TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
CHU THỊ MỸ HẠNH
PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN
TRONG VIỆC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
LÀM QUEN VỚI CHỮ CÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học Mầm non
HÀ NỘI - 2016
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
CHU THỊ MỸ HẠNH
PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN
TRONG VIỆC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
LÀM QUEN VỚI CHỮ CÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học Mầm non
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Thu Hƣơng
chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Chu Thị Mỹ Hạnh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu .................................................................................... 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu........................................................................... 7
6. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................... 7
7. Cấu trúc đề tài ........................................................................................... 8
NỘI DUNG ....................................................................................................... 9
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƢƠNG PHÁP DẠY
HỌC TRỰC QUAN TRONG VIỆC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN LÀM
QUEN VỚI CHỮ CÁI ...................................................................................... 9
1.1. Quan niệm về phƣơng pháp trực quan và đồ dùng trực quan ................ 9
1.1.1. Khái niệm phương pháp trực quan ................................................. 9
1.1.2. Khái niệm đồ dùng trực quan ......................................................... 9
1.1.3. Vị trí và vai trò của đồ dùng trực quan trong trường mầm non ... 13
1.2. Các cơ sở khoa học .............................................................................. 15
1.2.1. Cơ sở tâm lí ................................................................................... 15
1.2.2. Cơ sở sinh lý học ........................................................................... 19
1.2.3. Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn .................................... 20
1.2.4. Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo lớn.......................................... 24
1.3. Thực trạng của việc cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái ở
3.7.2.Giáo án 2 ........................................................................................ 67
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 73
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay - thế giới ngày mai”. Trẻ em là niềm vui, niềm hạnh
phúc của mỗi gia đình, là tƣơng lai của mỗi dân tộc, vì vậy việc bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em không chỉ là trách nhiệm của gia đình mà là trách
nhiệm của toàn xã hội. Lúc sinh thời Bác Hồ đã dạy:
“Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người”
Sự nghiệp trồng ngƣời là sự nghiệp chung của toàn xã hội trong đó
ngành giáo dục và đào tạo giữ vai trò then chốt, chính vì vậy mà Đảng và nhà
nƣớc ta đã có những đƣờng lối chính sách ƣu tiên cho giáo dục phát triển với
tinh thần “Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em”.
Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII đã nêu mục tiêu của giáo dục là:
“Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” để đáp ứng nền
kinh tế của nƣớc nhà trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
nó giữ vai trò nền tảng, đặt nền móng đầu tiên trong việc giáo dục và phát
triển toàn diện nhân cách cho trẻ. Việc chăm sóc và bồi dƣỡng những thế hệ
măng non trở thành những ngƣời công dân tốt với đầy đủ nhân lực, trí tuệ để
góp phần xây dựng đất nƣớc là nhiệm vụ hàng đầu của ngành giáo dục và
toàn thể xã hội. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể
chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân
cách và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một đồng thời hình thành và phát triển ở trẻ
những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng,
những kỹ năng sống phù hợp cần thiết với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối
triển ở trẻ khả năng quan sát, so sánh và phát triển ngôn ngữ khi trẻ đã thuộc
và phát âm chuẩn các chữ cái thì trẻ sẽ dễ dàng làm quen với cách tô chữ để
chuẩn bị vào lớp 1. Thế nhƣng một mặt các cháu vẫn chỉ “Học bằng chơi,
2
chơi mà học”, mặt khác chữ cái vẫn thuộc phạm vi trừu tƣợng.
Chữ cái vốn rất gần gũi với trẻ em nhƣng ở những năm đầu tiên của cuộc
sống, những phản ứng của trẻ đối với chữ cái vẫn còn mơ hồ thậm chí có trẻ
vẫn còn thấy xa lạ. Khi trẻ bƣớc vào tuổi mẫu giáo, nhất là từ 4 tuổi trở lên thì
trẻ đã đƣợc làm quen, tiếp xúc với chữ viết, tuy nhiên lòng yêu thích của các
cháu còn ở nhiều mức độ khác nhau. Và việc trẻ hứng thú, ham thích say mê
với chữ cái nhƣ thế nào còn phụ thuộc vào hoàn cảnh sống, điều kiện gia
đình, giáo dục của ngƣời lớn xung quanh.
Cho trẻ làm quen với chủ cái ở trƣờng mầm non đƣợc diễn ra rất linh
hoạt theo hai hình thức chính: Hình thức trong giờ hoạt động chung và các
hoạt động khác. Việc lựa chọn hình thức cho trẻ làm quen chữ viết dựa trên
đặc điểm tình hình của trẻ do đó buộc ngƣời giáo viên phải lựa chọn hình thức
cho phù hợp với trẻ làm sao để trẻ dễ dàng tiếp thu.
