BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VÕ NGỌC CHÂU
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC THUẾ ĐẾN TĂNG
TRƢỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VÕ NGỌC CHÂU
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC THUẾ ĐẾN TĂNG
TRƢỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành:
Tài chính - Ngân hàng
Mã số:
60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
1.4. Phương pháp nghiên cứu: .................................................................................6
1.5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: .............................................................................6
1.6. Bố cục của đề tài nghiên cứu: ...........................................................................6
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT ............................................................8
2.1. Lý thuyết về thuế ..............................................................................................8
2.1.1. Adam Smith ................................................................................................8
2.1.2. John Maynard Keynes: ...............................................................................9
2.1.3. Arthur Laffer và lý thuyết đường cong Laffer: ........................................10
2.1.4. Paul A. Samuelson ...................................................................................11
2.1.5. Lý thuyết về tác động kinh tế của thuế: ...................................................12
2.2. Lý thuyết về mô hình tăng trưởng kinh tế ......................................................13
2.2.1 Mô hình tăng trưởng ngoại sinh ................................................................13
2.2.2 Mô hình tăng trưởng nội sinh ....................................................................15
2.3. Thuế trong mô hình tăng trưởng kinh tế .........................................................17
2.4. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài..............................................21
2.4.1. Các nghiên cứu ngoài nước ......................................................................21
2.4.2. Các nghiên cứu trong nước ......................................................................25
Kết luận chương 2 ..................................................................................................25
CHƢƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................26
3.1 Mô hình thực nghiệm.......................................................................................26
3.2 Dữ liệu nghiên cứu ..........................................................................................26
3.3 Phương pháp ước lượng...................................................................................29
3.3.1 Đối với dữ liệu bảng tĩnh...........................................................................29
3.3.2 Phương pháp GMM – Đối với dữ liệu bảng động ....................................30
Kết luận chương 3 ..................................................................................................32
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................33
4.1. Sơ lược quá trình phát triển thuế ở Việt Nam ................................................33
4.2. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 2007-2012........................38
IMF (International Monetary Fund): Quỹ tiền tệ quốc tế
MB: Môn bài
MG (mean group): Phương pháp nhóm trung bình
NSNN: Ngân sách nhà nước
OECD (Organization for Economic Cooperation and Development): Tổ chức
Hợp tác và Phát triển Kinh tế.
PMG (pooled mean group): Phương pháp trung bình gộp.
POLS: Phương pháp bình phương gộp nhỏ nhất.
RE: Tác động ngẫu nhiên.
R & D: Nghiên cứu và phát triển
TCTK: Tổng cục thống kê
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
TNCN: Thu nhập cá nhân
TTĐB: Tiêu thụ đặc biệt
XNK: Xuất nhập khẩu
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4. 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của các ngành theo cùng kỳ năm trước ..........42
Bảng 4. 2: Tỷ trọng các ngành trong GDP, 2005-2012 (%, theo giá cố định năm
1994)..........................................................................................................................44
Bảng 4. 3: Trung bình và độ lệch chuẩn của lạm phát, tăng trưởng và chính sách vĩ
mô (%) .......................................................................................................................47
Bảng 4. 4: Độ nổi của thuế ở Việt Nam giai đoạn 2007 – 2012 ...............................52
Bảng 4. 5: Kết quả hồi quy dữ liệu bảng FE .............................................................54
Bảng 4. 6: Kết quả hồi quy dữ liệu bảng GLS ..........................................................55
Bảng 4. 7: Kết quả hồi quy dữ liệu bảng DGMM.....................................................57
Bảng 5. 1: Mức thuế suất và số lượng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng của một số
quốc gia tại thời điểm năm 2011 (%) ........................................................................66
nhập của các đối tượng nộp thuế và các thành viên trong xã hội. Sự thay đổi của
pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, vế thuế suất... đều có tác
động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội.
Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
mà còn là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của nhà nước, thuế gắn liền với các
vấn đề về tăng trưởng kinh tế, về công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội.
