BÀI TẬP HỌC KỲ | Nhóm 4
BÀI THU HOẠCH
Vấn đề 1: HẬU QUẢ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU
1.1. Trong Quyết định số 319, lỗi của các bên được Tòa Giám đốc thẩm xác định như thế
nào?
Trong Quyết định số 319, Tòa Giám đốc thẩm xác định lỗi của các bên như sau: Ngày
17/7/2006, hai bên lập hợp đồng lại với nội dung: vợ chồng ông Lộc chuyển nhượng cho vợ
chồng ông Vinh diện tích đất 953 m2 với giá 100.000.000 đồng, ông Vinh đã trả 45.000.000 đồng,
sau 8 tháng ông Vinh phải trả tiếp 45 triệu đồng, nếu sai hẹn bên chuyển nhượng có quyền hủy
hợp đồng, số tiền 10 triệu đồng còn lại trả đợt 3, ông Lộc cam kết sau khi nhận tiền đợt 2 sẽ giao
“sổ đỏ” cho ông Vinh. Tuy nhiên, sau đó ông Vinh cũng không giao tiếp cho ông Lộc và ông Lộc
cũng không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vinh. Cả hai hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 9/9/2005 và 17/7/2006 đều chưa được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền công chứng hoặc chứng thực. Tòa án đã xác định lỗi đều thuộc về hai bên.
1.2. Trong Quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết ông Vinh sẽ được bồi thường như thế
nào?
Trong Quyết định trên, Tòa dân sự cho biết ông Vinh mới trả được 45 triệu đồng trên tổng
giá trị thửa đất 100 triệu đồng, tức là mới trả được 45% giá trị thửa đất, cả hai bên cùng có lỗi thì
khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu ông Vinh chỉ được bồi thường thiệt hại là 1/2 chênh
lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường.
1.3. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự.
- Đối với hướng giải quyết của Tòa sơ thẩm và phúc thẩm: hướng giải quyết trên là không
phù hợp. Vì Tòa sơ thẩm chưa xác minh xác định chính xác mức độ lỗi của của các đương sự làm
cho hợp đồng vô hiệu. Ở đây, Tòa sơ thẩm chỉ xác định vợ chồng anh Lộc đã thanh toán cho vợ
chồng ông Vinh là 45 triệu đồng/100 triệu đồng giá trị thửa đất. Theo định giá thửa đất hiện nay là
333.550.000 đồng, nên mức chênh lệch là 233.550.000 đồng, và việc xác định tiền bồi thường
thiệt hại cũng chưa chính xác, buộc mỗi bên chịu 1/2 mức bồi thường theo chênh lệch giá của toàn
bộ thửa đất là 116.775.000 đồng là không phù hợp. Tương tự, Tòa phúc thẩm cũng xác định
không đúng mức bồi thường thiệt hại tương ứng với lỗi của các bên. Ở đây, Tòa phúc thẩm không
nêu rõ lí do tại sao buộc ông Đào Văn Lộc, bà Hoàng Thị Lan phải bồi thường thiệt hại cho ông
1.5. Trong Quyết định số 58, đoạn nào cho thấy sau khi nhận chuyển nhượng của ông Khải,
bà Linh và bà Ngẫu (giao dịch thứ nhất), anh Long đã chuyển nhượng đất (giao dịch thứ
hai) Doanh nghiệp Tấn Hưng?
Trong Quyết định số 58, đoạn cho thấy sau khi nhận chuyển nhượng của ông Khải, bà Linh
và bà Ngẫu (giao dịch thứ nhất), anh Long đã chuyển nhượng đất (giao dịch thứ hai) Doanh
nghiệp Tấn Hưng là “Ngày 09-4-1991, mặc dù không có mặt ông Nhơn, nhưng ông Khải, bà
Linh, bà Ngẫu làm giấy sang nhượng phần đất thổ cư… đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất
nêu trên (trong đó có diện tích của ông Long) cho Doanh nghiệp tư nhân Tuấn Hưng.” -tr.4
1.6. Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy anh Long đã được cấp giấy chứng nhận chuyển
nhượng từ ông Khải, bà Linh và bà Ngẫu?