Việc cho trẻ mầm non làm quen với chữ cái cũng là sự chuẩn bị cho trẻ
học đọc, học viết sau này. Vì những năng lực và kĩ năng cần chuẩn bị là:
- Năng lực tri giác cụ thể và trí nhớ tức thì.
- Năng lực định hƣớng trong không gian.
- Sự thành thục và vận động của bàn tay.
- Tính chủ động của sự chú ý…
Việc dạy trẻ làm quen với chữ cái có rất nhiều phƣơng pháp và hình thức
khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay cho thấy việc sử dụng các phƣơng
pháp trực quan trong giờ học để giúp trẻ làm quen với chữ cái đƣợc sử dụng
nhiều và đạt hiệu quả cao. Phƣơng pháp trực quan cần thay đổi sao cho phù
Việc cho trẻ mẫu giáo làm quen với chữ cái không phải là vấn đề mới
đƣợc đặt ra mà từ lâu các nhà khoa học đã đi vào nghiên cứu và tìm hiểu vấn
đề này.
Năm 1974, tác giả Hồng Giao trong cuốn “Tạp chí ngôn ngữ” đã tìm
hiểu một số đặc điểm của tiếng Việt, tác giả đƣa ra vài ý kiến về một số đặc
điểm của tiếng Việt, đồng thời nêu lên những nét khác biệt giữa tiếng Việt và
mất ngôn ngữ khác cùng loại (chủ yếu là Hán phổ thông), Nùng, Tày, Thái.
4
Đến năm 1996, tác giả Lý Toàn Thắng trong cuốn “Tạp chí ngôn ngữ”
khi nghiên cứu về chữ Quốc ngữ đã trình bày những chặng đƣờng hình thành
và hoàn tất chữ Quốc ngữ cùng với sự đánh giá, đóng góp của Alexandre
DeRhodes với sự “thành hình” của chữ Quốc ngữ.
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” Nxb
ĐHSP, năm 2004, tác giả Nguyễn Xuân khoa đã nghiên cứu rất kĩ sự phát
triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo. Trên cơ sở đánh giá chung về đặc điểm tâm
sinh lí của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học
với những bộ môn khác ông đã đƣa ra đƣợc một số phƣơng pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Cuốn sách là tài liệu bổ ích cho giáo viên và sinh
viên ngành mầm non cũng nhƣ các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này.
Trong “Tạp chí ngôn ngữ số 3-4/1984”, tác giả Nguyễn Xuân Khoa có
bài: Phát triển năng lực hoạt động lời nói trong việc dạy tiếng Việt ở nhà
trường đã nhận đƣợc sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu.
Tạp chí Giáo dục mầm non có nhiều bài viết về cách tổ chức, quản lí, tin
hoạt động, những sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên và các cán bộ quản lí
ngành mầm non. Ở đó cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề phát triển ngôn
ngữ cho trẻ. Trong tạp chí số 1/2006, tác giả Đinh Thị Uyên có bài dịch tìm
hiểu về chƣơng trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Hàn Quốc. Đây là
thực tiễn trong việc sử dụng và tự làm thiết bị dạy học, tạo ra khả năng tối ƣu
trong việc trình bày vấn đề một cách sâu sắc.
Tác giả Phan Trọng Ngọ, Dương Diệu Hoa, Lê Tràng Định, trong cuốn
“Vấn đề trực quan trong dạy học” viết về những lí luận của phƣơng pháp dạy
học trực quan.
Trên cơ sở kế thừa công trình nghiên cứu của cha ông đi trƣớc. Ngày
nay, phƣơng tiện dạy học trực quan cũng đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm và đi sâu vào các khía cạnh khác nhau. Nhƣng chƣa có ai nghiên cứu về
phƣơng pháp trực quan sử dụng trong việc cho trẻ làm quen với chữ cái. Vì
vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: Phương pháp dạy học trực quan trong việc
6
cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a, Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra các cách thức sử dụng đồ dùng
trực quan nhằm giúp trẻ làm quen với chữ cái một cách hiệu quả nhất.
b, Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khóa luận này chúng tôi đi giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của trẻ
mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi.
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phƣơng pháp dạy học trực quan trong việc
cho trẻ làm quen với chữ cái.
- Tìm hiểu cách sử dụng một số đồ dùng trực quan trong việc cho trẻ mẫu
giáo lớn (5 - 6 tuổi) làm quen với chữ cái.
