Vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - Pdf 41

A. Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Ngày mồng 3 tháng 2 năm 1930, một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh
của dân tộc Việt Nam ta, Đảng cộng sản Việt Nam dới sự hợp nhất của Đông Dơng
cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng đã ra đời. Đó là kết quả tất yếu của cuộc
đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới, Hồ Chí Minh
viết : Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của nghĩa Mác - Lê Nin với phong trào
công nhân và phong trào yêu nớc Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam đợc lịch sử
giao cho sứ mệnh nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam. Sự ra
đời của Đảng là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính chất quyết định cho những bớc
phát triển nhảy vọt trong tiến trình lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam.
Lịch sử của Đảng là lịch sử của cuộc đấu tranh anh dũng, gian khổ, có nhiều
tổn thất, hy sinh nhng cũng hết sức vẻ vang vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội.
Những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vĩ đại, có tầm vóc quốc tế mà nhân dân ta đã
giành đợc dới sự lãnh đạo của Đảng trong suốt hơn bảy thập kỷ qua đã khẳng định
vai trò, công lao to lớn của Đảng và để lại nhiều bài học có giá trị lý luận thực tiễn
vô cùng to lớn, đặc biệt đối với giai đoạn hiện nay, trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ
nghĩa xã hội, Đảng chủ trơng xây dựng một Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
một nhà nớc của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN Việt Nam chính là xây dựng một Nhà
nớc thật sự của dân dới sự lãnh đạo của Đảng với lý tởng dân chủ, nhân đạo, công
bằng, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân:Nhà nớc đợc tổ chức và vận hành một cách
khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nớc, tổ chức, hoạt động của Nhà nớc phải bằng
pháp luật, chịu sự điều chỉnh của pháp luật; Nhà nớc quản lý xã hội bằng một hệ
thống pháp luật vì con ngời, quyền lực của Nhà nớc đợc tổ chức theo nguyên tắc
thống nhất quyền lực, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nớc
trong việc thực hiện các quyền lực pháp, hành pháp và t pháp, có cơ chế an toàn và
hiệu quả ngăn chặn mọi sự lạm quyền, vi phạm lợi ích của Nhà nớc, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân.
Tại Điều 2 Hiến pháp nớc ta năm 1992 quy định: "Nhà nớc cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nớc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả

2


Đề tài kết cấu nh sau :
A. Phần mở đầu.
A.
Phần nội dung
I. Cơ sở hình thành Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
II. Đặc điểm của Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân
III. Thực trạng, phơng hớng và giải pháp của quá trình xây dựng Nhà nớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
B.
Phần kết luận

3


B. nội dung

I. Cơ sở hình thành Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

1. Cơ sở lý luận.
Ngời đầu tiên đặt nền tảng triết học của lý luận về Nhà nớc pháp quyền là
Jcantơ. Theo ông Nhà nớc là liên minh của nhiều ngời cùng phục tùng các đạo luật
pháp quyền phúc lợi của Nhà nớc. Sau Jcantơ Hêghen cũng cho rằng pháp luật là
thực tế của tự do, là phơng thức tồn tại của lý trí tự do, còn Nhà nớc cũng chính là
pháp luật, chính là pháp luật cụ thể.

nhng khái quát lại là 2 nội dung cơ bản. Một là: đòi các quyền tự do, dân chủ cho
nhân dân; Hai là: để đảm bảo quyền tự do dân chủ, phải quản lý bằng các đạo luật là
Hiến pháp "bảy xin hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền".
Đó chính là t tởng cốt lõi của một Nhà nớc pháp quyền.
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng Nhà nớc kiểu mới, Hồ Chí Minh nhất quán
phát triển và làm sâu sắc hai nội dung ấy trong lĩnh vực lý luận cũng nh trong tổ
chức thực tiễn, nhằm tạo ra nền tảng dân chủ và nền tảng pháp lý cho chính quyền
Nhà nớc kiểu mới. Một mặt, Ngời trực tiếp phát triển truyền thống chính trị "lấy dân
làm gốc". Trong quá trình xây dựng Nhà nớc kiểu mới, phải làm cho toàn Đảng toàn
dân có ý thức sâu sắc về nguồn gốc và sức mạnh của Nhà nớc ta là ở nhân dân.
"Nớc ta là nớc dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì nhân dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của nhân dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân...
... quyền hạn và lực lợng đều ở nơi dân"(2).
Mặt khác, Ngời trực tiếp lãnh đạo xây dựng Nhà nớc theo hớng dân chủ, từng
bớc xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động của chính quyền, Ngời đã trực tiếp làm trởng ban soạn thảo các Hiến pháp năm 1946, năm 1949 và ký ban hành nhiều luật,
(1)

