thảo luận hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bài tập thảo luận thứ 7 - Pdf 22

BÀI TẬP THẢO LUẬN
MÔN LUẬT DÂN SỰ
Danh sách nhóm…6…:
1. Vũ Hoàng Xuân Hà (nhóm trưởng) - 1055060043
2. Hoàng Thị Thu Hà - 1055060046
3. Phạm Thị Yến Ngọc - 1055060098
4. Phạm Ngọc Hà - 1055060044
5. Nguyễn Thị Minh Anh - 1055060005
6. Nguyễn Việt Dũng - 1055060033
7. Lê Hoàng - 1055060064
8. Nguyễn Quốc Ân - 1055060003
9. Võ Hoàng Thiên Lộc - 1055060081
1
BUỔI THẢO LUẬN THỨ BẢY
Vấn đề 1: Bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra
Bản án số 285/2009/HSPT ngày 23/12/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Định.
Tóm tắt bản án: Anh Cao Chí Hùng điều khiển xe ô tô khách của công ty TNHH
vận tải Hoàng Long chở khách đi từ Hải Phòng đến TP.Hồ Chí Minh. Vào ngày
30/4/2009, Hùng điều khiển xe ô tô nói trên đi trên đường QL1D với tốc độ
khoảng 40km/h, đây là đoạn đường có vạch sơn liền nét giữa đường, Hùng điều
khiển xe ô tô chiếm sang phần đường bên trái nên đã để góc dưới bên trái đầu xe ô
tô tông vào xe mô tô ngược chiều do anh Trần Ngọc Hải điều khiển đi đúng phần
đường, hậu quả anh Trần Ngọc Hải chết tại chỗ.
1. Vì sao đã có quy định của Điều 604 mà BLDS còn có thêm quy định
của Điều 622?
- Về nguyên tắc chung, người nào gây thiệt hại cho người khác thì phải
bồi thường. Nguyên tắc này đã được quy định tại Điều 604 BLDS. Tuy
nhiên, ngoài nguyên tắc chung đó BLDS còn có những nguyên tắc riêng
mà theo đó người bồi thường không phải là người trực tiếp gây thiệt hại.
Một trong số đó là quy định về chế định “bồi thường thiệt hại do người

+ Có lỗi và hành vi trái pháp luật của người làm công
4. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án vận dụng điều 622 để buộc Công ty
Hoàng Long bồi thường (đánh giá từng điều kiện nêu ở câu hỏi trên
đối với vụ việc được bình luận).
- Việc tòa án vận dụng điều 622 để buộc công ty Hoàng Long bồi thường
là hoàn toàn hợp lý.
- Thực tế trong trường hợp này đã có thiệt hại về tính mạng anh Hải. Ông
Hùng là lái xe thuê cho công ty Hoàng Long khi chở khách của công ty
Hoàng Long đi từ Hải Phòng đến thành phố Hồ Chí Minh, ông Hùng đã
lấn phần đường của xe khác và gây ra tai nạn – “vi phạm quy định về
điều khiển giao thông đường bộ” - thiệt hại tính mạng của anh Hải.
5. Nếu ông Hùng không làm việc cho công ty Hoàng Long và xe là của
ông Hùng thì ông Hùng có phải bồi thường không? Vì sao?
- Giả sử ông Hùng không làm việc cho công ty Hoàng Long và xe là của
ông Hùng thì không có căn cứ để sử dụng điều 622 BLDS mà trường
hợp này phải sử dụng điều 604, 605, 610 để yêu cầu ông Hùng trực tiếp
bồi thường cho gia đình người bị hại.
3
6. Đoạn nào của bản án cho thấy, theo Tòa án, ông Hùng không phải thực
hiện nghĩa vụ bồi thường cho người bị thiệt hại?
- Theo Bản án số 285/2009/HSPT có nêu: “theo quyết định của án sơ
thẩm, mặc dù bị cáo không phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho
người bị hại nhưng đã tự nguyện nộp 5.000.000đ để cùng công ty
TNHH vận tải Hoàng Long khắc phục hậu quả xảy ra…”
7. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan
đến trách nhiệm của ông Hùng đối với người bị thiệt hại. Cho biết suy
nghĩ của anh/chị về khả năng của người bị thiệt hại được yêu cầu trực
tiếp ông Hùng bồi thường.
- Trong trường hợp này, Tòa không hề xét đến trách nhiệm của ông Hùng
đối với người bị thiệt hại. Điều này phù hợp với luật (điều 622).Nhưng