- Thể nghiệm một số giáo án.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Phƣơng pháp dạy học trực quan trong việc cho trẻ mẫu giáo lớn làm
LÀM QUEN VỚI CHỮ CÁI
1.1. Quan niệm về phƣơng pháp dạy học trực quan và đồ dùng trực quan
1.1.1. Khái niệm phương pháp dạy học trực quan
1.1.1.1 Khái niệm
Phƣơng pháp dạy học trực quan là phƣơng pháp dạy học trong đó sử
dụng các vật thể kĩ thuật, các quá trình công nghệ, các phƣơng tiện gián tiếp
và các thao tác kĩ thuật công nghệ nhằm giúp học sinh trực tiếp cảm giác, tri
giác tài liệu mới trên cơ sở đó tạo ra các biểu tƣợng cụ thể trong học sinh, rèn
luyện kĩ năng, kĩ xảo [4;13].
Quá trình dạy học gồm nhiều hoạt động dạy và hoạt động học, cũng nhƣ
bất cứ quá trình sản xuất nào nó cũng cần những phƣơng tiện nhất định.
Trong giáo dục có nhiều phƣơng tiện dạy học khác nhau. Tuy vậy trong đề tài
này chúng tôi chỉ nghiên cứu phƣơng pháp trực quan nói chung, trong đó đi
sâu vào nghiên cứu việc sử dụng các đồ dùng theo quan điểm hiện đại. Từ đó
đƣa ra quan điểm sau:
Trực quan theo đúng nghĩa của nó không đơn giản chỉ là quan sát sự vật
bằng cách giải quyết mà là hành động tác động lên sự vật làm biến đổi các
dấu hiệu bề ngoài của chúng, làm cái bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có
tính quy luật của chúng đƣợc bộc lộ, đƣợc phơi bày một cách cảm tính mà
nếu không có những tác động đó thì chúng mãi mãi bí ẩn với con ngƣời.
Quan điểm về trực quan nhƣ vậy có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động dạy
học. Nó là cơ sở để xác định rõ hơn về bản chất và vai trò của đồ dùng trực
quan trong dạy học. Từ đó, phƣơng pháp dạy học trực quan cần hiểu một cách
đơn giản hơn để áp dụng ở trƣờng mầm non. Theo đó, chúng tôi cho rằng:
9
Phương pháp dạy học trực quan theo đúng nghĩa của nó không phải là
giáo viên giới thiệu trình bày các phương tiện trực quan nhằm cung cấp
Bao gồm phƣơng pháp trình bày trực quan và phƣơng pháp quan sát:
* Phương pháp trình bày trực quan:
Là phƣơng pháp sử dụng phƣơng tiện trực quan, phƣơng tiện kĩ thuật
dạy học trƣớc, trong và sau khi dạy bài mới, trong khi ôn tập, củng cố, hệ
thống hoá và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Phƣơng pháp trình bày trực
quan thể hiện dƣới hai hình thức minh hoạ và trình bày.
+ Minh hoạ thƣờng trƣng bày những đồ dùng trực quan có tính chất
minh hoạ nhƣ bản mẫu, biểu đồ, bức tranh, chân dung các nhà khoa học, hình
vẽ trên bảng…
+ Trình bày thƣờng gắn liền với việc trình bày những thí nghiệm,
những thiết bị kĩ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video.
Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiên thực khách
quan đƣợc lựa chọn cẩn thận về mặt sƣ phạm. Nó là cơ sở, điểm xuất phát
trong quá trình nhận thức - học tâp của học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết
và thực tiễn.
Thông qua sự trình bày thí nghiệm của giáo viên, học sinh không chỉ
lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họ học tập đƣợc những động tác mẫu
mực của giáo viên. Nhờ vậy, dễ dàng hình thành ở trẻ kĩ năng, kĩ xảo biểu
diễn thí nghiệm [4;14].
* Quan sát
- Quan sát là sự tri giác có chủ đích, có kế hoạch tạo khả năng theo
dõi tiến trình và sự biến đổi diễn ra trong đối tƣợng quan sát. Quan sát là
hình thức cảm tính tích cực nhằm thu thập những sự kiện, hình ảnh những
biểu tƣợng ban đầu của đối tƣợng về thế giới xung quanh. Quan sát gắn
chặt với tƣ duy.
- Quan sát đƣợc sử dụng khi giáo viên trình bày phƣơng tiên trực
quan, phƣơng tiện dạy học hoặc khi chính học sinh làm việc trong phòng
11
12
1.1.3. Khái niệm đồ dùng trực quan
Theo từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng, 2004 “Đồ dùng trực
quan là những vật dụng cụ thể hay ngôn ngữ cử chỉ làm cho học sinh có đƣợc
những hình ảnh cụ thể về những điều đƣợc học”.