V.I.Lênin tập 30 - Nxb Tiến bộ, 1977, trang 167
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, 1995 trang 698

(2)

5


sắc lệnh, hình thành hệ thống pháp luật dân chủ đầu tiên ở Việt Nam. Hồ Chí Minh
đề cao tính nghiêm minh của pháp luật, nhng pháp luật đó phải kết hợp chặt chẽ với

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (năm 2006) tiếp tục khẳng
định nhiệm vụ: "Xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa dới sự lãnh đạo
của Đảng" vừa chỉ rõ "Nhà nớc ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ
của nhân dân, là Nhà nớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân".
Nh thế từ khi ra đời cho đến nay, trong đờng lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn luôn quán triệt t tởng coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật,
phơng tiện quan trọng trong quản lý Nhà nớc.
II. Đặc điểm của Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Nhà nớc là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên
làm nhiệm vụ cỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì

6


phát triển trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong
xã hội.
Nhà nớc pháp quyền là Nhà nớc quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp
luật. Pháp luật phải trở thành nguyên tắc cơ bản nhằm tổ chức thực thi quyền lực
Nhà nớc, tổ chức cuộc sống cộng đồng, của toàn xã hội, điều hòa, phối hợp hành vi
ứng xử của các thành viên cộng đồng.
Trong quá trình xây dựng và từng bớc hoàn thiện Nhà nớc cách mạng Việt
Nam dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, cho đến nay Nhà nớc ta đã ban
hành bốn bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ, đó là Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959,
Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992, trong đó quy định về chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng; quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân; quy định về tổ chức bộ máy Nhà nớc phù hợp thực tiễn các giai đoạn
phát triển của cách mạng nớc ta. Nhà nớc pháp quyền Việt Nam có những đặc điểm
cơ bản: Nhà nớc có một hệ thống pháp luật thật hoàn chỉnh, là Nhà nớc trong đó mối

điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy Nhà nớc.
7


Quyền lực Nhà nớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan Nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t pháp. Đó là hai
mặt của một vấn đề trong tổ chức, xây dựng Nhà nớc. Quán triệt quan điểm quyền
lực Nhà nớc thống nhất sẽ tác động trực tiếp đến việc tăng cờng trách nhiệm và sự
phối hợp của các cơ cấu thực hiện quyền lực của bộ máy Nhà nớc, bảo đảm cho bộ
máy Nhà nớc vận hành đồng bộ, thống nhất và có hiệu lực, hiệu quả. Mặt khác, tăng
cờng việc phân công, phân nhiệm rành mạch, hợp lý rõ ràng và chú trọng phối hợp
chặt chẽ tinh thần "vì dân, do dân" giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp và t pháp chính là điều kiện để phát huy tốt hiệu lực của quyền
lực Nhà nớc thống nhất.
Xuyên suốt các bản Hiến pháp nớc ta đều thể hiện rõ quan điểm nêu trên
trong việc xây dựng Nhà nớc Quốc hội luôn đợc xác định là cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến
pháp và lập pháp, quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nớc và thực
hiện quyền giám sát tối cao. Chính phủ là cơ quan chấp hành của quốc hội, cơ quan
hành chính cao nhất của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính phủ thống
nhất quản lý việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng,
an ninh và đối ngoại của Nhà nớc.
Vị trí, vai trò của cơ quan t pháp nớc ta mà trung tâm là hệ thống các toà án
luôn đợc đề cao. Các nguyên tắc: "Khi xét xử, thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật", "toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số"
"quyền bào chữa của bị cáo đợc đảm bảo". Luôn phải đợc tôn trọng trong hoạt động
t pháp.
Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phơng đợc thực hiện qua các hiến
pháp với việc hình thành Hội đồng nhân dân mà các vị đại biểu hội đồng nhân dân
do nhân dân địa phơng trực tiếp bầu ra và việc Hội đồng nhân dân bầu các thanh

