Rèn luyện phát âm cho trẻ 4 5 tuổi thông qua trò chơi học tập - Pdf 41

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

=====

NGUYỄN THỊ ĐÀO LIÊN

RÈN LUYỆN PHÁT ÂM CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI
THÔNG QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

HÀ NỘI, 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

=====

NGUYỄN THỊ ĐÀO LIÊN

RÈN LUYỆN PHÁT ÂM CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI
THÔNG QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

Người hướng dẫn khoa học:
ThS. VŨ THỊ TUYẾT

4. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 5
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ........................................................ 5
6. Phương pháp nghiên cứu .................................................................. 5
7. Cấu trúc khóa luận............................................................................ 6
NỘI DUNG .................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ..................................................................... 7
1.1. Cơ sở tâm lí học của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi................................... 7
1.2. Cơ sở sinh lí của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi. ....................................... 9
1.2.1. Đặc điểm hệ thần kinh ................................................................ 9
1.2.1. Đặc điểm hệ vận động .............................................................. 10
1.2.3. Đặc điểm hệ tuần hoàn ............................................................. 11
12.4. Đặc điểm hệ hô hấp ................................................................... 11
1.2.5. Đặc điểm bộ máy phát âm ........................................................ 12
1.3. Cơ sở ngôn ngữ học của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi. ......................... 13
1.3.1. Đặc điểm phát âm của trẻ mầm non ......................................... 13
1.3.2. Đặc điểm phát âm của trẻ 4 -5 tuổi ........................................... 17
1.4. Trò chơi học tập của trẻ mẫu giáo................................................ 17
1.4.1. Trò chơi .................................................................................... 17
1.4.2. Trò chơi học tập........................................................................ 20
1.4.3. Vai trò của hoạt động vui chơi trong sự phát triển và giáo dục trẻ
mẫu giáo....................................................................................................... 21


1.4.4. Vai trò của trò chơi học tập trong việc rèn luyện phát âm cho trẻ
mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo nhỡ nói riêng. ...................................... 23
CHƯƠNG 2. XÂY DỰNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM RÈN
LUYỆN PHÁT ÂM CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI.................................................. 26
2.1. Mục đích, nội dung, nguyên tắc xây dựng trò chơi học tập cho trẻ
mẫu giáo 4 - 5 tuổi. ...................................................................................... 26
2.1.1. Mục đích .................................................................................. 26

nhằm đưa đất nước ta ngày càng phát triển hơn. Vấn đề này mang tính thời
đại và cấp bách với ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non.
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Vì vậy việc rèn luyện phát âm đối với trẻ bậc học mầm non là vô cùng
quan trọng và cần thiết. Nó tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự hình thành
nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Nếu như không tiến hành luyện
phát âm cho trẻ ở lứa tuổi mầm non thì sang giai đoạn tiếp theo trẻ sẽ khó
phát âm một cách chính xác để giao tiếp trong mọi lĩnh vực xã hội.
Mặt khác, vấn đề xây dựng con người mới là một trong những mục tiêu
quan trọng hàng đầu trong thời kì xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu giáo dục mầm
non là nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ. Phương châm của ngành
học mầm non là “học bằng chơi, chơi bằng học”. Trò chơi là phương tiện
quan trọng nhất để phát triển toàn diện cho trẻ về mọi mặt. Chơi là nhu cầu tự
nhiên của trẻ, trẻ cần chơi như cần ăn cơm, nước uống, không khí để thở. Qua
trò chơi giúp trẻ lĩnh hội được những tri thức khoa học một cách nhẹ nhàng,
thoải mái giúp trẻ phát triển các tố chất vận động. Đồng thời việc hướng dẫn
trẻ chơi các trò chơi một cách có mục đích, có nội dung phong phú theo yêu

1


cầu và nhiệm vụ giáo dục đã tác động đến trẻ mọi mặt: ý thức tình cảm, ý chí,
hành vi của trẻ.
Trong thực tiễn ngày nay, việc rèn luyện phát âm đối với trẻ 4 – 5 tuổi
đang được hình thành. Ở lứa tuổi này trẻ chưa có thái độ tốt trong việc ứng xử
phù hợp với xã hội, việc nhận thức của trẻ còn nhiều hạn chế, kỹ năng phát
âm còn yếu. Tuy việc luyện phát âm cho trẻ mẫu giáo đã được chú ý nhưng
giáo viên mầm non còn nhiều lúng túng trong việc tổ chức hướng dẫn trẻ; tiết
học còn khô cứng, thiếu linh hoạt và còn gò bó. Việc tổ chức trò chơi học tập
cho trẻ còn nhiều hạn chế, chưa đạt kết quả cao; các trò chơi học tập còn thiếu