Có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc
điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước. Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định
hướng phát triển sản xuất. Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp
phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành
phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Năm 2015 được đánh giá là năm bản lề quan trọng của Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Năm nay đánh dấu bước khởi đầu của lộ trình cắt
giảm ở mức sâu nhất và tiến tới cam kết cuối cùng về xóa bỏ thuế quan của thuế
suất nhập khẩu trong các Hiệp định tự do thương mại (FTA) mà Việt Nam đã ký với
các đối tác quan trọng như ASEAN, Trung Quốc và Hàn Quốc… Bên cạnh đó, Hiệp
định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định tự do thương
2
mại Việt Nam-EU dự kiến sẽ kết thúc đàm phán và được ký kết trong năm nay,
cũng hứa hẹn những sự thay đổi kèm theo đó là nhiều áp lực mới. Vì thế doanh thu
thuế chắc chắn sẽ có nhiều biến động trong thời gian tới, một số câu hỏi được đặt ra
là liệu sự biến động của doanh thu thuế có ảnh hưởng đến tăng trưởng hay không?
Sự ảnh hưởng này có đáng lo ngại?
Bằng lý luận và thực nghiệm đề tài nghiên cứu: Tác động của thuế đến tăng
trƣởng kinh tế ở Việt Nam sẽ làm rõ vai trò và ý nghĩa tác động của thuế đến tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam.
4
Hàn Quốc. Tháng 10/2015 cũng đánh dấu bước tiến quan trọng của Việt Nam trong
quá trình hội nhập khinh tế quốc tế với việc đàm phán thành công hiệp định thương
mại xuyên Thái bình dương (TPP) với cam kết thuế xuất nhập khẩu giữa các nước
thành viên về mức 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực … Vì thế doanh thu thuế chắc
chắn sẽ có nhiều biến động trong thời gian tới, một số câu hỏi được đặt ra là liệu sự
biến động của doanh thu thuế có ảnh hưởng đến tăng trưởng hay không? Sự ảnh
hưởng này có đáng lo ngại?
Quan niệm cho rằng thuế ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế đã trở thành đề tài
gây tranh cãi chính trị và là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận trên báo chí. Một phần
bởi vì, có các lý thuyết đối lập nhau về nguyên nhân thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Những người theo trường phái Keynes thì cho rằng các yếu tố về phía cầu đóng vai
trò chính yếu, ngược lại, trường phái Tân Cổ Điển lại chú trọng các yếu tố về phía
cung, trong khi những người khác không tán thành cả hai quan điểm trên hay theo
một trường phái hoàn toàn khác.
Trong nhiều thập niên qua, đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về tác động của
cấu trúc thuế lên tăng trưởng kinh tế, song những nghiên cứu này đa phần đưa ra
những kết quả khá khác nhau, đôi khi là hoàn toàn trái ngược. Tùy vào số liệu của
từng quốc gia, từng giai đoạn mà các tác giả đưa ra các kết luận mang tính riêng
biệt. Trong khi đó ở Việt Nam, lại có rất ít tác giả nghiên cứu về đề tài này. Do đó,
việc đánh giá tác động của cấu trúc thuế tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện
vẫn chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo. Có hay không sự tác động của cấu
trúc thuế lên tăng trưởng kinh tế của từng địa phương? Chính sách thuế ở Việt Nam
đã phù hợp chưa? Nên điều chỉnh chính sách thuế như thế nào để góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế của quốc gia và phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chung
mô hình tăng trưởng nội sinh. Dựa vào khung lý thuyết của mô hình tăng trưởng nội
6
sinh và các lý thuyết về thuế, chúng tôi quyết định xây dựng hàm để ước lượng tác
động các biến thuế đến tăng trưởng gồm các biến: tốc độ tăng trưởng kinh tế (biến
phụ thuộc); các biến liên quan đến cấu trúc thuế và các biến kiểm soát (lạm phát,
vốn đầu tư vào khu vực tư nhân, vốn đầu tư vào khu vực nhà nước, tốc độ tăng dân
số). Chúng tôi đã quyết định chọn các biến kiểm soát, là vì, dựa vào một số lý
thuyết và nghiên cứu thực nghiệm đưa ra bằng chứng có mối quan hệ thuế với vốn
đầu tư và lạm phát.
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn:
Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính giai đoạn 2007 – 2012.
