Chính quyền địa phương trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nguyễn đăng dung - Pdf 14


1 CHUYÊN ĐỀ 4
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG VIỆC XÂY
DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Nguyễn Đăng Dung

2Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì nhân
dân không những chỉ đòi hỏi sự thay đổi của cơ cấu tổ chức hoạt động của các cơ quan
nhà nước ở trung ương, mà còn cả sự thay đổi tổ chức hoạt động của các cơ quan chính

có sự phân biệt giữa đơn vị hành chính tự nhiên và đơn vị hành chính nhân tạo. Mặc dù
đã có Pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc phân biệt thẩm quyền cho chính
quyền địa phương các cấp, nhưng như trên đã nêu, và nội dung của pháp lênh này đã
được nâng cấp lên thành những quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân, nhưng những nội dung của Luật này vẫn chỉ dừng ở mức độ chung cho mọi
cấp.
Cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cấp chính quyền cấp dưới là bản sao của chính
quyền cấp trên. Cấp trên có cơ cấu tổ chức nào và các hình thức hoạt động nào, thì ở cấp
dưới cũng có những cơ cấu và hình thức đó. M ô hình này được tổ chức theo của Xô viết,
mà đặc trưng của nó là các cấp chính quyền địa phương đều được tổ chức giống nhau. Ở
cấp nào cũng có Hội đồng nhân dân (Xô viết) do dân trực tiếp bầu ra và đều được gọi là cơ
quan quyền lực nhà nước ở địa phương, hoạt động một cách hình thức.
Cách tổ chức này không phân biệt các quận, hạt có nhiệm vụ quản lý nhà nước về
một lĩnh vực nhất định nào đấy xuất phát từ nhu cầu quản lý chung của nhà nước, với các

3
cộng đồng lãnh thổ dân cư được hình thành một cách tự nhiên bền vững, cần phải có
những quyết định phản ánh nhu cầu từ cộng đồng dân cư, khác với các vùng lãnh thổ
khác, mà pháp luật và các quyết định quản lý nhà nước cấp trên không có điều kiện thể
hiện. Quan hệ trung ương và địa phương không rõ ràng, thiếu thủ tục làm việc, nặng về
cơ chế cấp phát, xin cho.
Đầu mối tổ chức các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân các cấp cũng còn
nhiều nặng nề. Việc kiến thiết tổ chức các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân còn
rập khuôn và tương ứng với các bộ, ngành trung ương. Tức ở trung ương có bộ, ngành
nào thì ở địa phương cũng có các cơ quan chuyên môn đó tương ứng. Số lượng, tên gọi
của các cơ quan chuyên môn của mỗi địa phương cũng dập khuôn giống nhau mặc dù đặc
điểm tính chất, yêu cầu quản lý ở mỗi địa phương có sự khác nhau.
- Thứ ba, việc tổ chức và hoạt động các cấp chính quyền không tạo điều kiện cho
việc chủ động sáng tạo của các cấp chính quyền cấp dưới, nặng về việc cấp dưới xin ý
kiến chỉ đạo, hoặc phê duyệt của cấp trên, theo cơ chế "xin - cho". Các cấp chính

trong những chính quyền địa phương, song hội đồng đô thị hay thị xã duy nhất góp lại
những đề nghị, họp thành uỷ ban để cứu xét những đề nghị đã rồi thảo luận và bỏ thăm
về những đề nghị ấy theo thể thức tương tự như thể thức trong nền lập pháp quốc gia. Vị
Chủ tịch Hội đồng, một khi được nhân dân bầu ra, cũng xử sự trong nhiều phương diện
như một vị Tổng thống hay Thủ tướng, và hợp lực cùng các viên chức hành chính cao

4
cấp khác để hoàn thành những nhiệm vụ như ấn định kế hoạch, tổ chức, tuyển mộ nhân
viên điều khiển, ấn định ngân sách, v.v , núi tóm lại các chức vụ tương tự về nhiều
phương diện chính như những chức vụ do những viên chức khác thuộc cấp bậc lớn hơn
thực hiện ”
1
.

