Header Page 1 of 16.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN MINH QUÂN
ĐỀ TÀI:
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN ĐÌNH THỌ
TP. HCM – Năm 2010
Footer Page 1 of 16.
Header Page 2 of 16.
I
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Header Page 4 of 16.
III
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................................I
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................. II
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................ IV
DANH MỤC CÁC HÌNH ............................................................................................... V
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................................. V
TÓM TẮT ...................................................................................................................... VI
Chương 1: TỔNG QUAN ................................................................................................ 1
1.1. Cơ sở hình thành đề tài: ........................................................................................ 1
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài: ........................................................................... 2
1.3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: ............................................................... 2
1.4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: ................................................................................. 3
1.5. Cấu trúc của luận văn:........................................................................................... 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN.......................................................................................... 5
2.1. Thương hiệu và định vị thương hiệu:.................................................................... 5
2.2. Một số khái niệm về truyền hình: ....................................................................... 10
2.3. Cơ sở lý luận truyền thông – truyền hình: .......................................................... 18
2.4. Quan điểm về “định vị” của Philip Kotler: ......................................................... 24
2.5. Mô hình nhận diện thương hiệu: ......................................................................... 26
2.6. Mô hình lý thuyết về sự lựa chọn chương trình truyền hình (Webster và
Wakshlag, 1983): ........................................................................................................... 29
2.7. Xác định mô hình nghiên cứu định vị thương hiệu: ........................................... 37
Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU .......................................................................... 42
3.1. Nhu cầu thông tin: ............................................................................................... 42
Đà Nẵng Television
GE:
General Electric
HBO:
Home Box Office
HDTV:
High Definition Television
HTV:
Hồ Chí Minh City Television
HTVC:
Hồ Chí Minh City Television Choice
IBM:
International Business Machines
LA:
Long An
Thành Phố Hồ Chí Minh
TSC:
Television Service Center
VTC:
Việt Nam Multimedia Corporation
VTV:
Việt Nam Television
Footer Page 5 of 16.
Header Page 6 of 16.
V
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Quy trình xây dựng thương hiệu ...................................................................... 8
Hình 2.2: Mối quan hệ giữa Đài truyền hình, kênh truyền hình và chương trình truyền
hình. ................................................................................................................................ 15
Hình 2.3: Mô hình quá trình truyền thông ..................................................................... 19
Hình 2.4: Mô hình chiến lược marketing ....................................................................... 24
Hình 2.5: Mô hình nhận diện thương hiệu (Aaker, 1996, tr.79) .................................... 26
Hình 2.6: Mô hình lý thuyết về sự lựa chọn chương trình truyền hình ......................... 31
truyền hình TPHCM (HTV). Đó là vấn đề xác định vị trí các kênh truyền hình của
HTV trong tâm trí khán giả, làm nền tảng cho một mô hình chiến lược xây dựng và
phát triển thương hiệu bền vững. Việc thực hiện đề tài là cần thiết vì các phương tiện
truyền dẫn ngày càng hiện đại, khiến áp lực cạnh tranh trong lĩnh vực truyền hình ngày
càng tăng.
Đề tài sử dụng các cơ sở lý luận về thương hiệu, cơ sở lý luận về truyền thông –
truyền hình, mô hình nhận diện thương hiệu và các quy trình định vị thương hiệu nhằm
thực hiện dàn bài thảo luận định tính.
Sử dụng dàn bài thảo luận thực hiện nghiên cứu định tính bằng cách phỏng vấn tay
đôi và nhóm nhỏ, trên số lượng 20 mẫu có trình độ chuyên môn về truyền hình, kết hợp
với cơ sở lý luận để tìm ra 14 thuộc tính chủ yếu của kênh truyền hình, làm cơ sở cho
việc nghiên cứu định lượng.
Thực hiện nghiên cứu định lượng bằng cách khảo sát trực tiếp khán giả, sử dụng
bảng câu hỏi nghiên cứu định lượng, trên số lượng 300 mẫu rộng rãi phổ thông được
thiết kế phân bổ theo độ tuổi và mật độ dân cư trên địa bàn TPHCM. Kết quả khảo sát
được mô tả chi tiết và phân tích bằng công cụ thang đo lường đa hướng MDS, sử dụng
phần mềm SPSS.
Kết quả nghiên cứu quan trọng của đề tài đã xác định được vị trí hai kênh truyền
hình HTV7, HTV9 của thương hiệu HTV so với các kênh truyền hình cạnh tranh khác
trong tâm trí khán giả. Đề xuất vị trí mới phù hợp hơn và đề xuất cách định vị một kênh
truyền hình mới HTV8.
