Giáo dục trung học phổ thông huyện chợ đồn tỉnh bắc kạn (1997 – 2013) - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN THỊ HOA

GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN (1997 – 2013)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Thu Thủy

Thái Nguyên, năm 2015

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quả
nghiên cứu trong Luận văn là trung thực, chưa được công bố trong một công
trình nào khác.

Người thực hiện

Nguyễn Thị Hoa



ii

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................... iii
Danh mục các bảng, biểu đồ............................................................................... iv
Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt ...................................................................... v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN CHỢ ĐỒN VÀ GIÁO DỤC THPT
HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN TRƢỚC NĂM 1997....................... 10
1.1. Vài nét về huyện Chợ Đồn ..................................................................... 10
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên ......................................................... 10
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội .................................................................... 14
1.2. Khái quát giáo dục THPT huyện Chợ Đồn trước năm 1997 .................. 18
1.2.1. Giai đoạn 1945 - 1954 ......................................................................... 18
1.2.2. Giai đoạn 1954 – 1975 ........................................................................ 20
1.2.3. Giai đoạn 1976 – 1996 ........................................................................ 24
Chƣơng 2. TÌNH HÌNH GIÁO DỤC THPT HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH
BẮC KẠN GIAI ĐOẠN 1997 - 2013.............................................................. 30
2.1. Giáo dục THPT huyện Chợ Đồn giai đoạn 1997 – 2006 ....................... 30
2.1.1. Hoàn cảnh và chủ trương phát triển giáo dục THPT huyện Chợ Đồn 30
2.1.2. Giáo dục THPT huyện Chợ Đồn ......................................................... 34

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Quy mô trường lớp, học sinh Trường THPT Chợ Đồn
(1997 – 2006).................................................................................... 35
Bảng 2.2: Kết quả giáo dục hai mặt Trường THPT Chợ Đồn (1997 – 2006) .. 41
Bảng 2.3: Quy mô trường lớp, học sinh THPT Chợ Đồn (2006 – 2013) ......... 49
Bảng 2.4: Số lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên THPT huyện Chợ Đồn
(2006 – 2013).................................................................................... 50
Bảng 2.5: Kết quả giáo dục hai mặt Trường THPT Chợ Đồn (2006 - 2013) ... 58
Bảng 2.6: Kết quả giáo dục hai mặt Trường THPT Bình Trung
(2006 - 2013) .................................................................................... 60
Bảng 3.1: Quy mô trường, lớp, học sinh bậc THPT huyện Chợ Đồn, tỉnh
Bắc Kạn trong những năm 1997 – 2013 ........................................... 64
Bảng 3.2: Kết quả hai mặt giáo dục THPT huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
trong những năm 1997 – 2013 .......................................................... 69

iv

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ CÁI VIẾT TẮT

NỘI DUNG

CNH - HĐH



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo có vị trí và vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được những
thành tựu to lớn trong quá trình phát triển do sớm coi trọng vai trò của giáo dục
như Nhật Bản, Singapore... Đặc biệt, trong xã hội hiện đại ngày nay, loài người
đang bước vào cuộc cách mạng của nền kinh tế tri thức, giáo dục ngày càng có
vai trò quan trọng, trở thành nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của
kinh tế - xã hội. Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu, người đã đưa
Singapore trở thành một trong bốn “con Rồng châu Á” bằng con đường giáo
dục, đã có một tổng kết vô cùng sâu sắc: Thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽ
thắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế.
Nắm bắt được vai trò phát triển của giáo dục, từ khi nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến phát triển
giáo dục, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Sau thành công của
Cách mạng tháng Tám, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm
thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đưa ra sáu nhiệm vụ cấp bách của đất nước lúc bấy giờ, trong đó có nhiệm
vụ “diệt giặc dốt”.
Trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước ta lại
càng coi trọng hơn nữa đến sự nghiệp giáo dục. Đảng ta xác định để thúc đẩy
tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước thì vấn đề nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài là vấn đề có tính then chốt. Đảng ta đã khẳng định trong Nghị quyết Trung

tựu đáng kể về cả số lượng và chất lượng. Đó là chất lượng giáo dục hai mặt
cho học sinh có bước chuyển biến tiến bộ, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học
phổ thông và học sinh thi đỗ vào các trường chuyên nghiệp dần được nâng lên,
chất lượng giảng dạy từng bước được nâng cao... Song, là một huyện miền núi
cao, kinh tế còn nghèo nên giáo dục trung học phổ thông huyện Chợ Đồn còn
gặp nhiều khó khăn như hệ thống cơ sở vật chất, trường lớp phục vụ cho việc
dạy học còn nhiều thiếu thốn, vẫn còn học sinh bỏ học, tỷ lệ học sinh đạt giải
trong các kỳ thi học sinh giỏi còn ít...
2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