CHUYÊN ĐỀ 5.
TÍNH DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG BẦU CỬ

Nguyễn Đăng Dung

I. KHÁI NIỆM CHẾ ĐỘ BẦU CỬ
Bầu cử là một định chế trọng tâm của các chính phủ dân chủ kiểu đại diện. Vì
trong một nền dân chủ, quyền lực của nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của
người dân (người bị quản lý). Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực
nhà nước là tổ chức bầu cử tự do và công bằng.
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là một vấn đề cơ bản nhất của Hiến pháp.
Quyền lực đó phải có các hình thức và biện pháp thực hiện nhất định. Cho đến có hai
hình thức cơ bản để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về mình: Dân chủ trực
tiếp và dân chủ gián tiếp. Dân chủ trực tiếp tức là nhân trực tiếp thực thi bằng cách bỏ
phiếu phúc quyết. Đây là cách thức chưa phổ biến hiện nay. Thứ hai, dân chủ gián tiếp,
tức là nhân dân bỏ phiếu bầu ra những người đại diện, những người đại diện này thay mặt

New Jercey. p .65 0.
(1)
Xem Nguyễn Gia Phu. Lịch sử Hy lạp và Rôma cổ đại. tr., 19, H.,1991

5
chỉ có thể có được quyền lực nhà nước từ nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà
nước bằng cách bầu ra những người đại diện thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà
nước.
Một trong những quyết định quan trọng nhất của một chế độ dân chủ là phương
pháp bầu cử ra các nhà lãnh đạo và các dân biểu. Nói chung có hai cách lựa chọn cơ bản.
Trong chế độ đại nghị, nhân dân trực tiếp bầu ra hạ nghị viện, đảng đa số tại Hạ nghị viện
(Dân biểu viện) hay liên minh các đảng cầm quyền thành lập ra một chính phủ do một
Thủ tướng đứng đầu. Do vậy chính phủ phải chịu trách nhiệm trước nghị viện (Dân biểu
viện). Chế độ đại nghị trước tiên xuất hiện ở nước Anh, ngày nay được áp dụng ở nhiều
nước khác cả ở Châu Âu cho đến nhiều nước ở vùng biển Caribê, ở Canada và Ấn độ.
Các chính phủ đại nghị đều tự hào rằng với chế độ đa đảng, ngay cả những đảng rất nhỏ
bé cũng có đại diện trong viện lập pháp. Kết quả là những thiểu số cũng có thể tham gia
vào tiến trình chính trị ở cấp cao nhất trong chính phủ. Tính đa dạng này khuyến khích
việc đối thoại và dung hoà quyền lợi khi các đảng phái chính trị cố gắng thành lập ra một
liên minh để tổ chức ra chính quyền. Nếu như liên minh này tan vỡ, hay là đảng bị mất
tín nhiệm, thủ tướng sẽ từ chức, một chính phủ mới sẽ được thành lập hay là một cuộc
tổng tuyển cử mới được tiến hành. Tất cả những sự việc này sẩy ra mà không gây nên
một khủng hoảng chính trị đe doạ đến tận gốc chế độ dân chủ.

Khuyết điểm chính của chế độ đại nghị là mặt trái của tính mềm dẻo và chia xẻ
quyền hành pháp. Đó là sự bất ổn cố của chế độ chính trị. Liên minh đa đảng dễ bị tan vỡ
và sụp đổ ngay khi có những dấu hiệu đầu tiên của khủng hoảng chế độ chính trị, làm cho
nhiều đảng phái chỉ lên nắm chính quyền trong một thời gian ngắn. Chính phủ có thể bị
các đảng phái nhỏ bé hành hạ, bằng cách đe doạ rút ra khỏi chính phủ liên hiệp. Họ có thể
đòi hỏi phải có nhượng bộ một số yêu sách đặc biệt trong chính sách của chính phủ.