Tác giả dùng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng mô hình hồi quy để tìm
hiểu mối tương quan giữa thu thuế và tăng trưởng kinh tế. Trước tiên, tác giả xây
dựng mô hình nghiên cứu gồm các biến như tăng trưởng kinh tế và các biến số thu
thuế cùng các biến kinh tế tài chính khác . Tiếp theo, tác giả tiến hành chạy mô hình
hồi quy để ước lượng tương quan giữa thuế và tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó,
nghiên cứu này còn tiến hành các kiểm định cần thiết.
1.5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Tác giả mong muốn kết quả bài nghiên cứu này sẽ góp phần giúp cho các nhà
hoạch định chính sách có cái nhìn đúng và đầy đủ hơn về vai trò của thuế nói chung
cũng như từng loại thuế nói riêng đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Từ đó sẽ
ảnh hưởng tích cực đến quyết định cải cách thuế của đất nước trong thời gian tới để
hệ thống thuế ngày càng hoàn thiện hơn.
Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu góp phần bổ sung vào cơ sở lý thuyết về mối
quan hệ giữa thuế và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
1.6. Bố cục của đề tài nghiên cứu:
-
Phần đóng góp về thuế mà mỗi người phải nộp phải rõ ràng và không được
áp đặt một cách độc đoán.
-
Mọi thuế phải được thu đúng hạn và theo một thể thức thuận lợi nhất cho
người đóng thuế.
-
Mọi thứ thuế phải được tính toán như thế nào để cho nhân dân chỉ phải đóng
ít nhất và số tiền này chỉ ở trong công quỹ công cộng trong thời gian rất
ngắn.
Theo Adam Smith nếu thuế khoá nặng nề quá mức thì trật tự xã hội sẽ bị xáo
trộn và hoạt động của các lực lượng thị trường sẽ bị suy yếu. Do vậy, lý thuyết của
Adam Smith tập trung giải thích sự cần thiết của thuế khoá, tính công bằng và phân
chia gánh nặng thuế trong xã hội.
9
2.1.2. John Maynard Keynes:
John Maynard Keynes coi thuế (T) và chi tiêu tài chính của chính phủ (G) là
những công cụ cơ bản để can thiệp vào sự phát triển chu kỳ và vượt qua khủng
hoảng.
Nếu C là tiêu dùng của gia đình và S là tiết kiệm của họ và Y là GDP thì
Y = C + S + T (1)
đại biểu là Arthur Laffer, Jude Winniski, Norman Ture.
Trường phái trọng cung cho rằng, một trong những yếu tố quan trọng kích thích
cung là giảm thuế. Họ cho rằng: thuế suất biên tế cao là nguyên nhân gây nhiều căn
bệnh cho đất nước: tiết kiệm thấp, năng suất lao động thấp, lạm phát cao... Nên chủ
trương: (i) cắt giảm thuế; (ii) cắt giảm chi tiêu của chính phủ; (iii) giảm số lượng
tiền trong lưu thông với sự trợ giúp của các chính sách phù hợp trong lĩnh vực tín
dụng nhà nước và tiến hành định mức tốc độ phát hành tiền trong lưu thông.
-
Khi tỷ lệ thu thuế 0%, ngân sách nhà nước không thu được đồng nào.
-
Khi tỷ lệ thu thuế 100%, không có sản xuất kinh doanh, nên không thu được
thuế.
-
Tốt nhất thuế suất nên
Ta sẽ tiếp cận với vấn đề một cách lý thuyết và sau đó nhìn vào một vài ví dụ về
thuế trong thực tế, cố gắng hình dung ra nó sẽ đánh vào ai.
Từ các nguyên tắc, đây là một bức tranh cơ bản về thuế. Loại thuế đánh vào
người cung cấp sẽ làm đường cung tăng lên một lượng bằng với thuế trong khi thuế
đánh vào người tiêu dùng sẽ làm đường cầu giảm một lượng bằng thuế. Kết quả đều
giống nhau cho dù thuế có được thực thi như thế nào.
Hình 2. 2: Quan hệ cung cầu chịu tác động của thuế
P0 là giá thị trường gốc.
13
PPBC là giá người tiêu dùng trả sau thuế.
PRBS là giá người cung cấp nhận được sau thuế.
PPBC – PRBS = t, thuế trên mỗi đơn vị.
