thảo luận hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bài tập thảo luận thứ 3 9đ - Pdf 22

BÀI TẬP THẢO LUẬN
MÔN LUẬT DÂN SỰ
Danh sách nhóm……:
1. Vũ Hoàng Xuân Hà (nhóm trưởng)
2. Hoàng Thị Thu Hà
3. Phạm Thị Yến Ngọc
4. Phạm Ngọc Hà
5. Nguyễn Thị Minh Anh
6. Nguyễn Việt Dũng
7. Lê Hoàng
8. Nguyễn Quốc Ân
9. Võ Hoàng Thiên Lộc
BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA
1
Vấn đề 1: Xác lập hợp đồng nhằm tẩu tán tài sản
Bản án số 102/2010/DSST ngày 15/11/2010 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân
Tóm tắt bản án: Nguyên đơn Ông Đoàn Ngọc Xương và bà Lưu Thị Mừng ủy
quyền cho ông Nguyễn Văn Sơn. Bị đơn là Ông Nguyễn Cao Sang, bà Trần Thị
Huệ, ông Trần Quốc Tuấn và bà Nguyễn Nhơn Hồng. Ông Sang và bà Huệ nợ ông
Xương và bà Mừng số tiền là 369.136.250đ. Vào ngày 27/06/2008, theo quyết
định số 55/2008/QĐST-DS, ông Sang và bà Huệ có nghĩa vụ phải trả nợ cho ông
Xương và bà Mừng với hạn chót là ngày 27/12/2008, nhưng gần đến hạn thi hành
quyết định ông Sang và bà Huệ đã bán tài sản duy nhất là căn nhà số 75, đường 15
Bình Hưng Hòa, Bình Tân cho 2 người con và không tiến hành trả nợ theo quyết
định của tòa. Cho rằng ông Sang và bà Huệ đã tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa
vụ trả nợ, nên ông Xương và bà Mừng đã khởi kiện và yêu cầu hủy hợp đồng mua
bán nhà trên.
1. Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch? Cho ví dụ minh họa.
- Là giao dịch mà trong đó việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí
nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia giao dịch. Để có giả
tạo thì cần có hai giao dịch, một giao dịch bề ngoài và một giao dịch bị

với người thứ 3.”
4. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.
- Tòa xác định hợp đồng trên giả tạo là hợp lí vì trong thời gian thi hành
án ông Sang và bà Huệ đã bán căn nhà số 75 - tài sản duy nhất của ông
bà, sau đó lại không thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Việc tuyên
hợp đồng trên là giả tạo của Tòa án nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho ông Xương và bà Mừng vì nếu hợp đồng mua bán nhà
trên được công nhận thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của ông
Xương và bà Mừng do ông Sang không còn tài sản nào để đảm bảo cho
việc trả nợ trên.

5. Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã xác định việc lập hợp đồng
trên là nhằm lẩn tránh nghĩa vụ của ông Sang, bà Huệ và đã tuyên bố
hợp đồng này vô hiệu?
- Theo bản án số 102/2010/DS-ST: “Căn cứ điều 129
2
, 137
3
BLDS thì
giao dịch dân sự này là vô hiệu do giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối
với người thứ 3 nên hợp đồng này không làm phát sinh quyền, thay đổi,
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.”
6. Nếu hợp đồng chuyển nhượng trên được xác lập trước khi ông Sang,
bà Huệ có quyết định của Tòa án buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự thì
ông Xương, bà Mừng có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
không? Vì sao?
2 Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu cho giả tạo.
3 Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu.
3
- Có 2 trường hợp cần xét đến:

tài sản.
 Nếu người có nghĩa vụ còn nhiều tài sản khác thì không thể
tuyên hợp đồng chuyển nhượng là vô hiệu.
 Tóm lại: trong vụ án nêu trên thì căn nhà số 75 là tài sản duy nhất và việc
chuyển nhượng căn nhà này ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ông
Xương và bà Mừng, vì vậy có thể xác định đây là hành vi tẩu tán tài sản 
Nếu hợp đồng chuyển nhượng trên được xác lập trước khi ông Sang,
4
bà Huệ có quyết định của Tòa án buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự thì
ông Xương, bà Mừng có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Vấn đề 2: Cầm giữ tài sản
Bản án số 45/2010/DS-ST ngày 22/09/2010 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh
Tóm tắt bản án: Nguyên đơn Công Ty Cổ Phần Giấc Mơ Dễ Dàng (Easy), đại diện
pháp luật là ông Nguyễn Tuấn Anh, ủy quyền cho ông Trương Hồng Kông. Bị đơn
là bà Nguyễn Thị Thanh Loan. Ngày 09/04/2007, Công Ty Easy và bà Loan có kí
một hợp đồng với nội dung Công Ty bán cho bà Loan theo hình thức trả góp một
xe máy Yamaha Nouvo với giá 24.400.000đ và lãi trả chậm là 4.336.000đ, bà
Loan đã nhận xe sau khi giao kết hợp đồng và thanh toán 12.200.000đ, số tiền còn
lại 16.536.000đ sẽ được trả chậm trong 12 tháng, bà Loan đã được cấp giấy đăng
kí xe máy với biển số 52S4-7402. Đến tháng 02/2008, sau khi đã thanh toán
9.646.000đ, thì bà Loan ngừng thanh toán số tiền còn lại dẫn đến việc Công Ty
Easy khởi kiện yêu cầu bà Loan thanh toán toàn bộ số nợ.
1. Đoạn nào của bản án cho thấy bên bán đang giữ bản chính đăng ký xe
máy?
- Theo bản án 45/2010/DS-ST: “Do hiện nay phía công ty Easy đang giữ
bản chính giấy đăng kí xe máy biển số 52S4-7402 của bà Loan nên khi
bà Loan đã trả hết số tiền trên thì công ty phải có trách nhiệm trả lại cho
bà Loan bản chính giấy tờ trên.”
2. Đoạn nào của bản án cho thấy bên mua chưa thực hiện đúng nghĩa vụ
thanh toán tiền mua xe?

Thanh Loan.
6. Thông qua thực tiễn xét xử và kiến thức mà anh/chị có, suy nghĩ của
anh/chị về chế định cầm giữ tài sản được quy định tại Điều 416 BLDS.
- Chế định về cầm giữ tài sản: cầm giữ tài sản là một quyền năng theo đó
bên có quyền được nắm giữ tài sản chừng nào bên có nghĩa vụ không
thực hiện nghĩa vụ của mình  khi bên có quyền cầm giữ tài sản của
bên có nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ không có khả năng được lợi một
cách trọn vẹn từ tài sản đó, chế định này nhằm gây áp lực cho bên có
nghĩa vụ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình và bảo vệ quyền lợi
cho bên có quyền khi tham gia giao kết hợp đồng.
Vấn đề 3: Hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng
Bản án số 14/2010/DSPT ngày 20/01/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Daklak
4 Điều 416. Cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ.
5 Điều 163. Tài sản.
6
Tóm tắt bản án: Nguyên đơn là ông Phan Văn Tâm và bà Nguyễn Thị Lĩnh đã
khởi kiện bị đơn là ông Nguyễn Văn Anh và bà Đỗ Thị Ngọc Hoa trong vụ
việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Khoảng đầu
năm 2007, vợ chồng ông Tâm, bà Lĩnh có thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất 540m
2
(trị giá thực 225.000.000đ) nhưng trong hợp đồng chuyển
nhượng chỉ ghi diện tích đất chuyển nhượng là 210m
2
(trị giá thực
12.000.000đ). Vợ chồng ông Anh và bà Hoa đã đặt cọc số tiền là 20.000.000đ
và sau đó còn giao thêm 50.000.000đ cùng cam kết sẽ trả nốt khoản tiền khi
nhận được giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi ông Tâm làm xong
giấy tờ và chuyển cho vợ chồng ông Anh và bà Hoa thì xảy ra tranh chấp vì
ông Anh cho rằng ông Tâm đã không thực hiện đúng thỏa thuận đã giao kết và

liệu trên xét thấy thỏa thuận chuyển nhượng phần diện tích lớn hơn
6 Tham khảo “LUẬT HỢP ĐỒNG VIỆT NAM – Bản án và bình luận bản án – TS. Đỗ Văn Đại” . Bản án
số 75 và 76: “Hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng”
7
210m
2
chưa có giấy tờ gì là vô hiệu. Phần chuyển nhượng 210m
2
là hợp
lệ. Xong bên mua kí nhận giấy tờ (đất) ngày 18/7/2007 nhưng không trả
tiền theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả tiền (vi phạm điều khoản
chính của hợp đồng song vụ, vi phạm điều 290 BLDS); bởi vậy, bên bán
có quyền xin hủy bỏ hợp đồng thơ quy định tại Điều 425 của BLDS.
Song án sơ thẩm lại tuyên bố giao dịch vô hiệu toàn bộ là chưa chính
xác, bởi vậy, cần sửa bản án sơ thẩm: tuyên bố hợp đồng vô hiệu một
phần lớn hơn 210m
2
và hủy bỏ một phần hợp đồng chuyển nhượng
210m
2
là phù hợp.
3. Suy nghĩ của anh/chị về việc phân biệt trên của Tòa phúc thẩm.
- Việc phân biệt trên là cần thiết, thực tế một số trường hợp các tòa án đã
nhầm lẫn giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng. Việc xem xét,
đánh giá các tình tiết vụ án của Tòa phúc thẩm để tuyên xử sẽ giúp áp
dụng pháp luật một các chính xác.
4. Phần chuyển nhượng nào giữa các bên được coi là hợp lệ? Đoạn nào
của bản án cho câu trả lời?
- Phần chuyển nhượng 210m
2