Các đồ dùng trực quan gồm có: Lời nói, bảng, chữ viết, tranh, ảnh, bộ
chữ, mô hình, vật mẫu, dụng cụ và phim đèn chiếu, băng ghi âm, băng ghi
hình, đĩa mềm vi tính…
Tranh là những tác phẩm hội họa phản ánh hiện thực bằng đƣờng nét,
hình mảng, màu sắc ghi lại bằng khí cụ quang học (nhƣ máy ảnh) hình ảnh.
Ảnh là những tác phẩm nghệ thuật ghi lại hình ảnh các đối tƣợng vào
phim bằng máy ảnh sau đó in và phóng trên giấy ảnh.
Lô tô (thẻ chữ) gồm các chữ cái đƣợc in màu xanh, đỏ trên những tấm
giấy trắng cắt rời, dùng để hƣớng dẫn trẻ làm quen với chữ cái.
Mô hình là những dạng vật thể thu nhỏ hoặc phóng to nhằm mô phỏng
hình dạng, cấu tạo, hoạt động của vật gốc để nhằm nghiên cứu, học tập.
Vât thật là những vật mẫu có sẵn trong tự nhiên, trong đời sống xã hội
đƣợc dùng nguyên dạng (con cá, múi bƣởi…) hoặc đã đƣợc xử lí (mẫu ngâm,
mẫu ép khô…).
Băng ghi âm là loại làm bằng vật liệu từ tính, ghi lại âm thanh (lời nói,
âm nhạc, tiếng động) và phát lại nội dung đó qua máy ghi âm.
Băng ghi hình là loại băng mềm bằng chất dẻo có phủ một lớp mỏng
chất từ tính, ghi lại đồng thời hình ảnh và âm thanh của các sự vật, hiện
tƣợng trong tự nhiên, trong đời sống xã hội và phát lại nội dung đó qua
máy thu hình (tivi).
1.1.4. Vị trí và vai trò của đồ dùng trực quan trong trường mầm non
Đồ dùng trực quan là công cụ của giáo viên và trẻ. Chúng là những yếu
tố không thể thiếu trong quá trình dạy hoc. Chúng có tác dụng tích cực và có
khả năng chú ý, ghi nhớ có chủ định.
14
Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học góp phần làm hợp lí hóa quá
trình dạy học của giáo viên vì nhiều hoạt động học đã đƣợc bản thân đồ dùng
trực quan thực hiện. Vì vậy, sử dụng đồ dùng trực quan giáo viên phải giảm
nhẹ việc trình bày, giảng giải mà tập trung vào hƣớng dẫn, hỗ trợ quá trình
hoạt động của trẻ.
Dạy học trực quan hợp lí hóa quá trình dạy học của giáo viên thì đồ dùng
trực quan còn hợp lí hóa quá trình học tập của học sinh. Trẻ đƣợc quan sát
tranh ảnh, vật thật, mô hình… sẽ giúp trẻ phát triển tai nghe, phát triển ngôn
ngữ một cách tốt nhất.
1.2. Các cơ sở khoa học
1.2.1. Cơ sở tâm lí
1.2.1.1. Đặc điểm hoạt động vui chơi
* Chủ đề và nội dung chơi được mở rộng
Về chủ đề chơi, số lƣợng chủ đề đã tăng lên xuất hiện các chủ đề mới.
Nội dung chơi cũng đa dạng và phong phú hơn, trẻ không chỉ tái tạo
những mối quan hệ bên ngoài chức năng xã hội của ngƣời lớn mà còn tái tạo
tình cảm giữa ngƣời với ngƣời.
Sở dĩ nhƣ vậy là do vào tuổi mẫu giáo lớn, các nhóm chơi ổn định và bền
vững trên cơ sở của các nhóm chơi từ lớp nhỡ chuyển lên, dần dần xuất hiện
nhiều trò chơi tập thể có thể kéo dài hàng tuần hàng tháng, số lƣợng vai chơi
đông kéo theo việc chủ động và xuất hiện chủ đề chơi mới làm cho nội dung
chơi trở nên đa dạng và phong phú.
* Xuất hiện trò chơi có luật
Đây là một bƣớc phát triển mới trong hoạt động chơi của trẻ. Luật chơi
là những quy định về phƣơng thức hành động ứng xử thể hiện tình cảm của
qua một quá trình phát triển ý thức bản ngã của trẻ mới đƣợc xác định rõ ràng.