2.2. Lý thuyết về mô hình tăng trƣởng kinh tế
2.2.1 Mô hình tăng trƣởng ngoại sinh
Mô hình tăng trưởng đơn giản và nổi tiếng nhất được ứng dụng rộng rãi đó là
mô hình Harrod – Domar đưa ra phổ biến vào những năm 1940.
Mô hình Harrod - Domar giả định một hàm sản xuất có hệ số cố định, giúp đơn
giản hóa mô hình, nhưng đưa ra một sự kết hợp cứng nhắc giữa vốn và lao động để
sản xuất một mức sản lượng bất kì. Trong mô hình này, tăng trưởng có mối quan hệ
trực tiếp với tiết kiệm theo một hệ số bằng nghịch đảo của tỷ số vốn tăng thêm trên
sản lượng (ICOR).
Mô hình Harrod - Domar chú trọng vào vai trò của tiết kiệm, nhưng đồng thời
lại chú trọng thái quá vào tầm quan trọng của nó bằng cách ngụ ý rằng tiết kiệm (và
đầu tư) là điều kiện đủ để tăng trưởng bền vững, trong khi thực ra thì không đủ.
Đồng thời mô hình cũng không trực tiếp đề cập đến thay đổi năng suất. Ngoài ra,
giả định của mô hình về ICOR cố định làm cho mô hình trở nên kém chính xác hơn
trạng thái ổn định. Hạn chế thứ hai là, vì mô hình chỉ bao gồm một khu vực, nên nó
không làm rõ được vai trò của sự phân bổ vốn và lao động giữa các lĩnh vực sản
xuất khác nhau (ví dụ như nông nghiệp và công nghiệp) mà có thể ảnh hưởng quan
trọng đối với năng suất. Mọi nền kinh tế đều sản xuất một tập hợp các hàng hóa và
dịch vụ khác nhau, từng hàng hóa và dịch vụ như vậy đều sử dụng những cách kết
hợp khác nhau giữa lao động và vốn (và các loại công nghệ khác nhau), có năng
suất và tiềm năng tăng trưởng khác nhau. Cuối cùng, mô hình Solow xem các yếu tố
sau đây là đã được cho trước: tỷ lệ tiết kiệm, tăng trưởng cung lao động, trình độ kỹ
năng của lực lượng lao động và tỷ lệ thay đổi công nghệ. Những giả định này giúp
đơn giản hóa mô hình, nhưng cũng chính vì thế mà ta không hiểu được nhiều về các
yếu tố cơ bản xác định những thông số này và chúng thay đổi như thế nào trong quá
trình phát triển.
15
Hiện nay, các lý thuyết tăng trưởng thưởng chủ yếu dựa vào mô hình này để mở
rộng các biến liên quan đến tăng trưởng kinh tế.
2.2.2 Mô hình tăng trƣởng nội sinh
Những hạn chế của mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã thúc đẩy nhiều hướng
nghiên cứu mở rộng mô hình để phù hợp hơn với thực tế của các nước đang phát
triển và đã đưa đến sự ra đời của các mô hình tăng trưởng nội sinh. Gọi là mô hình
tăng trưởng nội sinh là bởi các mô hình tăng trưởng mới này cố gắng nội hóa sự
tăng trưởng, nghĩa là giải thích tăng trưởng bên trong một mô hình của nền kinh tế.
Mô hình tăng trưởng nội sinh ra đời với các tác giả điển hình như Romer và
Lucas. Các mô hình này nội sinh hóa các yếu tố góp phần vào tăng trưởng dài hạn.
Mô hình này nhấn mạnh các yếu tố như là “tác động lan tỏa” nhờ đó mà các quyết
định đầu tư của các doanh nghiệp về vốn hay nghiên cứu phát triển, hoặc đầu tư của
các cá nhân về nguồn vốn nhân lực có thể đưa đến những ảnh hưởng có lợi cho nền
kinh tế.
Mô hình tăng trưởng nội sinh cũng cho thấy có thể xây dựng được các mô hình
trong đó những thay đổi dài hạn trong chính sách của chính phủ (đánh thuế, cung
ứng cơ sở hạ tầng, bảo hộ sở hữu trí tuệ, cung cấp các dịch vụ công cộng liên quan
đến giáo dục, y tế…), có thể tạo ra sự thay đổi dài hạn trong tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế. Vì các chính sách này có thể tác động tới các hoạt động sáng chế, phát
minh và tích lũy vốn con người.