1. Thực trạng của quá trình xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
1.1. Thành tựu.
Trong suốt thời gian qua, Nhà nớc ta dới sự lãnh đạo của Đảng đã vợt lên mọi
khó khăn để luôn luôn giữ vững và không ngừng hoàn thiện bản chất cách mạng của
một Nhà nớc pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Từ cuộc tổng tuyển cử đầu tiên (6/1/1946) đến nay nhân dân ta đã thực hiện
quyền làm chủ về chính trị, trực tiếp bầu ra những đại biểu của mình vào 11 khoá
quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nớc cao
nhất, với 4 bản hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 đã thể chế hóa đờng lối của Đảng
và quyền làm chủ của nhân dân. Quốc hội - đại biểu cho ý chí và lợi ích của nhân
dân thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề cơ bản trong chính
sách đối nội, đối ngoại và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt
động của các cơ quan Nhà nớc. Với chức năng và nhiệm vụ đó quốc hội ngày càng
hoạt động có hiệu quả, phản ánh tiếng nói và lợi ích của nhân dân. Các kỳ họp quốc
hội đã thể hiện không khí dân chủ, thẳng thắn, đặc biệt là trong các phiên họp trả lời
chất vấn của đại biểu quốc hội, hoạt động xây dựng pháp luật đã vừa chú trọng thể
chế hóa đờng lối của Đảng vừa phản ánh ý chí, nguyện vọng và yêu cầu cuộc sống
của nhân dân.
* Về nhận thức lý luận.
Bài học quan trọng nhất của hơn 20 năm đổi mới trong vấn đề xây dựng Nhà
nớc pháp quyền là ở nhận thức rằng: xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở Việt Nam
hoàn toàn không phải là xây dựng một Nhà nớc kiểu mới thoát ly những nguyên lý
phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh về Nhà nớc xã hội chủ
10


nghĩa. T tởng xây dựng Nhà nớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân chính thức đợc
xác định tại Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng
12/1994): "Tiếp tục xây dựng và từng bớc hoàn thiện Nhà nớc pháp quyền Việt

trách; làm tốt hơn chức năng lập pháp, công tác giám sát và quyết định các vấn đề
trọng đại của đất nớc. Quốc hội hoạt động thờng xuyên hơn và ngày càng dân chủ
hơn; tranh luận, thảo luận một cách thẳng thắn, thiết thực; mở rộng chất vấn; tăng cờng lắng nghe và tiếp xúc cử tri... Nhờ vậy, hiệu quả và hiệu lực đợc nâng cao, đợc
nhân dân quan tâm nhiều hơn. Đã có phơng hớng chiến lợc lập pháp; ban hành Hiến
pháp 1992 và đã chỉ đạo sửa đổi Hiến pháp đó vào năm 2001 để phản ánh đúng
thành quả đổi mới t duy và thực tiễn đổi mới đất nớc. Đã sửa đổi và ban hành nhiều
văn bản pháp luật quan trọng, loại bỏ hàng trăm quy định lỗi thời. Từ năm 1987 đến
tháng 6/2005, Quốc hội đã ban hành 145 luật, bộ luật, trong đó có 6 bộ luật lớn; đã
thông qua và ban hành 149 pháp lệnh. Số bộ luật và luật tăng gấp ba lần với trớc đổi
mới, tạo khung khổ pháp lý để Nhà nớc quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực
kinh tế, văn hoá - giáo dục, xã hội, đối ngoại, quốc phòng và an ninh. Đặc biệt,
Quốc hội có sự đổi mới về tổ chức theo đó đã thiết lập trở lại chế định Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội là cơ quan Thờng trực của Quốc hội, vị trí vai trò của Chủ tịch
Quốc hội cũng thay đổi; có sự đổi mới về tổ chức, hoạt động của Hội đồng dân tộc,
các Uỷ ban của Quốc hội, cơ cấu đại biểu Quốc hội...
Điều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng còn ở chỗ, những luật, pháp lệnh đợc ban
hành đã phục vụ kịp thời đờng lối đổi mới toàn diện của Đảng, đặc biệt là trên lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đổi mới hệ thống chính
trị, phát triển và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, duy trì trật tự, kỷ cơng,
xây dựng một xã hội phồn thịnh, công bằng văn minh. Sự xuất hiện ngày càng nhiều
các đạo luật đã làm thay đổi về cơ bản trạng thái tâm lý và cách thức xử sự cổ
truyền, trọng tình hơn trọng lý của ngời Việt Nam. Lối sống, cách làm việc theo
pháp luật ngày càng đợc định hình trong các tầng lớp nhân dân, trớc hết là trong đội
ngũ cán bộ, công chức Nhà nớc. Sự xuất hiện đó cũng mở ra bớc ngoặt trong sự phát
triển của hệ thống pháp luật Việt Nam, từ một hệ thống không hoàn chỉnh, mất cân
đối, thiếu đồng bộ, hiệu lực thấp, sang một hệ thống pháp luật đã bao quát, điều
chỉnh hầu hết các lĩnh vực, quan hệ xã hội có nhất quán, với một thứ bậc có hiệu lực
chặt chẽ, có sự tơng đồng nhất định với pháp luật các nớc và pháp luật quốc tế.
12