Khả năng áp dụng: đề tài này có thể được sử dụng ngay để giải quyết vấn đề kinh
doanh của đơn vị, đồng thời là một bước chuẩn bị đầu tiên cho các nghiên cứu tiếp theo
nhằm xây dựng mô hình chiến lược truyền thông hiệu quả và phát triển thương hiệu
kênh truyền hình của HTV một cách bền vững lâu dài.
Footer Page 7 of 16.
Header Page 8 of 16.
trong việc chọn lựa chương trình yêu thích của khán giả, đồng nghĩa với một môi
trường cạnh tranh bình đẳng và khốc liệt hơn.
Footer Page 8 of 16.
Header Page 9 of 16.
2
Một dẫn chứng thực tế cụ thể để diễn tả sự phát triển và cạnh tranh khốc liệt này, đó
là việc Sở Thông tin truyền thông phối hợp với Cục tần số vô tuyến điện phải liên tục
kiểm tra, giám sát, theo dõi và kiên quyết ngưng phát sóng các chương trình truyền
hình không phép trong nước, cũng như yêu cầu chấn chỉnh 34 chương trình truyền hình
cáp nước ngoài chưa phép của HTVC (Giáng Hương, 2009).
Một yếu tố quan trọng tác động từ bên trong Đài truyền hình TPHCM là sự thất bại
trong việc thử nghiệm mở rộng bốn chuyên kênh HTV1, HTV2, HTV3, HTV4. Trong
đó một số chuyên kênh phải chuyển đổi tính chất chương trình so với ý định ban đầu.
Tất cả những yếu tố bên ngoài và bên trong đã dẫn tới một đặc điểm mới của ngành
truyền hình hiện nay: đó là sự hình thành một môi trường cạnh tranh ngày càng khốc
liệt với yêu cầu ngày càng cao, số lượng sản phẩm xuất hiện nhiều và ngày càng đa
dạng, đặc biệt trong đó có nhiều sản phẩm cạnh tranh trực tiếp đến từ nước ngoài. Việc
phải xác định rõ vị trí mình đang ở đâu và sẽ đi về đâu là một yêu cầu rất cần thiết cho
sự phát triển bền vững của Đài Truyền Hình TPHCM.
1.2.
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
•
3
hiện nghiên cứu là sáu kênh chương trình mang nội dung tổng hợp, cụ thể gồm: hai
kênh truyền hình TPHCM HTV7 và HTV9, hai kênh truyền hình Việt Nam VTV1 và
VTV3, kênh truyền hình Vĩnh Long THVL1, và kênh truyền hình Long An LA34.
Nghiên cứu được thực hiện bằng hai bước: nghiên cứu sơ bộ bằng định tính và
nghiên cứu chính thức bằng định lượng. Trước tiên, nghiên cứu sơ bộ được thực hiện
bằng phương pháp định tính với kỹ thuật phỏng vấn tay đôi và thảo luận nhóm nhỏ.
Mục đích của nghiên cứu là xác định các thuộc tính chính ảnh hưởng đến việc lựa chọn
thương hiệu kênh truyền hình nói riêng và thương hiệu đài truyền hình nói chung.
Nghiên cứu chính thức tiếp theo sẽ tiến hành khảo sát định lượng để xác định và thu
thập dữ liệu cho việc định vị bằng công cụ MDS (sử dụng phần mềm SPSS).
1.4.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Thực tế hiện nay ở Đài Truyền Hình TPHCM chưa có phòng ban phụ trách về vấn
đề thương hiệu một cách đúng nghĩa, mặc dù Đài đã khẳng định phát triển thương hiệu
là một xu hướng đúng đắn trong tương lai, thông qua câu khẩu hiệu: “HTV- Xây dựng
và phát triển thương hiệu”. Đề tài này xin được đóng góp vai trò như một viên gạch bé
nhỏ đầu tiên vào quá trình xây dựng thương hiệu đó.
Đồng thời, đề tài cũng nhằm giải quyết một vấn đề kinh doanh thực tế của đơn vị,
đó là xác định và hiệu chỉnh vị trí hiện tại của các thương hiệu kênh truyền hình HTV7,
HTV9, đề xuất vị trí thích hợp cho kênh truyền hình mới HTV8.
1.5.