+ Thứ hai, lỗi của người làm công đối với người sử dụng người làm
công. Đó là trường hợp người làm công có lỗi với người sử dụng người
làm công (có thể là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng yêu cầu
của người sử dụng người làm công và gây ra thiệt hại).
+ Thứ ba, có thể là lỗi tổng hợp. Tức là lỗi của người làm công có cả lỗi
của người bị thiệt hại và người sử dụng người làm công. Ta thấy, theo
tinh thần của điều 622 và theo hướng có lỗi của người làm công mà ta
đã phân tích, người sử dụng người làm công có quyền yêu cầu người
làm công hoàn trả một khoản tiền thì người sử dụng người làm công là
người bồi thường cho bên bị thiệt hại.
9. Theo Tòa án, ông Hùng có lỗi theo điều 622 không? Vì sao?
- Theo Tòa án, ông Hùng có lỗi theo Điều 622 vì ông Hùng là lái xe thuê
cho công ty Hoàng Long đang vận chuyển khách của công ty. Trong khi
đang làm công việc được giao ông Hùng có hành vi lấn chiếm phần
đường của xe khác, hậu quả làm một người bị chết tại chỗ. Như vậy,
theo như câu 8 thì ông Hùng có lỗi trong việc gây gây thiệt hại.
- Đoạn 3 phần Xét thấy: “bị cáo là người lái xe thuê cho công ty TNHH
vận tải Hoàn Long, nên theo quy định tại Điều 622 và Điều 623 của
BLDS thì công ty TNHH vận tải Hoàng Long phải có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do Cao Chí Hùng gây ra trong khi thực hiện công việc
được giao và có quyền yêu cầu Cao Chí Hùng là người có lỗi trong
việc gây thiệt hại…”
10. Theo Tòa án, công ty Hoàng Long có được yêu cầu ông Hùng hoàn trả
một khoản tiền đã bồi thường cho người bị hại không? Đoạn nào của
bản án cho câu trả lời.
- Theo Tòa án, công ty Hoàng Long được yêu cầu ông Hùng hoàn trả một
khoản tiền đã bồi thường cho người bị hại.
- Theo Bản án số 285/2009/HSPT có nêu: “Bị cáo là người lái xe thuê
của công ty TNHH vận tải Hoàng Long, nên theo quy định tại Điều 622
và Điều 623 của BLDS thì công ty TNHH vận tải Hoàng Long phải có

thường cho hộ bà My là 16.633.500đ.
Bản án số 58/2009 ngày 30/7/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Tóm tắt bản án: Nguyên đơn là ông Đoàn Danh Hùng và bà Nguyễn Thị Chúc
kiện bị đơn là ông Nguyễn Tuấn Kiệt và bà Trịnh Thị Hồng về việc trong quá
trình xây nhà đã làm ảnh hưởng đến căn nhà của ông Hùng và bà Chúc như lún
móng, nứt tường, lệch nhà. Ông Hùng và bà Chúc đã kiện đòi ông Kiệt và bà
Hồng khoản tiền bồi thường là 82.600.000đ nhưng ông Kiệt và bà Hồng không
đồng ý.
1. Trong hai bản án trên, thiệt hại phát sinh từ nguyên nhân nào? Đoạn
nào của bản án cho câu trả lời?
- Theo Bản án số97/2009/DS-PT thiệt hại phát sinh từ: “Nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến việc lún nghiêng nhà bà My là do phía ông Cường xây
dựng nhà gây ra và “Báo cáo kết quả kiểm định” ngày 23/7/2008 của
Trung tâm kiểm định chất lượng công trình- Sở xây dựng xác định “giá
trị thiệt hại” là 16.663.887đ chứ không phải tính giá trị căn nhà hoàn
toàn mới.”
- Theo Bản án số 58/2009/DSPT thiệt hại phát sinh từ: “Theo kết luận
của giám định viên, thì căn nhà số 19 Duy Tân loại nhà 4B được xây
dựng năm 1996, do tác động thời gian và trong quá trình sử dụng góp
phần làm chất lượng nhà xuống cấp. Vì vậy, căn nhà số 19 Duy Tân chỉ
thể hiện là chất lượng nhà trong quá trình tranh chấp, thì chất lượng
nhà số 19 Duy Tân chưa đến mức tự hư hỏng theo thời gian, mà chỉ có
tác động khách quan phù hợp với trước thời điểm ông Kiệt - bà Hồng
xây nhà liền kề, thì tình trạng căn nhà số 19 Duy Tân không bị hư hỏng
gì. Do đó, nguyên nhân chính gây thiệt hại cho căn nhà số 19 Duy Tân
là do ông Kiệt - bà Hồng xây nhà cao tầng liền kề nên trong quá trình
đào hố móng và khối lượng tường nhà cao tầng đã làm cho căn nhà số
19 Duy Tân lún nền, nứt tường. Do vây, lỗi hoàn toàn là do ông Kiệt -
bà Hồng chứ không thể đánh giá lỗi của mỗi bên là ngang nhau nên
ông Kiệt - bà Hồng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra.”