quan Nhà nớc trong việc thực hiện 3 quyền: lập pháp, hành pháp, t pháp còn nhiều
nhiệm vụ cha rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ,mối quan hệ phân cấp Trung ơng - địa
phơng còn nhiều mặt cha cụ thể (nh về quản lý đầu t, tài chính, tổ chức bộ máy, kết
hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ...) làm cho tình trạng tập trung quan liêu cũng
nh phân tán, cục bộ chậm đợc khắc phục. Về sự thống nhất quyền lực Nhà nớc và sự
phân công phối hợp trong hoạt động thực tiễn còn có vớng mắc, trùng lắp, cha tạo ra
đợc sự đồng bộ, ăn khớp nên cha phát huy đợc hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nớc. Công tác t pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chính sách hình sự, chế định luật dân
sự và tố tụng còn nhiều bất cập, chậm đợc sửa đổi bổ sung. Đội ngũ cán bộ t pháp
còn thiếu, trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị của một bộ phận còn yếu, thậm chí
một số bộ sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp. Vẫn còn tình
trạng oan sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử.
Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy Nhà nớc tuy đã thực
hiện một số biện pháp ngăn ngừa và trừng trị nhng các biện pháp đó cha tỏ ra hiệu
quả, do đó, các tệ nạn này vẫn còn xảy ra khá gay gắt, trầm trọng, làm giảm lòng tin
13


của nhân dân đối với chính quyền và gây ảnh hởng xấu trong xã hội. Sự thiếu công
tâm, minh bạch trong công vụ của một bộ phận công chức làm cho ngời dân bất
bình, ảnh hởng xấu đến phát triển kinh tế - xã hội.
Sự lãnh đạo của Đảng cha đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới tổ chức và
hoạt động của Nhà nớc vẫn còn tình trạng buông lỏng và bao biện, chồng chéo nên
cha phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực điều hành của bộ máy Nhà nớc.
Một trong những sự bất cập của pháp luật hiện nay là sự thiếu ổn định và tính
khả thi của nó. Không ít quy định pháp luật đợc xây dựng công phu tốn kém, nhng
mới ban hành cha lâu đã có nhu cầu bổ sung sửa đổi. Tình hình này làm cho pháp
luật nớc ta khó bắt kịp nhịp điệu phát triển kinh tế xã hội của đất nớc và càng khó
khăn thêm khả năng tơng thích với các không gian pháp lý quốc tế. Kế hoạch xây
dựng pháp luật, phơng pháp xây dựng các văn bản và phong cách làm luật của chúng
ta đã đợc đổi mới nhiều trong những năm qua, nhng nhìn chung vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu về số lợng và chất lợng của hoạt động xây dựng pháp luật.