2
BÀI TẬP HỌC KỲ | Nhóm 4
Đoạn của Quyết định số 58 cho thấy anh Long đã được cấp giấy chứng nhận chuyển nhượng
từ ông Khải, bà Linh và bà Ngẫu là “Bị đơn là anh Lê Thanh Long và bà Lê Thị Phải…đến năm
1997 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.”-tr.2
1.7. Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy giao dịch thứ nhất vô hiệu?
Đoạn của Quyết định số 58 cho thấy giao dịch thứ nhất vô hiệu là “ Ngày 09-4-1991, ông
Khải, bà Linh, bà Ngẫu lập giấy sang nhượng phần đất nêu trên… nên bị vô hiệu theo Điều 128,
Điều 134 BLDS.” – tr.5
1.8. Trong Quyết định số 58 Tòa dân sự có cho biết giao dịch thứ hai vô hiệu không?
Trong Quyết định số 58 Tòa dân sự không cho biết giao dịch thứ hai có vô hiệu hay không
mà chỉ nói “Tuy nhiên, do anh Long đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích nên trên cho Doanh
nghiệp Tư nhân Tấn Hưng nên khi giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu theo Điều 137
thì cần xác định lỗi của ông Khải, bà Linh, bà Ngẫu, anh Long để bồi thường thiệt hại theo quy
định của pháp luật”. Ở đây Quyết định chỉ khẳng định rằng anh Long đã chuyển nhượng toàn bộ
diện tích nên trên cho Doanh nghiệp Tư nhân Tấn Hưng.
1.9. Theo anh/chị, giao dịch thứ hai có vô hiệu không? Vì sao?
này có được áp dụng đối với mọi trường hợp bán đấu giá hay chỉ áp dụng đối với việc bán
đấu giá được tiến hành đúng quy định? Thực tiễn xét xử thì công nhận kết quả đấu giá nếu
“việc bán đấu giá đó đúng quy định của pháp luật”
-
Theo Điều 138, người thứ ba được bảo vệ trong trường hợp có tài sản “thông qua giao
dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở
hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản đó do bản án, quyết
định bị hủy, sửa.” Theo phần in nghiêng, người đọc hiểu rằng, để người thứ ba được bảo
vệ, việc chứng minh có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định người giao
dịch với người thứ ba là chủ sở hữu chưa đủ mà còn phải chứng minh được rằng bản án,
quyết định này sau đó “bị hủy, sửa”. Thực ra, việc bản án hay quyết định có bị hủy, sửa
hay không không ảnh hưởng tới việc công nhận giao dịch của người thứ ba ngay tình.
Điều kiện trên nên được hiểu là “cho dù” sau đó người này (người được coi là chủ sở hữu)
không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy sửa.
4
BÀI TẬP HỌC KỲ | Nhóm 4
Vấn đề 2: BỒI THƯỜNG TỔN THẤT VỀ TINH THẦN DO TÍNH MẠNG BỊ
XÂM HẠI
2.1. Trong BLDS, trong trường hợp nào tổn thất về tinh thần được bồi thường? Nêu rõ quy
định liên quan.
