
giành cho được độc lập dân tộc. Toàn dân tộc từ
Bắc tới Nam đã đứng lên xóa bỏ bộ máy chính
quyền của Nhật, giành lấy chính quyền về tay
nhân dân từ trung ương đến cơ sở. Khởi nghĩa đã
nổ ra và giành thắng lợi như thế. Các Mác nói
khởi nghĩa là một nghệ thuật. Điểm tuyệt diệu
nhất của nghệ thuật đó là chớp đúng thời cơ. Khi
phát động khởi nghĩa, Đảng và Hồ Chí minh
cũng đã sớm nhận thấy khó khăn phức tạp và
nguy cơ mới xuất hiện đó là quân đội Đồng minh
kéo vào. Phải giành thắng lợi trước khi quân
đồng minh vào Đông Dương để với tư cách là
người chủ đất nước tiếp quân đồng minh. Đó là
quyết định đúng đắn và tránh được những khó
khăn không lường trước. Như vậy cách mạng
tháng Tám không chỉ tranh thủ điều kiện thuận
lợi khi quân Nhật đầu hàng đồng minh mà còn
tránh được khó khăn mới nảy sinh do tình hình
quốc tế đưa lại.
Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là
do lực lượng của toàn dân tiến hành có lực lượng
vũ trang làm nòng cốt và xung kích đã diễn ra
thắng lợi trong cả nước, tiêu biểu và giữ vai trò
đáng mừng là cách mạng Việt Nam có một ưu
điểm so với cách mạng các nước Nga, Tàu,
Pháp. Cách mạng ở đâu cũng phải đổ máu
nhiều. Có nước phải chặt đầu vua. Có nước
đồng bào chia đảng phái, chém giết lẫn nhau
trong bao nhiêu năm. Nước ta, vua tự thoái vị,
các đảng phái không có mấy. Trong một thời
gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối,
muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là
nước được hoàn toàn độc lập và chống được
giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tàn ác ra khỏi
bờ cõi” [5, tr. 129-130]. Điều này chứng tỏ cách
mạng tháng Tám thành công không có đổ máu.
Ngày 2-9-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt
Chính phủ lâm thời long trọng đọc bản Tuyên
ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào và
thế giới quyền độc lập của các nước là bất khả
xâm phạm. Đó là “tất cả các dân tộc trên thế
giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có
quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”
[4, tr.1]. Tuyên ngôn độc lập là một văn bản
pháp lý quan trọng khẳng định độc lập, tự do của
dân tộc Việt Nam là quyền thiêng liêng không ai
có quyền xâm phạm. “Nước Việt Nam có quyền
được hưởng tự do và độc lập, và thực sự đã trở
thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân Việt
Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,
tính mạng và của của để giữ vững quyền tự do,
độc lập ấy” [3, tr. 557]. Một kỷ nguyên mới
trong lịch sử Việt Nam đã được mở ra- kỷ
Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam
được đảm bảo. Chính quyền cách mạng được
thành lập là của chung của cả dân tộc chứ không
phải của một giai cấp một đảng phái nào. Cách
mạng giải phóng thắng lợi sẽ phải tiến tới thực
hiện cách mạng tư sản dân quyền và tiếp tục tiến
lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là ba chiến
lược của con đường cách mạng vô sản ở Việt
Nam dưới ánh sáng của học thuyết giải phóng và
phát triển dân tộc của Hồ Chí Minh.
Như vậy, từ hội nghị trung ương lần thứ VIII
(tháng 5-1941), khi Người về nước, cùng Trung
ương trực tiếp lãnh đạo cách mạng, những quan
điểm về vấn đề dân tộc mới chính thức được
thực hiện. Kể từ đó, tư tưởng của Người và
đường lối của Đảng là thống nhất và có những
bước phát triển mới toàn diện, hoàn chỉnh, đáp
ứng những yêu cầu mới của cách mạng Việt
Nam. Tư tưởng, đường lối Hồ Chí Minh và hành
động cách mạng dân tộc Việt Nam đến đây đã có
sự thống nhất và đã đưa đến thắng lợi to lớn
trong cách mạng tháng Tám 1945. Đó cũng là
thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc. Cụ thể
là thắng lợi của chủ trương chỉ đạo chiến lược
đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu,
thành lập mặt trận dân tộc thống nhất nhằm phát
huy cao độ sức mạnh tổng hợp của dân tộc, thực
hiện đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại, thắng lợi của quan điểm
dân tộc Việt Nam; các tôn giáo, các cá nhân yêu
nước, tiến bộ. Không có lực lượng của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc như thế, không thể có
thắng lợi của cách mạng tháng Tám.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương,
Văn kiện Đảng (1939-1945), tập 1, NXB Sự thật,
Hà Nội, 1963.
[2]. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng
toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, HN, 2000.
[3]. Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 3, Nxb
CTQG Hà Nội, 2002.
[4]. Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, tập 4, Nxb
CTQG Hà Nội, 2002.
[5]. Lê Mậu Hãn, Hồ Chí Minh với cách mạng
giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc, Nxb
CTQG Hà Nội, 2001.
SUMMARY
HO CHI MINH’S OPINION ABOUT ETHNIC ISSUES FOR VICTORY OF THE REVOLUTION
AUGUST 1945
As soon as Vietnam Communist Party is established, based on the ideological foundation of Marxism
Leninism and Ho Chi Minh thought was focused on ethnic issues in effective and practical way in the
period not only services the immediate political tasks , but also its begin from the nature of the proletarian
revolution as human and as humans. Because fully aware of the content of the Marxist Leninist past
practices that President Ho Chi Minh has found a way to save the country the right to the people of
Vietnam, helps people of Vietnam to escape the oppression and exploitation of colonialism invasion that
proved to be the victory of the August revolution in 1945
Keywords: Ho Chi Minh, opinion about ethnic, national liberation, revolution August ......