quyền bế tắc. Tổng thống có thể không hội đủ số phiếu để đem thi hành những chính sách
cứng rắn của mình, nhưng bằng cách phủ quyết (veto) có thể ngăn cản không cho Quốc
hội thế chính sách của mình bằng các chương trình hành động do Quốc hội đề xuất. Tổng
thống mặc dù do dân bầu ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, nhưng có thể không có
quyền lực bằng thủ tướng trong chế độ đại nghị. Tổng thống luôn luôn phải đấu tranh với
quốc hội – lập pháp, vì hai cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội là riêng rẽ ; và nhất là ở
M ỹ quốc sinh hoạt đảng lại lỏng lẻo không chặt chẽ như ở Anh, Tổng thống M ỹ không
thể giải nhiệm hoặc áp dụng biện pháp kỷ luật đối với đảng viên thuộc đảng của mình,
một khi họ không bỏ phiếu cho chính sách của mình. Nếu trong khi một vị thủ tướng của
chế độ đại nghị với đa số của nghị viện thuộc đảng của mình là đảm bảo chắc chắn cho
chương trình lập pháp mà ông ta đề xuất sẽ được Quốc hội thông qua, thì một vị tổng
thống trong chế độ tổng thống cộng hoà, khi giao thiệp với một quốc hội có đa số không
cùng đảng, mà lại cũng có những đặc quyền như mình, thường phải dùng đến phương
pháp thương nghị trường kỳ, mới có thể đảm bảo dự luật do mình đưa ra được thông qua
tại Quốc hội.

Ở Mỹ, cũng như ở bất cứ nền dân chủ nào khác, sự đảm bảo quan trọng nhất về
trách nhiệm của chính quyền là sự kiểm soát chính quyền thông qua các cuộc bầu cử
M ỗi một cuộc bầu cử như là một cuộc sát hạch chính quyền lớn. Nếu như nhân dân vẫn
tin tưởng, thì chính quyền cũ vẫn còn tại vị. Ngược lại thì phải ra đi nhường lại chính
quyền cho một lực lượng khác.

Khác với chế độ xã hội chủ nghĩa, nhà nước tư sản được tổ chức và thành lập theo
nguyên tắc phân chia quyền lực. Vì vậy, đối tượng bầu cử trong nhà nước tư sản được áp
dụng rộng rãi hơn. Không những chỉ trực tiếp bầu ra các nghị sĩ như trong nhà nước xã
hội chủ nghĩa, cử tri của nhà nước tư bản còn bầu ra các quan chức cao cấp khác như
tổng thống, các thị trưởng. Như vậy có thể suy ra rằng, số lần bầu cử được tỷ lệ thuận với
mức độ phân quyền của mỗi quốc gia. Càng phân quyền bao nhiêu, càng có bầu cử nhiều
bấy nhiêu và sự hạn chế quyền lực nhà nước càng được gia tăng bấy nhiêu.


lưu của giai cấp thống trị, sau đấy là của những người có của, những người đàn ông, của
những người có quốc tịch nguyên thuỷ, Mãi sau này, năm 1972, vào những năm cuối
thể kỷ XX , phụ nữ Thuỵ Sĩ mới được quyền đi bầu cử như nam giới. Đó là quyền bầu
cử, tức là quyền đi bỏ phiếu. Cử tri là những người có quyền đi bỏ phiếu, về nguyên tắc
phải là rộng khắp để đủ bao gồm phần lớn số công dân trưởng thành của quốc gia. Chính
quyền do một nhóm nhỏ bầu lên không phải là một chính quyền dân chủ. M ột chính
quyền bao gồm những người đại diện do nhân dân thực hiện quyền thuộc về mình bầu
ra không thực sự nắm quyền lực nhà nước, thì đấy chưa phải là một chế độ dân chủ.