14


Cơ chế xây dựng, sửa đổi và bổ sung pháp luật tuy đã đợc đổi mới một bớc
bằng việc quốc hội đa phơng qua luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi
tháng 12/2002) nhng vãn còn nhiều bất cập cần phải tiếp tục hoàn thiện và đổi mới
một cách cơ bản về số lợng các dự án luật đợc thông qua. Trong đó, phải đặc biệt
khắc phục tình trạng ẩn chứa trong luật những lợi ích cục bộ của ngành và tạo thuận
lợi cho cơ quan Nhà nớc, gây khó khăn phiền hà cho ngời dân. Đồng thời khắc phục
tính hình thức trong việc tổ chức lấy ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, thành viên
của Chính phủ và nhân dân về các sự án luật cần có cơ chế thu hút các chuyên gia và
huy động có hiệu quả trí tuệ của nhân dân, các tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp
vào hoạt động xây dựng pháp luật.
Hoạt động rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và pháp điển hóa
cha đợc các ngành quan tâm đầy đủ và thờng xuyên.
Điều ớc quốc tế mà Nhà nớc ta đã ký kết hoặc gia nhập cha đợc quan tâm
đúng mức để tổ chức thực hiện và nội dung hóa kịp thời.
Việc tổ chức thực hiện pháp luật, đa pháp luật vào cuộc sống cha theo kịp
hoạt động xây dựng pháp luật, cha ngang tầm với việc đề cao vai trò của pháp luật
trong đời sống Nhà nớc và xã hội. Thông tin pháp luật cha kịp thời, cha cập nhật và
cha thống nhất. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn chạy theo phong trào
mang tính bề nổi, kém hiệu quả. Cha có nội dung và hình thức tuyên truyền phổ
biến pháp luật sát hợp với nhu cầu, điều kiện đặc điểm của từng nhóm đối tợng... Hệ
thống dịch vụ và giúp đỡ pháp lý còn yếu, cha đủ sức để t vấn và giúp công dân
doanh nghiệp hiểu biết pháp luật,làm theo pháp luật thấp.
Việc thực hiện vai trò giám sát của quốc hội còn lúng túng. Mô hình tổ chức
chính quyền địa phơng nhất là tổ chức hội đồng nhân dân, còn những điểm bất hợp
lý. Cải cách hành chính chậm, cải cách t pháp mới bớc đầu triển khai, cha đáp ứng
yêu cầu phát triển, hoạt động của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở nhiều
nơi còn thụ động mang tính hành chính, hình thức. Dân chủ trong xã hội còn bị vi

vọng và lợi ích của nhân dân và dựa trên nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nớc thuộc
về nhân dân.
2.3. Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đợc tổ chức và phân
công quyền lực Nhà nớc thật sự khoa học, phát huy mạnh mẽ hiệu lực, hiệu quả
quản lý nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Nhà nớc thực hiện ba
quyền thống nhất có sự phân công rành mạch, trong đó đề cao trách nhiệm, tính chủ
động và sự phối hợp hoạt động của các cơ quan trong việc thực hiện các lập pháp,
hành pháp, t pháp, thực hiện sự phân cấp hợp lý quyền lực Nhà nớc giữa chính
quyền trung ơng và chính quyền địa phơng. Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở
vững mạnh, bảo đảm thực hiện có hiệu quả chủ trơng, đờng lối, nghị quyết của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nớc. Để xây dựng Nhà nớc vững mạnh cần tiếp
tục đổi mới tổ chức và hoạt động của quốc hội, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải
cách t pháp, xác định rõ tính chất, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ
chức của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp, tiếp tục nghiên cứu làm rõ
mô hình tổ chức các cơ quan t pháp (toà án, viện kiểm soát, cơ quan điều tra) cho
phù hợp yêu cầu mới, tăng cờng vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nớc trong điều kiện
kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Các cơ
quan hành chính Nhà nớc tiếp tục đổi mới việc quản lý Nhà nớc đối với các hoạt
động kinh tế, bảo đảm sự bình đẳng và phát huy tính năng động, sáng tạo của tất cả
các thành phần kinh tế.
Quốc hội phải thật sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan
quyền lực Nhà nớc cao nhất thực hiện chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nớc và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với
toàn bộ hoạt động của Nhà nớc. Tổ chức và hoạt động của Quốc hội cần đợc tiếp tục
nghiên cứu đổi mới theo hớng tăng cờng chất lợng và vị thế của đại biểu quốc hội,
nâng cao chất lợng hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội:
tăng cờng số đại biểu quốc hội chuyên trách đến tỷ lệ hợp lý (khoảng 40 ngời, hoặc
50 ngời tổng số đại biểu Quốc hội), tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng luật, đổi
mới phơng thức giám sát, đổi mới việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nớc, trớc tiên là cách thức quyết định các vấn đề ngân sách Nhà nớc.
Cần tiếp tục nâng cao hiệu lực hoạt động của Chính phủ, thật sự là cơ quan

