BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN THANH TUẤN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN THANH TUẤN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS NGUYỄN QUỐC TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Trần Thanh Tuấn, tác giả luận văn tốt nghiệp cao học này. Trong
quá trình thực hiện luận văn, tôi đã tự mình nghiên cứu tài liệu và trao đổi với giảng
viên hướng dẫn.
4.1.
Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 3
4.2.
Phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 4
6. Bố cục luận văn ................................................................................................ 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN .............................................................................. 5
1.1.
Khái niệm trợ giúp xã hội ........................................................................... 5
1.2.
Chính sách trợ giúp xã hội.......................................................................... 6
1.2.1. Khái niệm .............................................................................................. 6
1.2.2. Mục tiêu chính sách .............................................................................. 7
1.2.3. Đối tượng chính sách ............................................................................ 7
1.2.4. Nội dung chính sách.............................................................................. 8
1.3.
Người cao tuổi và chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ........ 9
1.3.1. Khái niệm người cao tuổi...................................................................... 9
1.3.2. Chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ............................. 10
3.1.1. Một số nét khái quát về người cao tuổi............................................... 35
3.1.2. Kết quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Bến Tre giai đoạn 2012 – 2014 ........................................................... 38
3.2.
Phân tích sự tác động của chính sách trợ giúp xã hội đối với chất lượng
cuộc sống người cao tuổi .......................................................................... 41
3.2.1. Thông tin mẫu khảo sát ....................................................................... 41
3.2.2. Kiểm định thang đo qua hệ số tin cậy Cronbach’s alpha ................... 43
3.2.3. Kiểm định thang đó bằng phân tích nhân tố khám phá EFA .............. 46
3.2.4. Mô hình và giả thuyết được hiệu chỉnh .............................................. 52
3.2.5. Phân tích hồi qui sự tác động của chính sách trợ giúp xã hội đến chất
lượng cuộc sống người cao tuổi .......................................................... 54
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 ............................................................................................ 57
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................. 58
4.1.
Bối cảnh và định hướng............................................................................ 58
4.1.1. Cơ hội và thách thức ........................................................................... 58
4.1.2. Định hướng ......................................................................................... 58
4.2.
Giải pháp về nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi ................... 59
4.3.
BGTVT
: Bộ giao thông vận tải
BTXH
: Bảo trợ xã hội
BYT
: Bộ y tế
BLĐTBXH : Bộ Lao động, thương binh và xã hội
BVHTTDL : Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch
CLCS
: Chất lượng cuộc sống người cao tuổi
CSBTXH
: Chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ
CSSK
: Chăm sóc sức khỏe
CSYTE
: Chính sách trợ giúp y tế
: Tổ chức lao động quốc tế
KCB
: Trợ giúp khám chữa bệnh
KMO
: Hệ số Kaiser – Mayer – olkin
MLR
: Mô hình hồi qui bội
(Multiple Linear Regression)
NĐ
: Nghị định
PHVT
: Chính sách phát huy vai trò người cao tuổi
PL
: Pháp lệnh
QH
: Tôn trọng sự đóng góp của người cao tuổi
TW
: Trung ương
UBTVQH
: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
UNICEF
: Quỹ nhi đồng của Liên hiệp quốc
UBND
: Ủy ban nhân dân
VHTT
: Chính sách trợ giúp văn hóa – thể thao
VIF
: Hệ số nhân tố phóng đại phương sai
(Variance inflation factor)
WB
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chăm sóc đời sống người cao tuổi, đảm bảo về mặt vật chất và tinh thần luôn
là những định hướng chính sách mà Đảng và Chính phủ Việt Nam thực hiện trong
từng giai đoạn phát triển đất nước. Ngay những ngày đầu thành lập đất nước, Hồ
Chí Minh khẳng định: “Người cao tuổi là của quý vô giá của dân tộc, của Nhà
nước”. Bác vô cùng quý mến, kính trọng người cao tuổi và nhắc nhở mọi người:
“Với cụ già phải cung kính”. Kế thừa và phát huy quan điểm đó, Đảng và Nhà nước
ta luôn quan tâm và coi trọng công tác chăm sóc người cao tuổi.