Một trong những bi kịch lớn của các chế độ dân chủ trong suốt lịch sử nhân loại là
công cuộc đấu tranh của các nhóm bị bỏ ra ngoài lề của cuộc sống cộng đồng theo các
màu sắc tôn giáo, sắc tộc, phụ nữ không được hưởng quyền bầu cử và có thể được bầu
giữ các chức vụ công cử. Ở Hoa kỳ chẳng hạn, khi Hiến pháp năm 1787 được thông qua
chỉ có nam công dân da trắng có tài sản mới được hưởng quyền bỏ phiếu và được bầu.
Điều kiện tài sản đã bị biến mất vào đầu thế kỷ 19 và mãi vào năm 1920 thì bằng tu chính
án thứ 19, phụ nữ mới có quyền đi bỏ phiếu. Mặc dù vào năm 1863 Tổng thống Lincoln
đã tuyên bố giải phóng nô lệ cho người da đen, nhưng mãi cho đến 3 thế kỷ sau đó, năm
1960 những người da đen mới được hưởng trọn quyền đi bầu cử ở miền Nam Hoa kỳ. Và
năm 1971 bằng tu chính án thứ 26 mới đây quyền bầu cử mới cho những công dân mới
được hạ từ 21 xuống 18 tuổi.

Còn quyền được bầu, quyền bầu cử thụ động, tức là quyền được người khác bầu
vào các cơ quan nhà nước tư sản, thì điều kiện đòi hỏi lại càng khó khăn hơn. Tuổi có thể
được bầu vào cơ quan nhà nước bao giờ cũng phải cao hơn quyền được đi bỏ phiếu
(quyền bầu cử) phải có thời gian cư trú nhiều hơn, phải ứng trước một khoản tiền cược
trước.

Che đậy bản chất, hay là một sự ngụy biện cho hiện tượng hạn chế quyền bỏ phiếu
của mọi người dân của những hạn chế nêu trên, nhiều học giả tư sản đã từng giải thích:
Công việc bầu cử là công việc phức tạp chỉ có những người có một trình độ hiểu biết và

hiện của nó là dân chủ đại diện, hiện nay được áp dụng hết sức rộng rãi. Bầu cử chỉ định
ra những người lãnh đạo quốc gia. Theo Hiến pháp và luật lệ của các nhà nước dân chủ,
các đại diện do nhân dân bầu ra phải có trách nhiệm chèo lái con thuyền quốc gia. Các
nhân vật này không phải là những bù nhìn hay là các nhà lãnh đạo tượng trưng.
Dân chủ đại diện là một thể thức dân chủ, trong đó nhân dân thực hiện chủ quyền
của mình qua khâu trung gian của những đại diện được chọn bằng phương pháp bầu cử.
Phương pháp này được áp dụng rất rộng rãi trong chế độ tư bản và trong chủ nghĩa xã
hội. Vì thế cho nên, các nhà nước tư bản hoặc xã hội chủ nghĩa phần lớn chỉ được tổ chức
theo chính thể cộng hoà, mà không được tổ chức theo một loại hình chính thể nào khác.

Về tầm quan trọng của bầu cử Hồ Chủ Tịch nói:
“Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có
tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà.Trong cuộc tuyển cử, hễ là người muốn lo
việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân đều có quyền đi bầu cử. Không
phân chia gái trai, giầu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân
Việt Nam đều có hai quyền đó.”
1Chế độ bầu cử là chế độ của sự hình thành bằng tổng thể các mối quan hệ xã hội
xảy ra qua các cuộc bầu cử từ lúc lập danh sách cử tri, xác định những người được quyền
đi bỏ phiếu, giới thiệu ứng cử viên, xác định những người có thể được bầu làm đại diện
trong các cơ quan Nhà nước cho đến giai đoạn cuối cùng là xác định, tuyên bố kết quả
của các ứng cử viên. Qua những cuộc bầu cử cho phép chúng ta thấy được các cuộc bầu
cử được diễn ra một cách dân chủ, không áp đặt, không giả dối, một phương thức dân chủ
thực hiện quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân tự nguyện thể hiện ý chí của mình bỏ