Cấu trúc của luận văn:
Luận văn bao gồm 5 chương: chương 1 trình bày các vấn đề tổng quan của đề tài;
xuất và phân biệt với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh”. Với quan điểm về
truyền thống này, thương hiệu được hiểu như là một thành phần của sản phẩm và chức
năng chính của thương hiệu là dùng để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm
cạnh tranh cùng loại” (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007, tr.45).
Đến cuối thế kỷ 20, quan điểm tổng hợp về thương hiệu đã có những thay đổi theo
hướng mở rộng và phức tạp hơn nhiều. Ambler và Styles (1996, trích từ Nguyễn Đình
Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007, tr.45) định nghĩa: “Thương hiệu là một tập các
thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thương hiệu
theo quan điểm này cho rằng, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ
yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng. Như vậy, các thành phần marketing
hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là các thành phần của một
thương hiệu”.
“Quan điểm sản phẩm là một thành phần của thương hiệu ngày càng được nhiều
nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận. Lý do là khách hàng có hai nhu cầu chính: nhu
cầu về chức năng (functional needs) và nhu cầu về tâm lý (psychological needs). Sản
phẩm chỉ cung cấp cho khách hàng lợi ích chức năng và thương hiệu mới cung cấp cho
khách hàng cả hai” (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007, tr.46), ngoài
ra, thương hiệu còn cung cấp lợi ích tự thể hiện.
Áp dụng những quan điểm trên vào phân tích cho đối tượng là ngành truyền hình, ta
có thể xem như sau: sản phẩm truyền hình chỉ là một thành phần của thương hiệu
Footer Page 12 of 16.
Header Page 13 of 16.
6
truyền hình. Thương hiệu truyền hình chính là các kênh truyền hình (ví dụ như HTV7),
và sản phẩm là những chương trình truyền hình (ví dụ như chương trình “Rồng Vàng”).
7
Thương hiệu kênh truyền hình cũng mang nhiều đặc điểm của dịch vụ như: một là,
tính vô hình (intangibility) – khán giả không thể sờ mó, ngửi, sử dụng kênh truyền
hình như một công cụ hữu hình để tác động trực tiếp đến một vật chất khác, cũng
không thể cân đo đong đếm, thử nghiệm hoặc kiểm định trước khi xem (Nguyễn Đình
Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007, tr.64); hai là, tính không đồng nhất
(heterogeneity) – kênh truyền hình có thể đồng nhất về khía cạnh kỹ thuật, nhưng
không thể đồng nhất về mặt nội dung. Một trong những lý do chính, đó là các chương
trình thường do những nhân viên, những con người khác nhau thực hiện, nếu có trùng
nhân viên thì cũng sẽ thực hiện những đề tài khác nhau, ngoài ra, một phần lớn là do
cảm nhận của khán giả, những người có thể bị tác động rất lớn bởi điều kiện và hoàn
cảnh bên ngoài, cho nên đặc điểm không đồng nhất của kênh truyền hình là hoàn toàn
cơ bản và rõ ràng; ba là, tính không thể tách ly (inseparability) – nội dung của chương
trình truyền hình có thể được chuẩn bị trước, được lưu trữ dưới dạng tập tin, băng từ
trước khi phát sóng, nhưng khi đã phát sóng, tức là khi có sự tương tác với khán giả thì
chất lượng của nội dung mới được khán giả cảm nhận và đánh giá, tạo ra những tác
động đến khán giả trong cùng thời điểm, nếu khán giả không xem vào thời điểm đó, thì
nội dung đó cũng sẽ trôi đi theo thời gian.
Ngoài ra, khi bàn về thương hiệu ở Việt Nam, cũng cần lưu ý rằng nước ta chưa có
một văn bản pháp luật nào về sở hữu công nghiệp sử dụng thuật ngữ “thương hiệu”.
Pháp luật về sở hữu công nghiệp của nước ta chỉ có các quy định về nhãn hiệu hàng
hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý của hàng hoá và tên gọi xuất xứ
hàng hoá. Ông Phạm Đình Chướng (2003, trích từ Thanh Loan, 2003) đã phát biểu như
sau: “…tạm chia ra làm mấy loại đối tượng được báo chí và một số người gọi là
"Thương hiệu" trong thời gian vừa qua như sau: thứ nhất là loại như VINATABA
(thuốc lá), Trung Nguyên (cà phê), SAGIANG (bánh phồng tôm), VINAMILK (Sữa),
PETRO VIETNAM (dầu khí)..., loại thứ hai: Phú Quốc (nước mắm), Tân Cương (chè),
Chợ Đào (gạo), Made in Viet Nam ("xe máy, máy tính thương hiệu Việt Nam")…, loại
Header Page 16 of 16.