Theo BLDS trong các trường hợp sau đây được bồi thường tổn thất tinh thần khi:
- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Khoản 2 – Điều 609);
- Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại ( Khoản 2 – Điều 610);
- Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại (Khoản 2 – Điều 611);
thiệt hại của người có hành vi xâm phạm mồ mả phải được dựa trên cơ sở pháp lí để toàn án có căn
cứ buộc người có hành vi xâm phạm mồ mả phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
2.4. Theo HĐTP, ai được hưởng bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng của anh Nam
bị xâm phạm? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo HĐTP, người được hưởng bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng của anh Nam bị
xâm hại là mẹ, vợ và con mới sinh của anh Nam. Trong Quyết định có đoạn: “Tòa án cấp phúc
thẩm đã không khắc phục được sai lầm nêu trên mà còn ghi sai họ của bị đơn dân sự, đồng thời
buộc bị đơn dân sự (bà Nguyễn Thị Thoại) bồi thường tổn thất tinh thần cho vợ anh Nam là không
đúng vì những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Nam gồm mẹ, vợ và con mới sinh
cũng được hưởng khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do anh Nam bị thiệt hại về tính mạng...”tr3. Đoạn này của Quyết định đã cho ta câu trả lời về vấn đề đang bàn.
2.5. Theo HĐTP, ai được hưởng bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng của cháu Hà
và Quảng bị xâm phạm? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo HĐTP, người được hưởng bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng của cháu Hà và
Quảng bị xâm phạm là chị Phin - mẹ của hai cháu. Trong Quyết định có đoạn: “Riêng khoản tiền bù
đắp tổn thất về tinh thần cho cháu Vũ Thu Hà và Vũ Văn Quảng bị thiệt hại về tính mạng thì chỉ có
chị Phin (là mẹ của hai cháu) được hưởng...”.
2.6. Việc xác định người được bồi thường tổn thất về tinh thần trên có phù hợp với các quy
định hiện hành không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Việc xác định người được bồi thường tổn thất về tinh thần trên phù hợp với các quy định hiện
hành. Theo khoản 2 Điều 610 BLDS thì “Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi
thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một số khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về
tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại...” và theo
điểm a, tiểu mục 2.4, mục 2, phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP thì “người được nhận
khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại”. Do đó, việc HĐTP xác định người được hưởng bồi thường tổn
thất về tinh thần do tính mạng của anh Nam là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất
là mẹ, vợ và con mới sinh của anh Nam; người được hưởng bồi thường tổn thất về tinh thần do tính
mạng của cháu Hà và cháu Quảng bị xâm phạm là chị Phin - mẹ của hai cháu là hoàn toàn phù hợp
với các quy định hiện hành.
đã kết hợp cả hai yếu ố đó là “hàng thừa kế thứ nhất” và “người thân thích”.
Theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP thì người được bồi thường tổn thất về tinh thần bao
gồm: “vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị hại.”. Theo Nghị
quyết này thì người được hưởng bồi thường tổn thất về tinh thần là những người thuộc hàng thừa kế
thứ nhất và đã bỏ đi yếu tố là “người thân thích”.
Thiết nghĩ, chúng ta nên theo qui định của BLDS. Bởi vì, để xác định yếu tố “thân thích” cần
căn cứ và mối quan hệ tình cảm giữa người bị hại và người liên quan. Theo qui định này của BLDS
thì người được bồi thường là cha, mẹ đẻ hay con đẻ nhưng trong thực tế thì không hiếm trường hợp
7
BÀI TẬP HỌC KỲ | Nhóm 4
con đẻ không xem cha, mẹ đẻ là gì, không quan tâm đến họ nên khi cha, mẹ chết thì có thể họ không
có tổn thất về tinh thần. Nói cách khác, họ tuy thuộc “hàng thừa kế thứ nhất” nhưng lại không phải
là “người thân thích” với nạn nhân và do đó họ không có tổn thất về tinh thần nếu cho họ được phép
hưởng bồi thường tổn thất về tinh thần thì sẽ không thuyết phục.