Kể từ Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm
1946 (Điều 14), đã khẳng định “Những người công dân già cả hoặc tàn tật không
làm được việc thì được giúp đỡ”. Sau đó, qua các lần sửa đổi, bổ sung, các bản Hiến
pháp vẫn kế thừa và phát triển những quy định đó. Hiến pháp 1992 (Điều 64), quy
định “Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ”; Điều 67 quy
định: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và
xã hội giúp đỡ”. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 59-CT/TW ngày
27/9/1995 về chăm sóc người cao tuổi; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành
Pháp lệnh người cao tuổi số 23/2000/PL-UBTVQH10.
Gần 10 năm thực hiện Pháp lệnh Người cao tuổi, ngày 23/11/2009, tại kỳ
họp thứ 6, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Người cao tuổi và hiệu lực thi
hành bắt đầu từ 01/7/2010. Luật quy định cụ thể quyền lợi, trách nhiệm của cá nhân,
tổ chức trong việc phụng dưỡng, phát huy vai trò của người cao tuổi. Gần đây nhất
là Hiến pháp năm 2013 đã được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua, đây là
đạo luật cơ bản thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã
hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ta.
Qua đó cho thấy mức độ bao phủ và chính sách trợ giúp của nhà nước ngày
càng mở rộng đối với người cao tuổi. Tuy nhiên, dù đã được điều chỉnh và bổ sung
trong khi chỉ số già hóa trung bình của Việt Nam là 35,7. Bến Tre là một trong 10
tỉnh có chỉ số già hóa cao nhất của cả nước, tỉnh Bến Tre bước vào thời kỳ “dân số
vàng”. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
kinh tế và phát triển bền vững. Tuy nhiên, số người bước vào độ tuổi lao động cũng
tăng nhanh đang gây thêm sức ép, làm tăng nạn thất nghiệp, thiếu việc làm, già hóa
dân số sẽ tạo nên những thách thức to lớn cho xã hội.
3
Xuất phát từ thực tế trên, vấn đề đặt ra là chất lượng cuộc sống của người
cao tuổi thay đổi như thế nào thông qua những chính sách trợ cấp của nhà nước?
Cần làm gì để nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi của tỉnh Bến Tre? Đó
là lý do tác giả lựa chọn và đề xuất nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sự tác động của
chính sách trợ giúp xã hội đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi trên địa bàn
tỉnh Bến Tre”.
2. Câu hỏi nghiên cứu
1) Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi hiện nay như
thế nào?
2) Đặc điểm người cao tuổi và thực trạng cuộc sống của người cao tuổi tại
tỉnh Bến Tre như thế nào?
3) Chính sách trợ giúp xã hội tác động như thế nào đến chất lượng cuộc
sống của người cao tuổi tại tỉnh Bến Tre?
4) Làm thế nào để chính sách trợ giúp xã hội tác động hiệu quả nhất đến
chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại tỉnh Bến Tre?
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1.
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này hướng đến làm sáng tỏ tác động của việc thực hiện chính
người cao tuổi.
Không gian: nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Thời gian: nghiên cứu chính sách áp dụng từ năm 2012 đến năm 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để phân tích thực trạng áp dụng
chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi.
Phương pháp hồi quy tương quan được sử dụng để phân tích sự tác động của
chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi.
Ngoài ra, phương pháp tổng hợp và suy luận biện chứng được sử dụng để
đánh giá làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội đối với
người cao tuổi.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận – Trình bày các lý thuyết có liên quan đến đề tài
bao gồm cơ sở lý thuyết và cơ sở thực nghiệm.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu – Trình bày các phương pháp sử dụng
bao gồm thang đo, mô hình nghiên cứu, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận – Trình bày các số liệu thu thập,
phân tích và đánh giá các số liệu.
Chương 4: Giải pháp và khuyến nghị - Trình bày các khuyến nghị hướng
hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống đối với
người cao tuổi trên địa bàn nghiên cứu.
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.
6
An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông
qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã
hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,
thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ
cấp cho các gia đình đông con (Tổ chức lao động quốc tế - ILO).
Cứu trợ xã hội là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực an sinh xã hội.
Theo nghĩa thông thường, cứu trợ xã hội được hiểu là chế độ đảm bảo xã hội đối
với các thành viên trong cộng đồng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước
mắt cũng như lâu dài trong đời sống. Việc đảm bảo này thông qua các hoạt động
cung cấp tài chính, tiền bạc, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác trong một thời
hạn hoặc trong suốt quá trình sống của đối tượng (Từ điển Bách khoa).