đồng chuyển nhượng trên để đòi lại tài sản vì hiện nay bộ luật dân sự
không quy định về trường hợp bên bán được hủy bỏ hợp đồng khi bên
mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
7
7. Trong vụ việc nêu trên, Tòa án có cho phép bên bán hủy bỏ hợp đồng
không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
- Trong vụ việc trên Tòa án chỉ cho phép hủy bỏ 1 phần hợp đồng chuyển
nhượng 210m
2
.
- Đoạn án: Theo bản án số 14/2010/DSPT ngày 20/01/2010 có nêu:
“Song án sơ thẩm lại tuyên bố giao dịch vô hiệu toàn bộ là chưa chính
xác, bởi vậy, cần sửa bản án sơ thẩm: tuyên bố hợp đồng vô hiệu một
phần lớn hơn 210m
2
và hủy bỏ một phần hợp đồng chuyển nhượng
210m
2
là phù hợp”.
8. Việc Tòa án viện dẫn Điều 425 BLDS để cho phép bên bán hủy bỏ hợp
đồng có thuyết phục không? Vì sao?
- Tòa án viện dẫn Điều 425 BLDS
8
để cho phép bên bán hủy bỏ hợp đồng
là chưa thuyết phục, ngoài ra còn có thể sử dụng thêm Điều 417 BLDS
9

2005 về việc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường vì nội dung của
điều 425 chưa làm rõ được việc hủy bỏ hợp đồng của Tòa án.
9. Trong thực tiễn, có bản án/quyết định nào của Tòa án đã cho phép bên

05/2010, trang 29 – 44.
2. Kiều Dương: thời hạn khiếu nại và thời hiệu khởi kiện trong quan hệ trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại, số 07/2010, trang 49 – 54.
3. Trần Văn Biên: về khái niệm Hợp đồng điện tử, số 08/2010, trang 30 – 36.
4. Trần Văn Biên: sự thỏa thuận trong giao kết hợp đồng điện tử qua mạng
Internet, số 10/2010, trang 55 – 66.
5. Trần Việt Anh: so sánh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm
dân sự ngoài hợp đồng, số 04/2011, trang 38 – 41.
6. Nguyễn Thanh Tú: các hạn chế đối với người mua theo hợp đồng trong lĩnh
vực chuyển giao công nghệ dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ, hợp đồng
và cạnh tranh, số 03/2011, trang 20 – 33.
Tạp chí khoa học pháp lí:
1. Lê Minh Hùng: ảnh hưởng của yếu tố hình thức đối với hợp đồng, số
01/2009, trang 12 – 22.
2. Đỗ Văn Đại: hợp đồng vi phạm điều cấm ở Việt Nam, số 01/2009, trang 55
– 63.
3. Đỗ Văn Đại: bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: trách nhiệm hạn chế thiệt
hại (bản án và bình luận án), số 06/2009, trang 51 – 57.
10
4. Phạm Kim Anh: trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng trong BLDS 2005 – thực trạng và giải pháp hoàn thiện, số
06/2009, trang 3 – 13.
5. Đỗ Văn Đại và Hoàng Thị Minh Tâm: lao động nước ngoài không có giấy
phép: giá trị pháp lí của hợp đồng và vấn đề bồi thường thiệt hại do người
lao động gây ra, số 04/2011, trang 54 – 64.
Tạp chí nghiên cứu lập pháp:
1. Ngô Huy Cương:
- Về yếu tố ưng thuận của hợp đồng (kì 1), số 07/2010, trang 23 – 28
- Về yếu tố ưng thuận của hợp đồng (kì 2), số 08/2010, trang 22 – 28
2. Trần Phương Hạnh: hợp đồng bị tuyên vô hiệu do nhầm lẫn, nhìn từ quy

6. Phạm Văn Tuyết: các thời điểm trong hợp đồng dân sự, số 05/2011, trang
50 – 54.
Tạp chí Tòa án nhân dân:
1. Vũ Thị Thu Hiền: quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của người sử
dụng lao động có bị Tòa án tuyên là trái pháp luật?, số 17/2009, trang 11 –
14.
2. Trần Văn Biên: pháp luật và hợp đồng điện tử, số 20/2010, trang 17 – 24.
3. Vũ Thanh Tuấn: qui định về hủy bỏ hợp đồng dân sự, số 21/2010, trang 15
– 17.
4. Đỗ Văn Chỉnh: hợp đồng vay tài sản và việc tính tiền lãi, số 05/2010, trang
26 – 36.
5. Đỗ Văn Đại: hoãn do không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt
Nam, số 08/2010, trang 1 – 7.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status