cơ quan hành chính Nhà nớc ở địa phơng.
Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động t pháp để xây dựng một nền t pháp Việt
Nam vững mạnh, minh bạch, bảo đảm công lý, công bằng, dân chủ, tận tuỵ phục vụ
nhân dân, phải lấy việc đổi mới tổ chức và hoạt động của toà án làm trung tâm của
cải cách t pháp.
Thực hiện việc tổ chức toà án theo cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm). Không
tổ chức toà án gắn với đơn vị hành chính, xây dựng hệ thống toà án theo hớng: Toà
án sơ thẩm khu vực đợc tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện.
Toà án cấp tỉnh cha xét xử phúc thẩm, toà thợng thảm đợc tổ chức theo khu vực
(nhiều tỉnh, thành phố) để xét xử phúc thẩm các vụ án mà toà án cấp tỉnh đã xét xử
phúc thẩm, toà thợng thẩm đợc tổ chức theo khu vực (nhiều tỉnh, thành phố) để xét
xử phúc thẩm các vụ án mà toà án cấp tỉnh đã xét sử sơ thẩm mà có kháng cáo,
kháng nghị, toà án nhân dân tối cao có không hiếm vụ xét sử các vụ án theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm và làm nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hớng dẫn
các toà án áp dụng thống nhất pháp luật và ban hành án lệ.
Viện kiểm sát thực hiện chức năng công tố của kiểm sát hoạt động t pháp cần
đợc tổ chức phù hợp hệ thống tổ chức của toà án, nghiên cứu thành lập viện công tác
thuộc Chính phủ và tiến tới thực hiện cơ chế: cơ quan công tố chỉ đạo, chỉ huy điều
tra.
Tiếp tục tăng cờng về chất lợng và số lợng đội ngũ điều tra viên, nghiên cứu
tổ chức lại cơ quan điều tra theo hớng thu gọn đầu mối, có thể thành hệ thống cơ
17


quan độc lập thuộc Chính phủ hoặc thuộc hệ thống cơ quan công tố. Đổi mới công
tác thi hành án theo hớng tập trung thống nhất quản lý vào môn đầu mối.
Xây dựng cơ chế bảo hiểm hữu hiệu. Nghiên cứu có thể thành lập Toà án Hiến
pháp (hoặc uỷ ban bảo hiểm) với chức năng bảo vệ Hiến pháp bằng thẩm quyền xét
xử đề ra phán quyết về sự vi phạm hiến pháp của các văn bản quy phạm pháp luật,
xét xử các quyết định, hành công tác t tởng Hiến pháp của cơ quan và cá nhân có

vào các dự án luật, các dự thảo nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nớc thật sự
thiết thực và có hiệu quả, tránh làm hình thức, tràn lan, tốn kém. Nhân dân ở xã,
thôn, ấp, bản cũng bàn bạc xây dựng uy ớc, hơng ớc về nếp sống văn minh, gia đình
văn hoá... phù hợp với nếp sống mới, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và pháp
luật của Nhà nớc.
3. Giải pháp xây dựng hoàn thiện Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Cần coi trọng sự phát triển hài hòa, đồng bộ giữa dân chủ ở cấp Trung ơng với
việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, trong đó dân chủ cơ sở có tính chất nền tảng, mở
18


rộng sinh hoạt dân chủ, tăng cờng kiểm tra, giám sát của tập thể đối với cá nhân, của
tổ chức đối với cán bộ, đảng viên. Kể cả đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt, có quy
chế đảm bảo phát huy tự do, t tởng tôn trọng những ý kiến khác nhau. Nhng dân chủ
phải trong khuôn khổ của pháp luật; phải gắn bó chặt chẽ với trật tự kỷ cơng, khắc
phục mọi biểu hiện của dân chủ hình thức, đề cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nớc
với công dân với Nhà nớc.
3.1. Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải đợc tổ chức và
phân quyền lực Nhà nớc thực sự khoa học, phát huy mạnh mẽ hiệu lực, hiệu quả
quản lý nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Nhà nớc thực hiện ba quyền thống nhất, trong đó, đề cao trách nhiệm, tính chủ
động và sự chi phối hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, t pháp, thực
hiện quyền lực Nhà nớc giữa chính quyền Trung ơng và chính quyền địa phơng, xây
dựng hệ thống chính trị vững mạnh ở cơ sở, đảm bảo thực hiện có hiệu quả chủ trơng, đờng lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nớc.
Quốc hội phải thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền
lực Nhà nớc cao nhất, thực hiện chức năng lập hiến, lập pháp. Quốc hội cần có đủ
các điều kiện về tổ chức bộ máy, nhân sự, phơng tiện và chế độ làm việc chuyên
nghiệp hơn. Quốc hội cần tập trung vào quyết định kế hoạch phát triển kinh tế, xã
hội, ngân sách và nhân sự cao cấp của Nhà nớc. Đồng thời tập trung giám sát các cơ