1
-Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1995, t. 4, tr. 133


cử còn được gọi là pháp luật tố tụng bầu cử (Trình tự bầu cử).
Dù chính phủ có thể cơ cấu tổ chức chặt chẽ đến đâu, hoạt động có hiệu quả đến
đâu đi chăng nữa, mà các quan chức – những người đảm trách các chức năng quan trọng
của nhà nước không do bầu cử mà ra, cũng là một chế độ phi dân chủ. Chế độ đó chỉ là
dân chủ khi các quan chức lãnh đạo chính phủ được bầu ra một cách tự do dân chủ bởi
các công dân công khai và công bằng. Cơ chế bầu cử các chế độ chính trị có thể là khác
nhau, nhưng những yếu tố cơ bản của chúng là giống nhau đối với tất cả các xã hội dân
chủ, kể các dân chủ tư sản lẫn dân chủ xã hội chủ nghĩa: Tất cả các công dân đến tuổi
trưởng thành đều có quyền bầu cử, các cá nhân được bảo vệ không bị tác động tiêu cực
trong khi bỏ phiếu, kiểm phiếu công khai và trung thực

II. CÁC NGUYÊN TẮC BẦU CỬ
Với tính chất quan trọng của bầu cử như vậy, pháp luật bầu cử của chúng ta được
xây dựng trên một số nguyên tắc nhất định. Việc bầu cử đại biểu ở nước ta được tiến
hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các nguyên tắc đó
thống nhất với nhau, đảm bảo cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng
nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn. Các nguyên tắc bầu cử còn quy định quyền và trách
nhiệm của cử tri trong bầu cử, trách nhiệm của Nhà nước phải bảo đảm những quy định
về bầu cử. Các nguyên tắc này có thể được pháp luật quy định bằng một quy phạm nhất
định, hoặc bằng nhiều quy phạm trong các văn bản pháp luật bầu cử.
a. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu

(1)
Xem, Hồ Chí Minh; Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 1995, t. 4, tr 8

10
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, người dân làm chủ trong việc bầu ra những
người đại diện cho mình. Vì vậy Nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người
dân đều có thể tham gia bầu cử. Đây là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong chế độ bầu
cử của mỗi Nhà nước nói chung, trong đó có Việt Nam chúng ta. Mức độ dân chủ của xã

đơn khiếu nại Toà án phải giải quyết. Quyết định của Toà án là quyết định cuối cùng.
Về tầm quan trọng của cuộc bỏ phiếu, Hồ Chí M inh nói:
“Lá phiếu của người cử tri tuy khuôn khổ nó bé nhỏ, nhưng giá trị của nó vô cùng
lớn. Nhân dân ta đã trải qua biết bao gian khổ, hy sinh biết bao xương máu trong cuộc
cách mạng đánh đổ thực dân và phong kiến mới giành được nó. Nó chứng tỏ chế độ dân
chủ và tự do của Nhà nước ta và quyền làm chủ thực sự của mỗi công dân ta. Vì vậy đi
bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng
của mỗi cử tri”.
1b. Nguyên tắc bình đẳng
Nguyên tắc bình đẳng là một nguyên tắc rất quan trọng trong suốt quá trình bầu cử,
từ khi lập danh sách cử tri cho đến khi xác định kết quả bầu cử. Hình thức biểu hiện của
nguyên tắc rất đa dạng. Nhưng trước hết ở chỗ mỗi một cử tri đều có số lần bỏ phiếu như
nhau. Trong một cuộc bầu cử, mỗi một cử tri chỉ có một lá phiếu. Đủ tiêu chuẩn theo quy

1
Xem, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđ d, t. 11, tr. 247

11
định của luật bầu cử thì được lập danh sách cử tri. Muốn cho cử tri chỉ có một lá phiếu
trong một cuộc bầu cử thì mỗi một cử tri chỉ được ghi tên trong một danh sách của một
cuộc bầu cử.
Nguyên tắc bình đẳng bảo đảm để mọi công dân có khả năng như nhau trong việc
tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Nguyên tắc
bình đẳng nhằm đảm bảo sự khách quan trong bầu cử, không thiên vị.
Nguyên tắc này thể hiện trong quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử
của công dân; quy định số lượng dân như nhau thì được bầu số đại biểu bằng nhau; mỗi
cử tri được ghi tên vào danh sách ở một nơi cư trú, mỗi người chỉ được ghi tên ứng cử ở