Là một người con của quê hương Chợ Đồn, lại là một giáo viên giảng
dạy bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông, tôi nhận thức rõ việc nghiên
cứu giáo dục trung học phổ thông ở huyện Chợ Đồn từ năm 1997 đến năm
2013 vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn bởi nó không chỉ góp
phần vào việc nghiên cứu lịch sử phát triển của ngành giáo dục trung học phổ
thông ở địa phương mà qua đó còn có thể rút ra những bài học kinh nghiệm để
tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp giáo dục cũng như đẩy mạnh sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương.
Từ những nhận thức nêu trên, tôi quyết định chọn vấn đề “Giáo dục
trung học phổ thông huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn (1997 – 2013)” làm đề tài
luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề giáo dục tỉnh Bắc Kạn nói chung và giáo dục THPT huyện Chợ
Đồn (1997 – 2013) nói riêng đã có nhiều sách, báo, công trình nghiên cứu của
các tổ chức, cá nhân, các học giả đề cập đến với nội dung và các khía cạnh,

hành cuộc kháng chiến chống Pháp. Đến năm 2004, Đảng ủy – Bộ chỉ huy
quân sự tỉnh Bắc Kạn tiếp tục xuất bản cuốn “Bắc Kạn lịch sử kháng chiến
chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975)” [40], cuốn sách cũng đã đề cập đến tình
hình giáo dục tỉnh Bắc Kạn trong thời kỳ tiến hành cuộc kháng chiến chống
Mỹ ở địa phương.
Năm 2006, Đảng ủy – Ban Chỉ huy quân sự Chợ Đồn cho xuất bản cuốn
“Chợ Đồn lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ (1945 –
1975)” [38]. Cuốn sách đã dựng lại tương đối đầy đủ những đóng góp của quân
và dân Chợ Đồn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ cứu nước. Vấn đề giáo dục, trong đó có giáo dục THPT cũng được đề cập
ngắn gọn trong cuốn sách này.
Gần đây nhất, năm 2010, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Chợ Đồn đã
xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Chợ Đồn, tập III (1975 – 2005)” [3].
Cuốn sách đã khái quát lại chặng đường 30 năm (1975 – 2005) Đảng bộ huyện
Chợ Đồn lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong huyện thực hiện nhiệm vụ chính
trị của địa phương, trong đó có nêu về quá trình phát triển nền giáo dục của
huyện. Những thành tựu, tiến bộ cũng như những hạn chế, yếu kém của giáo
dục trung học phổ thông của huyện trong những năm 1975 – 2005 đã được đề
cập ngắn gọn trong cuốn sách này.
4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




Tình hình giáo dục Bắc Kạn nói chung và giáo dục THPT huyện Chợ
Đồn nói riêng còn được đề cập trong các công trình nghiên cứu của các học giả.
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Âu Thị Hồng Thắm: Bắc Kạn trong cuộc
kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) [74], đã khái quát tình hình của Bắc


thứ XVII, XVIII, XIX; trong các báo cáo tổng kết hằng năm và báo cáo đánh
giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 – 2000,
2001 – 2005, 2006 – 2010 và 2011 – 2015 của Huyện ủy Chợ Đồn; các báo cáo
tổng kết, đánh giá của ngành giáo dục và đào tạo Bắc Kạn đối với sự nghiệp
giáo dục trung học phổ thông của tỉnh.
Nhìn chung, những nguồn tư liệu trên dưới các góc độ khía cạnh khác
nhau đã phản ánh ít nhiều về quá trình phát triển giáo dục THPT huyện Chợ
Đồn nói chung và thời kỳ 1997 - 2013 nói riêng. Tuy nhiên, đến nay chưa có
một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu có hệ thống về giáo dục trung học
phổ thông huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn này. Song đó là những
tư liệu quý giúp tôi phương hướng đi sâu nghiên cứu và hoàn thành đề tài:
“Giáo dục trung học phổ thông huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn (1997 – 2013)”.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về giáo dục trung học phổ thông huyện Chợ Đồn, tỉnh
Bắc Kạn trong những năm 1997 – 2013.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: đề tài nghiên cứu về giáo dục trung học phổ thông thuộc
phạm vi huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
Thời gian: đề tài nghiên cứu về giáo dục trung học phổ thông huyện Chợ
Đồn, tỉnh Bắc Kạn từ năm 1997 (từ khi Bắc Kạn tái lập tỉnh) đến năm 2013 (cụ
thể là từ năm học 1997 – 1998 đến hết năm học 2012 – 2013).
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
Khái quát vài nét về địa lý hành chính, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh
tế – xã hội của huyện Chợ Đồn và tình hình giáo dục trung học phổ thông
huyện Chợ Đồn trước năm 1997.