thổ. Chính phủ khẩn trơng hoàn thiện hợp lý cơ cấu tổ chức bộ máy của mình theo
hớng quản lý vĩ mô và mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, từng b ớc sắp xếp lại
các bộ, ngành, trung ơng bảo đảm thu gọn và tinh gọn, hợp lý đến mức cần thiết.
Xác định đúng vị trí của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân trong cơ cấu
quyền lực Nhà nớc. Xây dựng Hội đồng nhân dân các cấp có thực quyền để thực
hiện đầy đủ vai trò là cơ quan đại diện của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà n ớc ở
địa phơng, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở từng cấp. Uỷ ban nhân dân các
cấp cần đợc kiện toàn theo hớng tin gọi, giảm bớt số uỷ viên là thủ trởng cơ quan
chuyên môn; quy định rõ hơn trách nhiệm thẩm quyền của tập thể uỷ ban nhân dân
và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Hàng năm, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
các cấp có báo cáo tổng kết công tác, và thông qua những hình thức phù hợp, thông
qua mặt trận và các đoàn thể để phê bình, tự phê bình trớc nhân dân và đề nghị nhân
dân nhận xét, đánh giá. Cần xác định rõ mô hình tổ chức chính quyền địa phơng.
3.2. Tiếp tục quan triệt chủ trơng đẩy mạnh cải cách hành chính Nhà nớc
một cách sâu rộng, toàn diện từ Trung ơng đến địa phơng.
Dựa trên cơ sở pháp luật và tiến hành đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế
hành chính, công chức hành chính. Tập trung cải cách thể chế nền hành chính, cải
cách thủ tục trong các lĩnh vực có tác động trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh của
nhân dân loại bỏ những khâu xin phép, xét duyệt không cần thiết, công khai các quy
định thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính triển khai trong các cấp hành
chính của cả nớc thực hiện cơ chế "một cửa", ngăn chặn tệ cửa quyền, tham nhũng,
hối lộ, vi phạm pháp luật. Chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của hệ thống
hành chính. Làm cho bộ máy tinh gọn, bảo đảm sự điều hành tập trung thống nhất,
thông suốt có hiệu lực từ chính phủ đến chính quyền địa phơng, cơ sở, đồng thời
phát huy tính sáng tạo của chính quyền địa phơng cơ sở. Xác định chức năng quyền
hạn và trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền địa phơng. Kiện toàn bộ máy cấp
huyện và cơ sở đủ sức quản lý, giải quyết kịp thời đúng thẩm quyền những vấn đề
cuộc sống đặt ra và nhân dân đòi hỏi. Nghiên cứu tặng thẩm quyền cho các cơ quan
thanh tra trong việc xử lý hành chính tại chỗ các vi phạm pháp luật, phân định rõ
hơn trách nhiệm của các cơ quan thanh tra và toà án hành chính trong việc giải

ở... với tinh thần tiết kiệm, công bằng, chống lãng phí, chống đặc quyền, đặc lợi. Có
những biện pháp cụ thể bảo vệ và khen thởng những ngời kiên quyết đấu tranh
chống tham nhũng. Xem xét trách nhiệm hình sự hoặc có hình thức kỷ luật thích
đáng đối với những ngời đứng đầu cơ quan, đơn vị ở nơi xảy ra những vụ tham
nhũng lớn, gây hậu quả nghiêm trọng.
3.4. Cải cách t pháp là một nội dung quan trọng của xây dựng Nhà nớc pháp
quyền.
Việc xây dựng một nền t pháp vững mạnh, minh bạch, xét xử độc lập, tuân thủ
Hiến pháp và pháp luật, đảm bảo công lý, công bằng, dân chủ, tận tuỵ phục vụ nhân
dân. Hoạt động t pháp phải nhằm đấu tranh nghiêm vị các tội chóng Tổ quốc, chống
chế độ, tội tham nhũng và các tội hình sự khác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân. Toà án theo cấp xét xử, không có tổ chức toà án gắn với đơn vị hành
chính. Nâng cao chất lợng tranh tụng bình đẳng, công bằng, dân chủ trớc phiên toà.
Toà án nhân dân tối cao làm nhiệm vụ tổng kế kinh nghiệm xét xử, hớng dẫn các toà
án cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm.
Vấn đề lớn nhất hiện nay là nhiệm vụ chống án oan sai và bỏ lọt tội phạm trong
hoạt động t pháp bằng việc xác định đúng vị trí, vai trò và trách nhiệm, nâng cao
chất lợng điều tra, truy tố, xét xử của cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
Nâng cao chất lợng hoạt động của viện kiểm soát theo chức năng quy định trong
Hiến pháp, tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát của hoạt động t pháp.
Chính quy hóa lực lợng điều tra, nghiên cứu tổ chức lại cơ quan điều tra theo hớng
thu gọn đầu mối. Kết hợp chặt chẽ giữa trinh sát, điều tra ban đầu với hoạt động của
cơ quan điều tra nhằm bảo đảm sự thống nhất trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội
phạm, bảo đảm quyền dân chủ và sự an toàn của công dân. Về lâu dài, viện kiểm sát
cần trở thành một cơ quan chuyên môn của Quốc hội, thực hiện chức năng giám sát
việc tuân thủ pháp luật.
Kiện toàn các cơ quan thi hành án, bảo đảm thi hành đầy đủ, nhanh chóng các
bản án và quyết định của toà án, của tổ chức trọng tài, chấn chính các trại giam để
giáo dục, cải tạo tốt phạm nhân. Chuẩn bị điều kiện để tiến tới giao cho một cơ quan
quản lý tập trung thống nhất công tác thi hành án.