Trong quyết định trên, đối với cái chết của cháu Hà và cháu Quảng thì theo HĐTP khoản tiền
bù đắp tổn thất về tinh thần do cháu Hà và cháu Quảng bị thiệt hại về tính mạng thì chỉ có chị Phin
(là mẹ của hai cháu) được hưởng. Ở đây, Tòa án chỉ giới hạn chị Phin vì hàng thừa kế thứ nhất của
hai cháu chỉ còn chị Phin. Với hướng này thì tòa án đã loại trừ khả năng mẹ anh Nam – tức bà của
hai cháu được bồi thường tổn thất về tinh thần. Theo nhóm tôi, thì bà của hai cháu hoàn toàn có thể
bị tổn thất về tinh thần khi tính mạng của hai cháu bị xâm phạm nhưng pháp luật hiện hành của
chúng ta không liệt kê người này vào danh sách người được hưởng bồi thường (trừ khi người này đã
nuôi dưỡng hai cháu) nên việc HĐTP loại trừ khả năng bà của hai cháu được hưởng bồi thường tuy
phù hợp với qui định hiện hành nhưng giải pháp này hoàn toàn không phù hợp về mặt “tình”; bởi
không hiếm những phụ nữ thể hiện sự đau đớn khi cháu mình bị xâm phạm về sức khỏe hay tính
mạng nên pháp luật cần cho phép họ được bồi thường tổn thất về tinh thần cho dù người này không
thuộc hàng thừa kế thứ nhất đối với người bị hại.
Tương tự, anh Đông là em trai của anh Nam và theo HĐTP thì anh Đông cũng hoàn toàn
tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.”
2.11. Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm đã quyết định cho gia đình chị Phin được hưởng mức bồi
thường là bao nhiêu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong phần nhận thấy của Quyết định đã chỉ ra cho ta mức bồi thường mà Tòa sơ thẩm và Tòa
phúc thẩm đã quyết định cho gia đình chị Phin. Cụ thể:
•
“Tại bản án hình sự sơ thẩm số 1711/2005/HSST ngày 8/12/2005…. Áp dụng các Điều
613,614 và 627 BLDS , buộc bà Nguyễn Thị Hoài tiếp tục bồi thường số tiền 12.600.000đ và bị cáo
Nguyễn Quốc Sang bồi thường số tiền 2.000.000đ cho gia đình anh Vũ Hoài Nam; bà Nguyễn Thi
Thoại cấp sưỡng nuôi con anh Vũ Hoài Nam mỗi tháng 200.000đ đến khi cháu tròn 18 tuổi”
•
“Tại bản án hình sự phúc thẩm số 550/2006/HSPT ngày 8/5/2006, Tòa án phúc thẩm Tòa
án nhân dân tối caotaij thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm về dân sự, buộc bà Nguyễn Thị
Thoại bồi thường tổn thất tinh thần cho vợ anh Nam số tiền 63.000.000đ (350.000đ/tháng x 180
tháng) và tiền mất thu nhập của anh Nam 1.500.000đ/1 tháng x 6 tháng là 9.000.000đ; tổng cộng là
72.000.000đ; ghi nhận sự tự nguyện của bà Thoại trợ cấp để nuôi con của anh Nam là cháu Vũ Anh
Tuyết sinh tháng 9/2005 mỗi tháng 200.000đ, cho đến khi cháu Tuyết trưởng thành…”
2.12. Hướng giải quyết của HĐTP liên quan đến mức tối đa gia đình chị Phin được hưởng bồi
thường tổn thất về tinh thần.
Đối với khoản tiền bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình chị Phin (vợ của anh Vũ Hoài
Nam), HĐTP không nhất trí với hai mức mà Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm đã đưa ra. Theo HĐTP,
ở quyết định của Tòa sơ thẩm, mức bồi thường như vậy là quá thấp. Xét thực tế ở đây, chị Phin mất
chồng và mất cả 2 con, mẹ của anh Vũ Hoài Nam cũng tương tự, mất cả con và 2 cháu, tổn thất tinh
thần là vô cùng to lớn cho nên không thể đưa ra khoản tiền quá thâp như thế. Còn đối với quyết định
của Tòa Phúc thẩm, HĐTP lại cho rằng là quá cao với lí lẽ: “khi giải quyết khoản tiền bù đắp tổn
thất về tinh thần đối với gia đình anh Nam, ngoài việc xác định vị thế của người bị hại trong gia
xem xét này, ta cũng bảo vệ hơn người bị thiệt hại, tránh trường hợp họ không được đền bù kịp thời,
thích hợp. Với chừng đó ý nghĩa, thiết nghĩ, hướng giải quyết trên cần được thiết lập thành án lệ để
thuận tiện hơn cho việc áp dụng.