phục. Vì theo điều 604 thì “người nào có lỗi vô ý hoặc cố ý xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích
hợp pháp khác của cá nhân hoặc chủ thế khác mà gây thiệt hại thì phải
bồi thường; trường hợp pháp luật qui định người gây thiệt hại phải bồi
thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng qui định đó”. Như
vậy, theo khoản 1 điều này nếu áp dụng căn cứ này thì phải có hành vi
trái pháp luật của chủ sỏ hữu, có thiệt hại xảy ra, mối quan hệ nhân quả
giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật, lỗi. Trong 2 vụ việc trên có thiệt
hại xảy ra nhưng việc xác định lỗi là rất khó. Vì không thể xác định chủ
8
sở hữu là ông Cường cũng như ông Kiệt - bà Hồng nhận thức được việc
xây dựng công trình nhà cửa của mình có thể gây thiệt hại cho ngừoi
khác và cũng khôgn thể xác định được việc chủ sở hữu đã nhận thức
được việc xây dựng cúa mình có thể gây thiệt hại cho ngừoi khác nhưng
vẫn cố tình làm. Còn ở bản án 58/2009/DSPT còn có thêm Khoản 2 là
“Trường hợp pháp luật qui định người gây thiệt hại phải bồi thường cả
trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng qui định đó”. Trong vụ việc
này, ông Kiệt - bà Hồng không có lỗi và cũng không có điều luật nào
qui định về trường hợp này “phải bồi thường cả trong trường hợp không
có lỗi”  không thể áp dụng khoản 2, điều 604 trong trường hợp này.
5. Suy nghĩ của anh/chị về căn cứ giải quyết bồi thường thiệt hại trong
những trường hợp như hai vụ việc trên.
- Căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại theo Điều 604 là chưa thuyết phục
vì chưa hội đủ yếu tố có lỗi của chủ sở hữu công trình, nhà cửa là ông
Kiệt - bà Hồng cũng như ông Cường. Vì việc ông Kiệt - bà Hồng cũng
như ông Cường chỉ xây dựng công trình trên phần đất của mình và
không có tác động đến nhà bên cạnh, không bị sụt lở, sụp đổ, hư hỏng
gây thiệt hại, mà chỉ do 1 phần kết cấu nhà của bà My cũng như bà
Chúc - ông Hùng đã cũ, quá hạn khấu hao, chỉ cần có tác động ngoại lực
đã rung, và phần do việc đào móng sâu, xây tường cao tầng nên đã làm