Chế độ bầu cử với tư cách là một chế định quan trọng của ngành luật hiến pháp
được chia 2 chế định nhỏ là quyền bàu cử và quyền ứng cử. Quyền bầu cử và ứng cử là
quyền chính trị quan trọng bảo đảm cho công dân có thể tham gia vào việc thành lập ra
những cơ quan quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Theo quy định của Hiến pháp Việt
Nam công dân Việt Nam có quyền bầu cử và ứng cử vào hai cơ quan đại diện quyền lực
nhà nước của nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam. Đó là Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp.
a. Quyền bầu cử
Quyền bầu cử là quy định của pháp luật về khả năng của công dân thực hiện quyền
lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực Nhà nước

12
“Quyền bầu cử” không những chỉ là quyền bỏ phiếu mà còn bao gồm quyền đề cử
tức là khả năng chủ động trong lựa chọn những người có khả năng thay mặt mình trong
cơ quan đại diện. Cũng có khi “quyền bầu cử” được dùng với nghĩa bầu cử nói chung bao
gồm cả quyền đề cử, bỏ phiếu và quyền được bầu vào cơ quan đại diện. Nếu dùng khái
niệm này thì phải phân biệt quyền bầu cử chủ động (quyền đề cử bỏ phiếu) và quyền bầu
cử thụ động (quyền có thể được bầu). Về nguyên tắc chỉ có quyền bầu cử thì mới có
quyền được bầu, không có điều ngược lại. Hay nói một cách khác quyền bầu cử chủ động
là tiên quyết của quyền được bầu tức là bầu cử thụ động.
Vì tính chất quan trọng của quyền bầu cử nên quyền bầu cử chỉ được quy định cho
những người phát triển bình thường về mặt thần kinh, đạt đến độ chín chắn của sự phát
triển tâm, sinh lý nhằm bảo đảm cho họ có sự lựa chọn chính xác và độc lập.
Điều 54 của Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân không phân biệt dân tộc, nam
nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư
trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có
quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của pháp luật,
trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các
quyền đó”.
Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định độ tuổi của công dân để có quyền bầu

tránh là vi phạm nghĩa vụ trước Tổ quốc (Italia).

13
Hình thức ghi nhận quyền bầu cử của công dân là danh sách cử tri. Công dân có
quyền bầu cử cư trú thường xuyên hay tạm thời ở đâu đều được ghi tên vào danh sách cử
tri ở nơi đó. Để bảo đảm quyền bầu cử của công dân, pháp luật đã quy định cụ thể việc
lập niêm yết và thông báo rộng rãi danh sách cử tri. Pháp luật còn quy định thủ tục khiếu
nại và xem xét, giải quyết khiếu nại về vấn đề này.