6


Hồi kí của các thế hệ học sinh, giáo viên, lãnh đạo nhà trường.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó, chủ yếu là phương pháp lịch sử
và phương pháp logic, thông qua việc sử dụng các phương pháp chuyên ngành
(diễn tiễn theo tiến trình từng giai đoạn) để tái hiện lại quá trình phát triển của
giáo dục THPT huyện Chợ Đồn giai đoạn 1997 - 2013.
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh để rút ra
nhận xét, đánh giá khái quát.
Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng phương pháp điều tra xã hội, khảo sát
thực địa, phỏng vấn các thế hệ học sinh, giáo viên, lãnh đạo các trường
THPT trên địa bàn huyện để có thêm căn cứ thẩm định cho các nguồn tư liệu
đã lưu trữ.
5. Đóng góp của luận văn
Tái hiện lại một cách sinh động, có hệ thống quá trình phát triển của giáo
dục trung học phổ thông huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn trong những năm 1997
– 2013. Qua đó nêu rõ được những thành tựu và hạn chế của giáo dục trung học
phổ thông huyện Chợ Đồn trong thời gian này.
Đề xuất một số giải pháp để Đảng bộ, chính quyền huyện nhà có thể
tham khảo, bổ sung hoàn thiện chủ trương kế hoạch nhằm thúc đẩy sự phát
triển của giáo dục trung học phổ thông những năm tiếp theo.
Có thể dùng làm tài liệu tham khảo để phục vụ cho công tác giảng dạy
lịch sử địa phương và là nguồn tư liệu xác đáng, tin cậy để các nhà nghiên cứu

1.1. Vài nét về huyện Chợ Đồn
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Chợ Đồn là một huyện miền núi cao nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn,
có 1 thị trấn (Bằng Lũng) và 21 xã. Chợ Đồn có ranh giới tiếp giáp: phía Bắc
giáp huyện Ba Bể; phía Nam giáp huyện Định Hóa của tỉnh Thái Nguyên; phía
Đông giáp huyện Bạch Thông, huyện Chợ Mới; phía Tây giáp các huyện
Chiêm Hóa, Yên Sơn và Na Hang của tỉnh Tuyên Quang.
Theo sử cũ, từ đời nhà Trần trở về trước, địa phận huyện Chợ Đồn ngày
nay là một phần đất của huyện Vĩnh Thông, thuộc phủ Thái Nguyên; thời thuộc
Minh (1407 - 1427) vẫn theo như thế. Đến thời nhà Lê, huyện Vĩnh Thông
được đổi tên thành châu Bạch Thông, thuộc phủ Thông Hóa, do phiên thần họ
Hoàng nối đời cai trị. Từ đó trở đi, Chợ Đồn vẫn thuộc châu Bạch Thông.
Năm 1884, sau khi chiếm được thành Thái Nguyên, thực dân Pháp bắt
đầu mở rộng cuộc xâm lược lên các huyện phía Bắc nước ta. Vấp phải sự phản
kháng quyết liệt của nhân dân các dân tộc cho nên sau 10 năm, thực dân Pháp
mới đến được phủ lỵ Thông Hóa. Đến năm 1895, một đạo quân Pháp tiến lên
vùng thượng lưu sông Cầu, đánh chiếm các vùng rẻo cao của phủ Thông Hóa,
trong đó có phần đất của huyện Chợ Đồn ngày nay.
Đầu năm 1900, theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương Paul
Doumer, thực dân Pháp tách phủ Thông Hóa đặt thành tỉnh Bắc Kạn, gồm 4
châu (sau đổi thành huyện) là Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hóa (sau đổi thành
Na Rì), Cảm Hóa (sau đổi thành Ngân Sơn). Năm 1911, châu Chợ Đồn được
thành lập, gồm hai tổng: Đông Viên (gồm các xã hiện nay là Đông Viên,
10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN





Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




g đặc trưng chung của khí hậu miền Bắc Việt
Nam, chia thành bốn mùa (xuân, hạ, thu, đông) trong năm nhưng có hai mùa
nóng và lạnh rõ rệt. Đặc biệt, Chợ Đồn là vùng núi cao nên mùa đông thường
kéo dài (bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 4 năm sau), giá lạnh, nhiệt
độ không khí thấp, khô hanh, có sương muối. Mùa hè kéo dài từ tháng 5 đến
tháng 9, nóng ẩm, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình năm là 23,2 oC. Ngoài ra, khí
hậu Chợ Đồn còn có đặc trưng khác như sương mù, nhất là vào các tháng 10,
11 số ngày sương mù thường cao. Vào khoảng tháng 12 và tháng 1, các xã
vùng núi đá vôi còn xuất hiện sương muối. Mùa đông lạnh, kéo dài lại kèm
theo sương mù, sương muối đã gây khó khăn không nhỏ cho đời sống sinh hoạt
và sản xuất của con người nơi đây.
Lượng mưa thuộc loại thấp, bình quân 1.115mm/năm. Các tháng có
lượng mưa lớn là tháng 6 và 7 có ngày mưa tới 340mm/ngày; thấp nhất là vào
tháng 12 và tháng 1 năm sau 1,5mm/ngày. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và
chiếm tới 75-80% lượng mưa cả năm. Độ ẩm không khí trung bình 82%, thấp
nhất vào tháng 2 với 79% và cao nhất vào tháng 7 tới 88%. Chế độ gió thịnh
hành là gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí lạnh và gió mùa Đông Nam
mang theo hơi nước từ biển Đông, tạo ra những trận mưa lớn vào mùa hè.
Những đặc điểm về khí hậu nêu trên rất thích hợp cho các loại cây trồng
nhiệt đới và á nhiệt đới, là điều kiện để đa dạng hóa cây trồng, tăng vụ cho
ngành kinh tế nông – lâm nghiệp của huyện Chợ Đồn.
Chợ Đồn có hệ thống sông suối khá dày đặc, trong đó có ba nhánh
thượng nguồn của các con sông là sông Cầu, sông Năng, sông Phó Đáy (còn
gọi là sông Bình Trung). Đặc điểm chung của hệ thống sông suối nơi đây là đầu
nguồn, lòng sông ngắn, dốc, thuỷ chế thất thường. Giao thông đường sông ít

lớn đá vôi là nguồn nguyên liệu lớn để sản xuất vật liệu xây dựng. Nguồn
khoáng sản với trữ lượng lớn là lợi thế để Chợ Đồn có thể phát triển các ngành
công nghiệp khai khoáng, công nghiệp vật liệu xây dựng, từng bước tích luỹ và
xây dựng các ngành công nghiệp khác sau này.
Là một huyện miền núi cao, phần lớn là rừng và đồi núi, việc xây dựng
và phát triển giao thông trong huyện gặp nhiều khó khăn. Thời thuộc Pháp, Chợ
Đồn mới chỉ có một đoạn đường cái dài khoảng 10 ki-lô-mét, từ xã Đông Viên
13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




đến xã Phương Viên, nối liền con đường đi từ thị xã Bắc Kạn vào tới đồn quan
Châu [48;10]. Còn lại là những con đường mòn nhỏ hẹp chỉ vừa đủ cho người
và ngựa đi lại, nối liền từ xã này đến xã khác. Từ sau ngày hòa bình lập lại,
cùng với sự phát triển kinh tế, mạng lưới giao thông trong huyện được mở
mang thêm nhiều. Hai tuyến đường nhựa lớn xuất phát từ Bằng Lũng: một
tuyến đi qua Bản Cậu sang Tuyên Quang; một tuyến xuống Bình Trung, thông
với huyện Định Hóa. Từ trung tâm huyện, các con đường đất cũng được mở
rộng, xe ô tô có thể đi về hầu hết các xã. Hiện nay, được sự đầu tư của trung
ương và của tỉnh, các tuyến đường giao thông liên xã đều đã được rải nhựa,
tuyến đường tỉnh lộ 257 đã được mở rộng và rải asphalt. Hệ thống giao thông
tương đối hoàn thiện tạo thuận lợi cho huyện Chợ Đồn trong việc giao lưu
thương mại và phát triển kinh tế - xã hội.
Có thể nói, điều kiện tự nhiên ở Chợ Đồn có phần khắc nghiệt hơn
những địa phương khác trong địa bàn tỉnh Bắc Kạn, nơi đây thường xảy ra
những trận lũ lớn, những trận sương muối làm thiệt hại không nhỏ đến mùa
màng và đời sống con người. Song, huyện Chợ Đồn lại có những nguồn tài

cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến từ lâu đã được chính
quyền huyện quan tâm, phát triển. Để phát triển được quỹ rừng, được sự hỗ trợ
của Trung ương, tỉnh và các tổ chức quốc tế, huyện Chợ Đồn đã thực hiện
nhiều chương trình, dự án như Chương trình 135, 134, Dự án PAM 5322, Dự
án Hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - Hà Lan..., nhờ đó không chỉ khai thác nguồn
tài nguyên rừng hợp lý, phát triển bền vững mà còn giúp người dân nâng cao
thu nhập từ việc trồng rừng.
Kinh tế công nghiệp và thủ công nghiệp cũng tương đối phát triển. Nhờ
được tự nhiên ưu đãi về nguồn tài nguyên khoáng sản (sắt, chì, kẽm, đá vôi)
nên Chợ Đồn có điều kiện phát triển ngành công nghiệp khai khoáng và công
nghiệp vật liệu xây dựng. Các mỏ khai thác khoáng sản có hiệu quả và mang lại
hiệu quả kinh tế cao hiện nay là mỏ quặng sắt Bằng Lũng và mỏ kẽm Chợ Điền
ở Bản Thi. Về thủ công nghiệp, đồng bào các dân tộc nơi đây rất khéo tay trong
nghề thủ công đan lát. Cả nam lẫn nữ đều biết đan và thường xuyên đan đồ
dùng các loại như: cót, dậu, bồ, rổ rá, nơm, đó… Phụ nữ rất giỏi nghề trồng
bông, kéo sợi, dệt vải; giỏi thêu thùa, may vá, làm thêm những bộ quần áo độc
15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




đáo, đậm đà màu sắc dân tộc. Hầu hết đàn ông đều sử dụng thành thạo các loại
vũ khí cầm tay và các dụng cụ chài lưới dùng để săn bắt và đánh cá.
Cùng với sự phát triển sản xuất, hoạt động thương mại cũng được mở
rộng. Hệ thống các chợ (chợ xã, chợ huyện) được xây dựng tạo điều kiện đẩy
mạnh giao lưu giữa các địa phương trong huyện, trong đó một số chợ đã được
hình thành từ khá lâu như chợ Phương Viên (tên là Chợ Đồn), chợ Bằng Lũng,
chợ Quảng Bạch. Giao thương buôn bán giữa Chợ Đồn với các vùng miền xuôi

một tỉ lệ rất nhỏ trong dân số huyện Chợ Đồn.
Giữa các dân tộc cư trú trên quê hương Chợ Đồn có mối quan hệ gần gũi
lâu đời. Ngoài tình họ hàng và tình đồng tộc, các dân tộc còn gắn bó với nhau
bằng tình làng nghĩa xóm. Họ sống trong sự cưu mang và đùm bọc lẫn nhau.
Từ những việc cưới xin, ma chay, những ngày lễ, tết, cho đến việc làm nhà...
đều có sự quan tâm thăm hỏi và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong vùng.
Từ sau Cách mạng tháng Tám, nhất là trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội, dưới chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước, nhân dân các dân
tộc huyện Chợ Đồn ngày càng nâng cao tình đoàn kết và cả sự nhất trí về chính
trị và tinh thần.
Mỗi dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện đều có những nét văn hóa đặc
trưng riêng, những thiết chế văn hóa xã hội truyền thống của từng dân tộc, góp
phần tạo cho Chợ Đồn một kho tàng văn hóa phong phú và hấp dẫn. Đồng bào
các dân tộc Chợ Đồn còn có một đời sống tinh thần rất phong phú, đa dạng.
Những bài văn vần, thơ, cùng với các điệu si-lượn, bài then… đều được sáng
tác trong quá trình lao động sản xuất, rất giàu tính trữ tình và tính giáo dục cao
với nội dung ca ngợi cảnh đẹp quê hương, đất nước; ngợi ca mối tình chung
thủy lứa đôi, sự hồn nhiên giản dị, cũng như đức tính cần cù, dũng cảm của
người dân lao động; đồng thời đả kích những sự bất công, thối nát trong xã hội
và những đồi phong bại tục của giai cấp thống trị. Một số truyền thuyết, truyện
cổ tích như truyện “Trăm trứng”, “Thánh Gióng”… của người Kinh, truyện
“Quả Bầu”, “Phú Luông - Già Cải”, “Vua Giống”… của người Tày, đều ghi lại
các sự kiện lịch sử, biết ơn những người có công xây dựng quê hương và giáo
dục tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc. Những giá trị tinh hoa văn hóa đó
không ngừng được giữ gìn và phát huy trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ
quê hương của nhân dân các dân tộc huyện Chợ Đồn. Trong những năm gần
17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status