Như vậy, từ các khái niệm trên có thể hiểu đặc điểm chung của các hoạt
động trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của các đối tượng trợ giúp bao gồm nhà nước, cơ
quan, tổ chức và cộng đồng xã hội đến những đối tượng xã hội, cụ thể là những
người không thể đảm bảo hay lo liệu cho cuộc sống bản thân bằng những điều kiện
sống cần thiết nhất định trong ngắn hạn và dài hạn. Từ đó, tạo điều kiện để đối
tượng xã hội được trợ giúp hòa nhập tốt với cộng đồng xã hội, đem lại hoàn cảnh
sống có ý nghĩa.
1.2.
Chính sách trợ giúp xã hội
1.2.1. Khái niệm
Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định nhằm giải
quyết những vấn đề lặp đi lặp lại, chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá
trình ra quyết định, chúng vạch ra phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định,
nhắc nhở nhà quản lý những quyết định nào có thể và những quyết định nào là không
khăn trong sinh hoạt, lao động và cuộc sống và họ cần đến sự trợ giúp của gia đình,
cộng đồng, nhà nước thì mới có thể đảm bảo cuộc sống và hoà nhập cộng đồng.
Theo quy định của pháp luật hiện hành đối tượng hưởng chính sách trợ giúp
xã hội gồm các đối tượng sau:
- Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng, bị bỏ rơi chưa có người
nhận làm con nuôi, mồ côi cả cha và mẹ, côi cha hoặc mẹ có hoàn cảnh khó khăn,
có cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội,
nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam
hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng,
cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
8
- Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ
hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa,
thuộc hộ gia đình nghèo; người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp
bảo hiểm xã hội.
- Người khuyết tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả
năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo. Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại
tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần
chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc
thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo. Hộ gia đình có từ 02
người khuyết tật trở lên.
- Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo
không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội
hàng.
- Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi.
- Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường
hợp con đang đi học văn hóa, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi.
Trên cơ sở mức khuyết tật, khả năng tự phục vụ, mức độ rủi ro, chính sách
trợ giúp xã hội quy định các định mức trợ giúp phù hợp với từng đối tượng và khả
năng ngân sách.
1.3.
Người cao tuổi và chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.3.1. Khái niệm người cao tuổi
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi. Trước đây, người ta
thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay thuật ngữ
người cao tuổi ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy không
khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, người cao tuổi là thuật ngữ mang tính
tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng.
Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền
với việc suy giảm các chức năng của cơ thể.
Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định Người
cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”.
Theo Tổ chức y tế Thế giới - WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên.
Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ,… lại quy định người cao tuổi là
những người từ 65 tuổi trở lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác
nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau.
Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của
người dân cũng được nâng cao. Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn
hơn. Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau.
Theo quan điểm của Công tác xã hội, với đặc thù là một nghề trợ giúp xã
hội, công tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những
thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn,
vấn đề trong cuộc sống. Do đó, người cao tuổi là một đối tượng yếu thế, đối tượng
cần sự trợ giúp của công tác xã hội.
chữa bệnh và phục hồi chức năng; Người cao tuổi từ 100 tuổi trở lên được cấp miễn
phí thẻ bảo hiểm y tế.
11
Thông tư số 02/2004/TT- BYT hướng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức
khoẻ người cao tuổi trong đó quy định: người cao tuổi được chăm sóc sức khoẻ,
được khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được
ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm
đảm bảo chế độ chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại địa phương.
Theo Thông tư số 24/2003/TT-BLĐTBXH ngày 06/11/2003 của Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội, người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên được hưởng các
chế độ bảo hiểm y tế theo quy định.
Luật người cao tuổi được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2010 đã nhấn mạnh “Trách nhiệm của gia đình,
Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người
cao tuổi”. Điều 4 Luật người cao tuổi quy định một số chính sách của Nhà nước đối
với người cao tuổi, cụ thể như sau:
- Bố trí ngân sách hằng năm phù hợp để thực hiện chính sách chăm sóc và
phát huy vai trò người cao tuổi.
- Bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi theo quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật có liên quan.