10
BÀI TẬP HỌC KỲ | Nhóm 4
Vấn đề 3: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA
3.1. Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng chế định bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?
Trong Quyết định giám đốc thẩm số 30/210/DS-GĐT ngày 22-01-2010 về vụ án đòi bồi
thường thiệt hại tính mạng, Tòa án đã vận dụng chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra, thể hiện trong phần Xét thấy: “ …. Khi giải quyết vụ án, Tòa các cấp cần xác định
rõ đường dây đó do ai quản lý, sử dụng, từ đó căn cứ vào Điều 623 BLDS và Nghị định
45/2010/NĐCP ngày 2-8-2001 của Chính phủ quy định về hoạt động điện lực và sử dụng điện để
giải quyết.”-tr. 4
3.2 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định đây là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra?
Khoản 1 Điều 623 quy định: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông
vận tải cơ giới, hệ thống tải điện (…)”. Trong tình huống này, thiệt hại là do đường dây điện hạ
thế gây ra, đây là hệ thống điện, vậy Tòa án xác định đây là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra là đúng.
3.3 Tòa dân sự có cho biết ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại không?
Tòa dân sự không cho biết ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại. Nhưng theo
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và đại diện Viện kiểm sát thì “chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao
độ là Công ty điện lực 2”
3.4. Theo anh/chị, ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại?
sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Tuy nhiên,
theo hợp đồng, ông Nguyễn Văn Sua là người đứng tên ký hợp đồng mua điện nhưng ông Sua chỉ
làm 1 tháng thì nghỉ, sau đó anh Trần Văn Ri thay ông Sua làm tổ trưởng. Cần áp dụng theo điểm
d, mục 2, phần III Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8-7-2006: “Nếu chủ sở hữu nguồn
nguy hiểm cao độ đã giao nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác mà gây thiệt hại thì phải xác
định trong trường hợp cụ thể đó người được giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải là người chiếm
hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hay không để xác định ai có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại” để xác định chính xác hơn chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
12
BÀI TẬP HỌC KỲ | Nhóm 4
Vấn đề 4: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HAY NGOÀI HỢP ĐỒNG
4.1. Những điểm khác nhau cơ bản giữa bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng.
Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Là trách nhiệm dân sự phát sinh do không - Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hại là “hành vi trái pháp luật”.
theo hợp đồng.
- Việc bồi thường thiệt hại không giải phóng
người có nghĩa vụ khỏi trách nhiệm thực hiện
nghĩa vụ một cách thực tế.
-Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ làm
chấm dứt nghĩa vụ.
13
BÀI TẬP HỌC KỲ | Nhóm 4
-
Hành vi trái pháp luật
-
Thiệt hại
-
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại
-
Lỗi
Vụ việc thứ nhất: Trong phần Xét thấy của bản án số 451/2011/DS-GĐT có đoạn: “Tòa án
cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”
là đúng.” Ở đây, việc Ngân hàng đã tự ý phát mãi căn nhà của ông Nghinh mà không thông báo
cho ông biết là hành vi trái pháp luật, hành vi này không thuộc phạm vi của hợp đồng nên đây là
tranh chấp ngoài hợp đồng. Trong bản án nêu rõ Tòa Giám đốc thẩm cũng có yêu cầu xem xét
việc phát mãi nhà đất nêu trên có đúng pháp luật hay không, và việc phát mãi đó thì gia đình của
ông Nghinh có biết hay không? Vì vậy, Tòa án đã theo hướng quan hệ giữa các bên là bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng.
Vụ việc thứ hai: Tóa án không theo hướng quan hệ giữa các bên là bồi thường. Do trong