9
mô hình hoạt động của công ty, định hướng mở rộng thương hiệu, các nhận biết cơ bản
của thương hiệu, tầm nhìn – sứ mạng thương hiệu, tính cách thương hiệu.
Bước thứ hai là định vị thương hiệu, là công việc chính của đề tài, nhằm xác định vị
trí của thương hiệu trong tâm trí của người tiêu dùng.
Bước thứ ba nhằm xây dựng chiến lược thương hiệu theo nhiều cách khác nhau, tùy
nhu cầu, khả năng và mục đích của công ty. Ví dụ theo mối quan hệ giữa lĩnh vực hoạt
động với thương hiệu của công ty, có thể có các chiến lược như chiến lược một thương
hiệu, chiến lược đa thương hiệu, chiến lược thương hiệu hỗ trợ, chiến lược thương hiệu
gốc…
Bước thứ tư nhằm xây dựng một chiến lược truyền thông xuyên suốt và thống nhất,
thông đạt một cách tập trung những giá trị đặc trưng khác biệt của thương hiệu đến
khách hàng mục tiêu.
Và bước cuối cùng là thường xuyên đo lường và kiểm tra hiệu quả của các chiến
dịch truyền thông để có sự hiệu chỉnh kịp thời.
2.1.3. Định vị thương hiệu (brand positioning):
“Định vị là quá trình xây dựng và thông đạt những giá trị đặc trưng của thương hiệu
mình vào tâm trí khách hàng mục tiêu” (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang,
2007, tr.154).
Định vị thương hiệu là nội dung chính của đề tài này. Quy trình định vị thương hiệu
và quá trình thực hiện sẽ được mô tả chi tiết ở các phần và chương tiếp theo của đề tài.
Ở đây chỉ nêu một số đặc điểm cơ bản nhất, cũng như nguồn gốc hình thành thuật ngữ
này.
Thông thường, định vị thương hiệu đứng ở vị trí thứ hai trong quá trình xây dựng
thương hiệu, có nhiệm vụ xác định vị trí của thương hiệu trong mối quan hệ với các đối
thủ cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là từ góc nhìn của khách hàng. Bằng cách sử
chọn “định vị” làm đại diện cho cách chúng tôi tư duy, cách chúng tôi giải quyết vấn
đề. Đó là cách chúng tôi bắt đầu để tạo sự khác biệt trong tư duy so với những công ty
quảng cáo khác…”. Như vậy, dựa trên kinh nghiệm về chiến lược và quảng cáo khi còn
làm cho GE, cùng với khả năng của mình, hai ông đã phát minh ra khái niệm về định vị
vẫn có giá trị cho đến ngày nay.
2.2. Một số khái niệm về truyền hình:
2.2.1. Những thuật ngữ chuyên ngành truyền hình:
Footer Page 17 of 16.
Header Page 18 of 16.
11
Đài Truyền Hình (còn gọi một cách bình dân là Nhà Đài): là một cơ quan, đơn vị,
tổ chức, hoặc là một công ty, có các điều kiện cơ sở vật chất, đặc biệt là có thẩm quyền
được cấp phép để thực hiện công tác sản xuất nội dung và phát sóng các chương trình
truyền hình trên những kênh truyền hình. Như vậy, Đài truyền hình có hai mảng công
việc chủ yếu: mảng sản xuất nội dung và mảng kỹ thuật. Mảng nội dung truyền hình rất
đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều lĩnh vực, thể hiện nhiều vai trò chức năng khác
nhau của đời sống xã hội. Mảng kỹ thuật cũng bao gồm nhiều thành phần: như kỹ thuật
camera – quay phim, kỹ thuật dựng, kỹ xảo, kỹ thuật âm thanh, kỹ thuật hậu kỳ, kỹ
thuật lưu trữ, kỹ thuật truyền dẫn phát sóng....Đặc biệt liên quan đến đề tài là kỹ thuật
truyền dẫn phát sóng các kênh truyền hình thông qua nhiều phương tiện khác nhau
như: mạng truyền hình cáp, ănten phát sóng trên mặt đất, qua vệ tinh, qua mạng
Internet, hoặc thậm chí có thể thông qua mạng điện thoại di động…
Truyền hình cáp (cableTV): khái niệm này thường nhằm mô tả một cơ quan, đơn
vị, tổ chức (có thể trực thuộc Đài Truyền Hình như HTVC, hoặc công ty độc lập như
SCTV) có chức năng tập hợp và phát sóng nhiều kênh truyền hình trên phương tiện
kênh truyền hình của VTV như VTV1, VTV2, VTV3…trên phạm vi cả nước.