Khi bƣớc vào tuổi mẫu giáo, trẻ chƣa hiểu biết gì mấy về bản thân và những
phẩm chất của bản thân mình. Nhƣng đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ mới hiểu
đƣợc mình là ngƣời nhƣ thế nào, có những phẩm chất gì, những ngƣời xung
16
quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình lại có hành động này hay hành
động khác…. Ý thức bản ngã hay sự tự ý thức đƣợc thể hiện rõ nhất trong sự
tự đánh giá về thành công hay thất bại của mình, về những ƣu điểm hay
khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa. Tự ý thức
của trẻ lứa tuổi mầm non đƣợc thể hiện ở những điểm sau:
Trẻ đã biết tự đánh giá về hành vi, phẩm chất, cử chỉ của ngƣời khác.
Tuy nhiên, sự đánh giá đó còn phụ thuộc nhiều vào tình cảm của trẻ đối với
ngƣời đƣợc đánh giá.
Trẻ bắt đầu nhận thức đƣợc giới tính của mình, biết mình là trai hay gái.
Trẻ bắt đầu biết thực hiện những hành vi phù hợp với giới tính của mình,
đồng thời trẻ cũng bắt đầu nhận xét, đánh giá theo khía cạnh giới tính.
Trẻ bắt đầu nhận biết, lắng nghe ý kiến của ngƣời khác về bản thân
mình, từ đó tiếp tục tiếp thu những chuẩn mực hành vi và coi đó là thƣớc đo
để đánh giá bản thân mình.
Trẻ bắt đầu so sánh mình với ngƣời khác, từ đó để hiểu bản thân mình,
tạo ra điều kiện thuận lợi để trẻ noi gƣơng ngƣời tốt, việc tốt.
Ý thức bản ngã đƣợc xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh
hành vi của mình cho phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội,
từ đó mà hành vi của trẻ mang tính xã hội, tính nhân cách đậm nét hơn trƣớc.
* Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện các
hành động một cách chủ tâm hơn, nhờ đó các quá trình tâm lí mang tính chủ
định rõ rệt.
đứa trẻ trở nên có chủ tâm hơn. Hành động chơi ở đấy có tính mục đích rõ
ràng: một là hành động phải khéo léo để không vi phạm luật chơi; hai là cần
phải đạt tới kết quả cao nhất. Nhờ loại trò chơi này mà hoạt động tâm lí bên
trong đƣợc biến đổi một cách rõ nét, từ những quá trình tâm lí không chủ định
chuyển sang những quá trình tâm lí có chủ định nhƣ tri giác có chủ định, chú
ghi có chủ định, ghi nhớ có chủ định…
Trong sự phát triển các hành động tâm lí của trẻ mẫu giáo lơn, có thể
18
thấy đƣợc sự liên kết giữa ba mặt: thứ nhất là sự phát triển tính mục đích của
hành động, thứ hai là sự xác lập quan hệ giữa mục đích của hành động với
động cơ và thứ ba là tăng vai trò điều chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện
các hành động.
Có thể coi sự phát triển về mặt ý chí là một trong những biểu hiện rõ
nhất của ý thức, khiến cho nhân cách của trẻ đƣợc khẳng định.
1.2.2. Cơ sở sinh lý học
Ở trẻ mẫu giáo lớn sự phát triển diễn ra chậm hơn so với giai đoạn trƣớc.
- Về số lƣợng: Chiều cao trung bình tăng từ 4 - 6 cm đạt 105,5 - 125,5
cm, về cân nặng tăng khoảng 1 -2,5 kg đạt khoảng 15,7 kg. Có sự thay đổi rõ
rệt về mặt chất lƣợng.
- Hệ thần kinh: Trọng lƣợng của não tăng nhanh từ 1110 g - 1350 g, gần
bằng trọng lƣợng não của ngƣời lớn. Cƣờng độ và tính linh hoạt của các quá
trình thần kinh tăng lên rõ rệt. Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối tƣợng
nhất định trong thời gian 20 - 25 phút. Đồng thời, ở lứa tuổi này vai trò của hệ
thống tín hiệu ngày càng tăng. Tƣ duy bằng từ ngày càng tăng, ngôn ngữ bên
trong xuất hiện. Chức năng khái quát của từ đã có bƣớc nhảy vọt gần nhƣ
ngƣời lớn ở chỗ khái quát đƣợc thực hiện theo hoạt động với đồ vật. Vì thế, tƣ
duy bằng hành động giữ vai trò quan trọng trong hệ thần kinh cao cấp của trẻ.