giá tài sản Vĩnh Long; Thi hành án dân sự Vĩnh Long; Toà án nhân
Vĩnh Long và bà Tiếm phải bồi thường thiệt hại cho ông”.
2. Theo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thi hành án thị xã Vĩnh Long có
phải bồi thường không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
- Theo Quyết định số 01/2011/DS-GĐT, phần Xét thấy có nêu: “Do đó,
khi giải quyết lại vụ án này phải làm việc với Bộ Tư Pháp (Tổng cục thi
hành án dân sự) về sai lầm của Đội Thi Hành Án Dân sự thị xã Vĩnh
Long (nay là Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Vĩnh Long) trong việc
tổ chức thi hành bản án dân sự phúc thẩm số 142/DSPT ngày
13/06/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; xác định đúng bị đơn
của vụ án này, lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trên cơ sở đó
giải quyết vụ án theo đúng pháp luật.”
- Ở đây VKS không nêu một cách rõ ràng là Thi hành án thị xã Vĩnh
Long phải bồi thường, nhưng ta dựa vào những lập luận của VKS: thứ
nhất đã chỉ ra Cơ quan Thi hành án thị xã Vĩnh Long đã không chấp
hành thông thư liên tịch và đã gây ra thiệt hại. Thứ hai việc bản án phúc
10
thẩm chỉ buộc bà Tiếm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông Vinh
là chưa khách quan. Vì lẽ đó cho nên cơ quan Thi hành án thị xã Vĩnh
Long phải chịu bồi thường cho sai phạm của mình gây ra.
3. Theo Hội đồng thẩm phán, Thi hành án thị xã Vĩnh Long có phải bồi
thường không? Vì sao?
- Hội đồng thẩm phán chỉ đưa ra hướng giải quyết chứ không có kết luận.
Theo Quyết định số 01/2011/DS-GĐT có nêu: “Do đó khi giải quyết lại
vụ án này phải làm việc với Bộ tư pháp (Tổng cục thi hành án dân sự)
về sai lầm của Đội thi hành án Dân sự Vĩnh Long (nay là Chi cục Thi
hành án dân sự thị xã Vĩnh Long) trong việc thi hành án dân sự phúc
thẩm số 142/DSPT ngày 16/3/2011 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
và xác định đúng bị đơn của vụ án này lỗi và trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trên cơ sở đó giải quyết theo đúng pháp luật”.

này thì Thi hành án xã Vĩnh Long có phải bồi thường không? Vì sao?
- Nếu áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vào vụ việc
này thì Thi hành án thị xã Vĩnh Long phải bồi thường.
- Điều 14 Luật TNBTNN : ”Cơ quan có trách nhiệm bồi thường Cơ quan
hành chính trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái
pháp luật gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường”.
1
- Điều 4 của Nghị định Số 16/2010/NĐ-CP.
2
 Căn cứ các điều trên thì cơ quan Thi hành án thị xã Vĩnh Long phải
bồi thường.
6. Theo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân Tỉnh Vĩnh Long
có phải bồi thường thiệt hại không? Vì sao?
- Theo VKSNDTC, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long không phải bồi
thường thiệt hại. Theo phần kháng nghị của VKSNDTC nhận định: “cơ
quan thi hành án thị xã Vĩnh Long không chấp hành thông tư số 12 như
trên dẫn đến thiệt hại cho ông Vinh nhưng không được Tòa xem xét bồi
thường thiệt hại, bản án phúc thẩm chỉ buộc bà Tiếm phải bồi thường
thiệt hại toàn bộ cho ông Vinh là chưa khách quan gây thiệt hại đến
quyền lợi một bên đương sự”. Như vậy, VKSNDTC chỉ xem xét trách
nhiệm của cơ quan thi hành án mà không nhắc đến trách nhiệm của Tòa
án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
7. Theo Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân Vĩnh Long có phải bồi
thường thiệt hại không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?
- Theo hội đồng thẩm phán, toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long không phải
bồi thường thiệt hại.
- Theo Quyết định số 01/2011/DS-GĐT, phần Xét thấy có nêu: “Theo
quy định của pháp luật tại thời điểm giải quyết vụ án thì Toà án không
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án
1 Điều 14 Luật TNBTNN: Cơ quan có trách nhiệm.

trong các trường hợp sau: …d. cưỡng chế thi hành án”. Sau khi đã bồi
thường xong thì Tòa án nhân dân có thể yêu cầu Thi hành án thị xã Vĩnh
Long hoàn trả khoản tiền theo quy định của pháp luật tại Điều 620
BLDS 2005: “Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người
có thẩm quyền đã gây thiệt hại hoàn trả 1 khoản tiền theo quy định của
pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành công vụ”.
Hết Vấn Đề 3
13
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status