- Lồng ghép chính sách đối với người cao tuổi trong chính sách phát triển kinh
tế - xã hội.
- Phát triển ngành lão khoa đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cho người
cao tuổi; đào tạo nhân viên chăm sóc người cao tuổi.
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho người cao tuổi rèn luyện sức khoẻ; tham gia
học tập, hoạt động văn hoá, tinh thần; sống trong môi trường an toàn và được tôn
trọng về nhân phẩm; phát huy vai trò người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và
định quản lý và sử dụng kinh phí, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại
nơi cư trú; chúc thọ, mừng thọ và biểu dương, khen thưởng đối với người cao tuổi.
- Bộ Giao thông vận tải có công văn số 3873/BGTVT ngày 01 tháng 7 năm
2011 về triển khai thực hiện quy định về giảm giá vé, giá dịch vụ cho người cao
tuổi khi tham gia giao thông bằng tàu thủy chở khách, tàu hỏa chở khách và máy
bay chở khách.
Trong những năm qua, đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội, nhà nước ta đã
có những chính sách ưu đãi đối với những người cao tuổi, các chính sách trợ giúp
được cụ thể hóa trong hệ thống văn bản Nhà nước thể hiện một số khía cạnh cuộc
13
sống qua các chính sách về vật chất, tinh thần như: chính sách bảo trợ xã hội, giảm
giá vé, giá dịch vụ khi sử dụng một số dịch vụ và chính sách chúc thọ mừng thọ.
Về chính sách bảo trợ xã hội, đối với người cao tuổi từ đủ 60 đến 80 tuổi
thuộc hộ gia đình nghèo không có người phụng dưỡng, hoặc có người phụng dưỡng
nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng, thì được hưởng
mức trợ cấp 180 nghìn đồng/người/tháng. Đối với người cao tuổi từ 80 trở lên thuộc
hộ gia đình nghèo không có người phụng dưỡng, hoặc có phụng dưỡng nhưng
người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng, thì được hưởng mức trợ
cấp 270 nghìn đồng/người/tháng. Đối với người cao tuổi được nhận nuôi dưỡng
trong các cơ sở bảo trợ xã hội quy định tại khoản 2 điều 18 Luật người cao tuổi, thì
được hưởng mức trợ cấp 360 nghìn đồng/người/tháng.
Đối với người cao tuổi đủ điều kiện tiếp nhận vào sống trong các cơ sở bảo
trợ xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng theo quy định thì được
hưởng mức trợ cấp 360 nghìn đồng/người/tháng. Ngoài mức trợ cấp trên, khi người
cao tuổi qua đời, còn được Nhà Nước hỗ trợ chi phí mai táng 3.000.000 đồng theo
quy định của Luật Người cao tuổi.
Đối với chính sách giảm giá vé, giá dịch vụ, theo Nghị định 06/2011/NĐ-CP
Công tác chăm sóc người cao tuổi ngày càng được các cấp chính quyền và xã
hội quan tâm thực hiện rộng rãi, đặc biệt là việc thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng
tại cộng đồng cho người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu và trợ cấp
bảo hiểm xã hội hàng tháng được kịp thời và đầy đủ.
Phần lớn, người cao tuổi ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình “Tuổi cao –
Gương sáng” trong gia đình và xã hội. Người cao tuổi tích cực tham gia phong trào
toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư mà còn đóng góp ngày
công và vận động cùng đóng góp để xây dựng giao thông nông thôn và phong trào
xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
Các hoạt động truyền thông trên báo, đài, các cuộc mít tinh,… đã tác động
góp phần nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền và người dân về công tác
chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi trên địa bàn tỉnh. Công tác đào tạo
được đội ngũ Giảng viên nguồn làm nồng cốt cho công tác đào tạo nâng cao nhận
thức về công tác người cao tuổi và mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau
được tỉnh quan tâm.
Công tác chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi ngày
càng được nâng lên, được xã hội quan tâm nên việc triển khai thực hiện các chủ
trương chính sách của Đảng, Nhà nước về người cao tuổi được người dân đồng
thuận và hưởng ứng.
15
1.3.3.2.
Hạn chế
Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác chăm sóc và phát huy
vai trò người cao tuổi mặc dù được triển khai trong hệ thống chính trị và cộng đồng