Kênh truyền hình (channel): Thuật ngữ này có một lịch sử hình thành khá đặc biệt,
được vay mượn từ lĩnh vực kỹ thuật truyền dẫn sang áp dụng cho lĩnh vực truyền hình.
Thuật ngữ “kênh” được phiên dịch từ tiếng Anh “channel”, trong kỹ thuật truyền dẫn
phát sóng được viết đầy đủ là “frequency channel” (kênh tần số). Về mặt vật lý, mỗi
kênh tần số là một khoảng dao động điện vật lý ở một tốc độ nào đó, gọi là tần số, cụ
thể trong truyền hình, mỗi kênh sẽ là khoảng dao động ở độ rộng 8MHz (tiêu chuẩn
PAL D/K), các tần số dao động điện này mang bên trong những thông tin nội dung các
chương trình truyền hình. Phần nội dung này được mã hóa và giải mã để có thể tiếp xúc
với giác quan nghe nhìn của khán giả thông qua tivi.
Kênh truyền hình là đối tượng chính của đề tài, là thương hiệu con của thương hiệu
công ty. Bên trong nội dung của kênh truyền hình có các sản phẩm là những chương
trình truyền hình.
Chương trình truyền hình (program): nếu như kênh truyền hình đại diện phần lớn
cho khía cạnh kỹ thuật thì chương trình truyền hình lại đại diện cho phần nội dung.
Chương trình truyền hình do đội ngũ nhân viên, biên tập viên… trong các phòng ban
chuyên môn sản xuất. Chương trình truyền hình là sản phẩm của thương hiệu kênh
Footer Page 19 of 16.
Header Page 20 of 16.
13
truyền hình. Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp bố trí hợp lý các tin bài,
bảng tư liệu, hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định được mở đầu bằng lời
giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu của truyền hình
nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả. Thuật ngữ chương trình “program”
được áp dụng cho nhiều thể loại như: chương trình “Tin thời sự”, chương trình “Kinh
tinh, vì ưu điểm số lượng kênh nhiều. Một số kênh truyền hình chuyên biệt nổi
tiếng thế giới như CNN chuyên về tin tức, trong nước có VTV2 chuyên về mảng
khoa học và giáo dục, HTV2 chuyên về thể thao…
Khán giả (viewer): theo lý thuyết tiếp thị, khán giả được xem là khách hàng. Khán
giả là những người sử dụng thời gian của mình để xem, theo dõi những chương trình
truyền hình được phát sóng qua các phương tiện truyền dẫn bằng cách sử dụng máy thu
hình (hoặc có thể gọi là máy vô tuyến truyền hình, cái tivi, TV…). Khi theo dõi
chương trình, khán giả đã sử dụng cả hai giác quan chính cùng một lúc: mắt để nhìn và
tai để nghe. Điểm này đôi khi ít được để ý, ngay cả thuật ngữ “truyền hình” cũng thể
hiện sự thiên vị cho phần thị giác mà bỏ qua thính giác.
Tóm tắt mối quan hệ giữa các thuật ngữ trên:
Mối quan hệ giữa Đài truyền hình, kênh truyền hình và chương trình truyền hình
được mô tả như trong hình 2. Đài truyền hình TPHCM – HTV là thương hiệu công ty
bao trùm. Thương hiệu công ty HTV có nhiều thương hiệu con (thương hiệu sản phẩm)
là những kênh truyền hình, ví dụ như HTV7, HTV9…Mỗi thương hiệu con có nhiều
dòng sản phẩm là các thể loại chương trình truyền hình (ví dụ như thể loại trò chơi
truyền hình), và các sản phẩm cụ thể (ví dụ như chương trình trò chơi Rồng Vàng).
Như vậy, theo quan điểm này, sản phẩm là một thành phần chủ yếu của thương hiệu.
Để dễ nhớ và phân biệt, có thể tập trung các khái niệm trên vào một câu đơn giản
như sau: “Kính mời các bạn (quý khán giả) đón xem chương trình “Tin thế giới 24
giờ” vào lúc 19g45 trên kênh HTV7 của Đài truyền hình TPHCM”.
Footer Page 21 of 16.
Header Page 22 of 16.