Mặc dù có những ý nghĩa và đóng góp chính sách to lớn, tuy nhiên, các mô hình
tăng trưởng nội sinh nói chung, và các mô hình về vốn con người nói riêng, còn
nhiều hạn chế.
Thứ nhất, về mặt thực tiễn, các nghiên cứu tính toán tăng trưởng đã cho thấy:
mô hình vốn con người đã đánh giá quá cao vai trò của vốn con người, theo nghĩa
có sự chệnh lệch về mức thu nhập giữa các quốc gia mà không thể giải thích bằng
vốn vật chất hay vốn con người, và rằng đầu tư vào giáo dục không đủ để thúc đẩy
tăng trưởng ở các nước nghèo.
17
Thứ hai, một số đề xuất chính sách của các mô hình về vốn con người còn
mang tính trực quan. Hai nghiên cứu sau đây đã cho thấy cần thận trọng với các kết
luận này.
Thứ ba, các mô hình tăng trưởng nội sinh vẫn phụ thuộc vào một số giả định tân
cổ điển truyền thống mà không phù hợp với các nền kinh tế đang phát triển. Chẳng
hạn, các mô hình tăng trưởng nội sinh còn bỏ qua những yếu tố như sự yếu kém về
cấu trúc hạ tầng, cấu trúc thể chế, các thị trường vốn và thị trường hàng hóa không
hoàn hảo… ở các nươc đang phát triển, mà đây cũng là những yếu tố kìm hãm tăng
trưởng GDP giống như tiết kiệm và tích lũy vốn con người thấp.
Tuy nhiên, dù sao thì việc xét đến nguồn vốn con người (và những yếu tố khác
như nghiên cứu và phát triển…ở các dạng mô hình tăng trưởng nội sinh khác) đã là
một bước tiến quan trọng, hướng tới việc trả lời các câu hỏi về sự chênh lệch thu
các loại thuế có thể không khuyến khích đầu tư (ki trong phương trình ở trên) bằng
việc đánh thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân và thuế tăng vốn. Thứ
hai, các loại thuế có thể ngăn cản lực lượng lao động tham gia công việc hoặc bóp
méo sự lựa chọn của các cá nhân về ngành học và kỹ năng. Thứ ba, thuế có thể ảnh
hưởng tiêu cực đến tăng trưởng μi suất bằng cách giảm nhẹ nghiên cứu và phát triển
(R & D) và các liên doanh đầu tư vốn vào các ngành công nghiệp "hi-tech".
Thứ tư, các loại thuế có thể ảnh hưởng đến năng suất biên của vốn bởi vì nhà
đầu tư sẽ có xu hướng chuyển từ những kênh bị đánh thuế cao sang những kênh có
mức thuế thấp hơn. Và cuối cùng, thuế có thể làm giảm năng suất biên của lao động
bằng cách ngăn cản người lao động làm việc trong các lĩnh vực có năng suất cao
nhưng chịu gánh nặng về thuế.
Alesina, Ardagna, Perotti và Schiantarelli (1999), bằng mô hình thực nghiệm,
họ đã chỉ ra làm cách nào mà sự gia tăng các loại thuế làm giảm lợi nhuận và do đó
làm giảm các khoản đầu tư. Điều thú vị hơn là họ đã đưa ra kết luận rằng, việc tăng
chi tiêu công có ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư hơn cả những sự thay đổi trong thuế
suất.
Cần lưu ý rằng mô hình tăng trưởng Solow truyền thống giả định rằng không có
thay đổi trong tỷ lệ tăng trưởng dài hạn. Trong một khoảng thời gian dài, thì cũng
chỉ có một tỷ lệ tăng trưởng cân bằng duy nhất. Tuy nhiên, họ lại phân biệt giữa tốc
độ tăng trưởng GDP và cấp độ GDP. Mặc dù tốc độ tăng trưởng trong chính nó là
không bị ảnh hưởng bởi chính sách thuế, nhưng các mức độ hay là trạng thái ổn