b - Quyền ứng cử
Quyền ứng cử là quy định của pháp luật về khả năng của công dân thể hiện nguyện
vọng của mình được bầu làm đại biểu. Về nguyên tắc so với quyền bầu cử, quyền ứng cử
được pháp luật đòi hỏi cao hơn về chất. M ọi công dân Việt Nam có quyền bầu cử (nói ở
phần trên) đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử.
Quyền ứng cử của công dân thể hiện ở sự chấp thuận việc người khác đề cử mình
hoặc việc công dân tự ra ứng cử.
Ngay từ khi nhà nước ta ra đời đến nay, pháp luật đã có những quy định về quyền
ứng cử của công dân. Điều 12 của Sắc lệnh số 51 ghi rõ “Người ứng cử được tự do ứng
cử nơi mình chọn lấy nhưng chỉ một nơi ấy thôi”. Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959
đều quy định quyền ứng cử công dân. Luật bầu cử đại biểu Quốc hội 1959 còn quy định
“cá nhân có quyền tự ra ứng cử” (Điều 24).
Cùng với việc xây dựng quyền làm chủ tập thể, Hiến pháp 1980 đã coi quyền ứng
cử như một quyền thụ động và chỉ là khả năng “có thể được bầu” của công dân. Thực
hiện chủ trương tích cực hoá vai trò của công dân tham gia vào bầu cử, Hiến pháp 1992
và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1994 đã quy định quyền bầu cử và
quyền tự ứng cử của công dân.
So với quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân có những yêu cầu cao hơn. Trước
hết, là độ tuổi. Công dân từ mười tám tuổi trở lên thì có quyền bầu cử, nhưng phải đủ hai
mươi mốt tuổi trở lên mới có quyền ứng cử. Ngay từ Hiến pháp 1946 đã quy định:
“Người ứng cử là người có quyền bầu cử, phải ít ra là hai mươi mốt tuổi, và phải biết

tắc nhà nước pháp quyền phải là một nhà nước dân chủ. Nhà nước pháp quyền là nhà
nước hợp pháp. Nhà nước dân chủ cũng phải là một nhà nước hợp pháp. Bầu cử như là
một trong những biện pháp tạo nên sự hợp pháp của chính quyền nhà nước. Với bầu cử
quyền lực của các cơ quan được hình do sự ủy quyền của nhân dân. Trong một nhà nước
pháp quyền về nguyên tắc các cuộc bầu cử càng được tổ chức rộng rãi, càng nhiều bao
nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu, và nhà nước càng thể hiện sự dân chủ bấy nhiêu. Bầu cử là
hình thức mà nhân dân thực hiện sự trao quyền lực nhà nước thuộc về mình cho những
người đại diện cho nhân dân. Khi hết một nhiệm kỳ nhất định, nhân dân lại thực hiện
quyền bầu cử của mình trao quyền lực cho những người khác được nhân dân tín nhiệm.
Như vậy, bầu cử như là một biện pháp nhằm kiểm tra, giám sát chính quyền, và giải
quyết một cách hòa bình những xung đột giữa các cành quyền lực, làm cho quyền lực
nhà nước luôn luôn ở trạng thái hợp pháp của nó. Với nhiệm kỳ nhất định của những
người đại diện được nhân dân trao quyền lực, làm cho quyền lực nhà nước luôn luôn có
xu hướng quay trở lại phía nhân dân.
Nhưng bầu cử trong nhà nước pháp quyền phải khác với bầu cử trong một nhà nước
không pháp quyền ở chỗ bầu cử không thể là hình thức để hợp thức hóa một cơ cấu chính
quyền với các thành phần đã được định sẵn của một thế lực chính trị nào đó, mà bầu cử
phải là công khai, minh bạch, và có khả năng giúp nhân dân thiết lập được chính quyền
với cơ cấu, thành phần đúng theo nguyện vọng của họ.
Trong điều kiện của nhà nước pháp quyền có thể định nghĩa bầu cử là biện pháp có
khả năng giúp cho nhân dân có thể thay đổi cơ cấu, thành phần các cơ quan nhà nước
không thể hiện được ý chí của đa số nhân dân, không cải thiện được điều kiện sống của
họ. Ngoài ra bầu cử còn là một biện pháp được sử dụng để giải quyết những mâu thuẫn
không thể giải quyết được giữa các cấp chính quyền và giữa các cơ quan nhà nước. Trong
nhà nước pháp quyền các cuộc bầu cử phải diễn ra một cách thực sự tự nhiên, tránh mọi
sự áp đặt, đảm bảo quyền tự do chính trị của công dân. Với điều kiện này chúng ta dần
dần phải tiến tới chỗ giảm bớt và xóa bỏ hoàn toàn các hiệp thương giới thiệu ứng cử
viên, nhất là hiệp thương cơ cấu.

Kết luận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status