15
ĐÀI TRUYỀN HÌNH
ngoài trời, vệ tinh, mạng
Chi phí đầu tư ban đầu và Phạm vi phủ sóng lớn, bán cáp…
chi phí duy trì quản lý cao.
kính trung bình 80km.
Phạm vi phủ sóng hoàn
Chi phí đầu tư ban đầu toàn trong khu vực hoặc
tương đối cao, chi phí duy quốc gia.
trì thấp, chi phí biên trên Chi phí đầu tư ban đầu cao,
khán giả gần như bằng 0.
chi phí duy trì tương đối
cao.
Footer Page 22 of 16.
Header Page 23 of 16.
16
Về số lượng kênh:
Về số lượng kênh:
Về số lượng kênh:
Không ổn định, tùy thuộc đều theo quy hoạch mạng
vào nhiều điều kiện bên truyền dẫn.
ngoài như thời tiết, chất Tương đối ổn định.
lượng ănten thu sóng…
Bảng 2.1: So sánh sự khác biệt các thuật ngữ truyền dẫn kênh truyền hình
Kênh truyền hình tổng hợp
Kênh truyền hình chuyên
Thương hiệu kênh truyền hình mang nhiều Thương hiệu kênh truyền hình chỉ mang
dòng sản phẩm bên trong. Nội dung một dòng sản phẩm. Nội dung thường chỉ
chương trình bao gồm nhiều thể loại, ví dụ có duy nhất một thể loại, ví dụ với CNN là
như văn nghệ, thể thao, tin tức, phim tin tức, với MTV là âm nhạc, với HBO là
truyện, phóng sự tài liệu, ký sự, tọa đàm, phim truyện…
trò chơi truyền hình…
Bảng 2.2: Bảng so sánh nội dung kênh truyền hình tổng hợp và chuyên kênh
Footer Page 23 of 16.
Header Page 24 of 16.
17
2.2.2. Giới thiệu Đài Truyền Hình TP.HCM
ĐÀI TRUYỀN HÌNH TP.HỒ CHÍ MINH
Địa chỉ: 14 Đinh Tiên Hoàng, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
Điện thoại: (+84.8) 38292737 - (+84.8) 38291667
Fax: (+84.8) 38298457
của Việt Nam.” (Trương Vũ An Chinh, 2009, tr.19).
Nhận xét, tuy là một công ty lớn mạnh, bao gồm rất nhiều phòng ban, nhưng HTV
vẫn chưa có phòng ban chuyên môn nào phụ trách xây dựng và phát triển thương hiệu.
“Xây dựng và phát triển thương hiệu HTV” chỉ mới tồn tại ở dạng nhận thức và nêu
khẩu hiệu, chứ chưa triển khai được kế hoạch hoàn chỉnh và lan tỏa được tinh thần đó
ra bên ngoài, trước hết là cho nhân viên và sau đó rộng hơn là đến khán giả. Các công
ty truyền hình cạnh tranh đã chú trọng và thực hiện vấn đề thương hiệu từ khá sớm, ví
dụ như VTV quan tâm và thực hiện loạt chương trình gameshow “Chắp cánh thương
hiệu”, tổ chức các buổi hội thảo về thương hiệu, ra mắt các kênh truyền hình mới thông
qua các cuộc nghiên cứu thị trường nghiêm túc (tuy kết quả một số kênh vẫn chưa đạt
được như mong muốn); hoặc công ty truyền hình kỹ thuật số VTC cũng rất quan tâm
đến vấn đề thương hiệu, VTC còn “định vị” và có những kênh truyền hình thể hiện ý
định “tấn công” trực tiếp vào HTV như kênh VTC7, VTC9…Do đó, trong thời gian
sắp tới, vấn đề thương hiệu HTV cần phải được nhìn nhận đúng đắn và có sự chuẩn bị
để phát triển tương xứng.
2.3.
Cơ sở lý luận truyền thông – truyền hình:
Truyền hình cũng là một dạng thức của báo chí, được gọi nôm na là “báo hình”, cho
nên truyền hình cũng chịu ảnh hưởng bởi cơ sở lý luận của truyền thông và báo chí.
2.3.1. Truyền thông và quá trình truyền thông:
“Truyền thông” từ tiếng Anh “communication” có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin,
thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông…Thuật ngữ truyền thông có nguồn
gốc từ tiếng Latinh “commune” nghĩa là “chung” hay “cộng đồng”. Nội hàm của nó là
nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá
nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội.
Footer Page 25 of 16.