quyền xã hội chủ nghĩa.
Đảng lãnh đạo Nhà nớc bằng công tác cán bộ, Đảng xây dựng đội ngũ cán bộ,
xác định quan điểm, nguyên tắc và tiêu chuẩn, cán bộ đảng viên tham gia công tác
Nhà nớc. Đảng chăm lo giáo dục rèn luyện đảng viên, lựa chọn những đảng viên u
tú có năng lực và phẩm chất để nhân dân bầu vào cơ quan Nhà nớc. Quản lý, kiểm
tra chặt chẽ số đảng viên đang giữ chức vụ trong Nhà nớc. Cần phải củng cố và nâng
cao chất lợng hoạt động của các tổ chức Đảng trong cơ quan Nhà nớc. Có cơ chế
gắn hoạt động của trởng ban và các ban của Đảng với hoạt động của các Uỷ ban của
Quốc hội và các ban của Hội đồng nhân dân. Tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng để
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện tốt vai trò của mình. Phát huy vai
trò của đảng uỷ, chi bộ trong các cơ quan Nhà nớc.

22


C. Kết luận
Dới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam cùng sự phấn đấu
không ngừng nghỉ của toàn thể nhân dân, trải qua mấy thập kỷ xây dựng và phát
triển Nhà nớc ta đã đạt đợc những thành tựu quan trọng : tốc độ tăng trởng GDP năm
sau cao hơn năm trớc, kinh tế vĩ mô tơng đối ổn định. Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ và an ninh quốc gia đợc giữ vững, chính trị - xã hội ổn định. Nhất là công
tác lập pháp của quốc hội có những đổi mới quan trọng. Hiến pháp và hệ thống pháp
luật tiếp tục đợc sửa đổi, bổ xung, quy trình làm luật đợc cải tiến, hàng loạt luật và
pháp lệnh mới đợc ban hành... Tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nớc đợc tăng
cờng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Chính phủ, của các
bộ,ngành và chính quyền địa phơng các cấp đợc phân định cụ thể hơn, phân cấp
nhiều hơn. Các hoạt động t pháp và cái cách t pháp có những chuyển biến tích cực.
Tuy đã đạt đợc những thành tựu đáng kể nhng bên cạnh đó vẫn còn những tồn
tại yếu kém cần phải khắc phục để hoàn thành tốt nhiệm vụ "xây dựng Nhà nớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dới sự lãnh

5. Kết cấu của đề tài
B. Nội dung

Trang 1
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 3
Trang 3
Trang 4

I. Cơ sở hình thành Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Trang 4
1. Cơ sở lý luận
Trang 4
2. Cơ sở thực tiễn.
Trang 5
II. Đặc điểm của Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Trang 7
1. Nhà nớc ta là Nhà nớc của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền
lực Nhà nớc thuộc về nhân dân..............
Trang 8
2. Xác định quyền lực Nhà nớc là thống nhất, có sự phân công rành mạch và sự
phối hợp giữa các cơ quan Nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, t pháp..........
Trang 8
3. Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí cao nhất trong điều chỉnh các quan hệ
thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status