nhà trẻ, mẫu giáo ở nước ta. Trong cuốn giáo trình này tác giả Nguyễn Xuân
Khoa đã đưa ra nhiệm vụ, nội dung của việc dạy trẻ nghe và phát âm đúng
cho trẻ. Tác giả đề cập đến một số lỗi phát âm mà trẻ thường mắc phải. Các
lỗi phát âm đó được trình bày lần lượt theo cấu trúc của âm tiết: lỗi về thanh
điệu, âm chính, âm đầu, âm đệm, âm cuối. Trong mỗi lỗi tác giả đều đề cập
đến nguyên nhân mắc lỗi ở trẻ, qua đó Nguyễn Xuân Khoa cũng đưa ra một
số trò chơi nhằm rèn luyện cách phát âm cho trẻ.
“Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi” của tác giả
Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức (2005), Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội tìm hiểu các vấn đề luyện phát âm cho trẻ ở các lứa tuổi.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa với “Tiếng việt 1, 2” đã cung cấp những
kiến thức cơ bản về tiếng việt giúp giáo viên trong việc phát triển ngôn ngữ
tiếng mẹ đẻ cho trẻ.
Đứng trên phương diện một nhà giáo dục học, một nhà tâm lí học, tác
giả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non” (2005)
đã đề cập tới sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn, từng lứa tuổi.
Trong cuốn “Dạy lời nói cho trẻ trước lớp một ” của Phan Thiều (1997)
và cuốn “Dạy phát âm và làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo” của Tạ Ngọc
Thanh (1980), là những công trình nghiên cứu về nội dung, phương pháp dạy

3


Tiếng Việt ở nhà trường. Tuy nhiên nội dung các bài nghiên cứu mới chỉ
dừng lại ở sự giải thích, vận dụng các tri thức ngôn ngữ học, các thành tựu
ngôn ngữ về Tiếng việt vào nhà trường.
Trong tạp chí Giáo dục mầm non số 2/2013 có bài Mục tiêu phát triển
lĩnh vực ngôn ngữ trong chương trình Giáo dục Mầm non New Zealand ”
Nguyễn Thị Minh Thảo vụ Giáo dục mầm non, dịch từ chương trình Giáo dục
Mầm non New Zealand. Bài viết đã đưa ra 4 mục tiêu để phát triển ngôn ngữ

thức được tầm quan trọng này, tôi mạnh dạn chọn và đi sâu nghiên cứu đề tài:
“Rèn luyện phát âm cho trẻ 4 – 5 tuổi thông qua trò chơi học tập”
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc sử dụng một số trò chơi học tập để rèn luyện phát âm
cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những cơ sở lí luận và vai trò của việc rèn luyện phát âm
cho trẻ 4 - 5 tuổi
- Xây dựng một số trò chơi học tập nhằm rèn luyện phát âm cho trẻ 4 5 tuổi.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm sử dụng trò chơi học tập để rèn luyện
cách phát âm cho trẻ 4 - 5 tuổi
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu: việc rèn luyện phát âm cho trẻ mầm non và
trò chơi học tập
5.2. Phạm vi nghiên cứu: trẻ 4 - 5 tuổi trường Mầm non Tích Sơn –
Thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

5


- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
7. Cấu trúc khóa luận
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận

Trẻ 4 - 5 tuổi là bước ngoặt quan trọng giữa hai độ tuổi, sự ghi nhớ và
nhớ lại có chủ định bắt đầu phát triển, dần dần trẻ biết cách ghi nhớ đọc đi
đọc lại và phân chia các vấn đề cần ghi nhớ. Tư duy của trẻ phát triển trên cơ
sở kinh nghiệm cảm tính, trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu,
nhưng do biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện

7


bên ngoài vào bình diện bên trong. Cùng với sự hoàn thiện về các hoạt động
trẻ cũng dần hoàn thiện các hoạt động khác như: toán, vẽ, nặn, kể chuyện, xây
dựng, đi chơi… hứng thú nhận thức của trẻ tăng lên rõ rệt. Trong quá trình
giao tiếp với người lớn bằng ngôn ngữ các hình thức tư duy cũng được hoàn
thiện dần khi hiểu biết của trẻ càng mở rộng. Sự phát triển tư duy gắn chặt với
phát triển ngôn ngữ và sự tang vốn từ. Ở trẻ các quá trình khái quát hóa và
trừu tượng hóa cần thiết để hình thành các khái niệm xuất hiện và phát triển.
Tình cảm và trí tuệ bắt đầu xuất hiện rõ rệt ở lứa tuổi này. Trong lứa
tuổi ấu nhi cũng lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cả các mặt trong
hoạt động tâm lí của đứa trẻ, nhưng đặc biệt ở độ tuổi 4 - 5 tuổi thì đời sống
tình cảm có của trẻ có một bước chuyển biến mạnh mẽ, vừa phong phú vừa
sâu sắc hơn so với lứa tuổi trước. Tính tò mò, ham hiểu biết, ngạc nhiên trước
cái không mong đợi, cái chưa biết và cái lạ xuất hiện, vui khi thỏa mãn nhu
cầu, không hài lòng khi gặp khó khăn. Tình cảm nảy sinh trong những mối
quan hệ giữa người với người. Tình cảm nghĩa vụ này được nảy sinh và phát
triển ở trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi, nó không tách rời khỏi sự phát triển nhân cách
của trẻ, có vai trò lớn trong hành vi và gắn chặt với tình cảm đạo đức. Nhưng
tất cả tình cảm nói trên đều chưa được vững chắc và cần phải được củng cố.
Các tình cảm đó còn bộc lộ một cách ngây thơ và còn biểu hiện dưới các hình
thức tương đối sơ đẳng. Đây cũng là một biểu hiện quan trọng chứng tỏ trẻ 4 5 tuổi đã xuất hiện tâm lí sẵn sàng trước khi đi học và học.
Ý chí của trẻ mẫu giáo nhỡ được hình thành gắn liền với sự phát triển

khác với môi trường trong bụng mẹ. Cơ thể trẻ tác động qua lại với môi
trường xung quanh thông qua các cơ quan cảm giác và hệ thần kinh. Hệ thần
kinh điều khiển sự hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, phối hợp và điều
hòa sự hoạt động của các cơ quan làm cho cơ thể thích nghi được sự thay đổi
thường xuyên của môi trường và có thể cải tạo nó. Nhờ có hệ thần kinh mà

9


con người có tư duy và có tâm lí. Hệ thần kinh chính là cơ quan điều khiển cơ
thể như là một khối thống nhất.
Khi ra đời bộ não của trẻ chưa phát triển đầy đủ để thực hiện chức năng
của mình mặc dù cấu tạo và hình thái không khác của người lớn, trọng lượng
lúc sơ sinh là 370 - 392 gam, khi được 6 tháng trọng lượng tăng gấp đôi, 3
tuổi tăng gấp 3, đến 9 tuổi thì nặng đến 1300 gam.
Hệ thần kinh của trẻ 4 - 5 tuổi chưa chuẩn bị đầy đủ để thực hiện các
chức năng của mình. Sự phát triển các đường dẫn truyền diễn ra rất mạnh và
tăng lên theo từng lứa tuổi. Vì vậy trẻ mẫu giáo phát triển hệ thần kinh hơn trẻ
ở độ tuổi nhà trẻ. Chức năng của tất cả các cơ quan trong đại vỏ não, hoạt
động thần kinh cao cấp được phát triển cao hơn. Chức năng điều khiển của vỏ
bán cầu đại não tăng hơn so với trung khu dưới vỏ, do đó ta thấy hành vi của
trẻ có tính tổ chức hơn trước. Trong mối quan hệ chức năng thì hệ thần kinh
mang tính không ổn định nên các quá trình tâm lí diễn ra chưa đầy đủ. Trẻ 4 5 tuổi, quá trình ức chế tích cực dần dần phát triển, trẻ đã có khả năng phân
tích, đánh giá, hình thành kĩ năng - kĩ xảo vận động và phân biệt được các
hiện tượng xung quanh. Hệ thần kinh có một tác động chi phối và điều tiết đối
với vận động cơ thể cải thiện tính không cân bằng của quá trình thần kinh. Cần
chú ý tới sự luân phiên giữa động và tĩnh trong quá trình vận động của trẻ.
1.2.2. Đặc điểm hệ vận động
Hệ vận động của trẻ bao gồm hệ xương, hệ cơ và hệ khớp. Quá trình
phát triển của hệ cơ xương diễn ra nhanh, xương vẫn còn tính chất đàn hồi.

quá sức kéo dài liên tục. Tần số hô hấp của trẻ ở lứa tuổi này thường là 26 -28
lần/phút. Đến 4 – 5 tuổi thể tích khí lưu thông của trẻ là 215ml, thể tích phút ở
trẻ 4 - 5 tuổi là 5.800ml. Sinh lượng phổi của trẻ là 700ml đến 800ml.

11


1.2.5. Đặc điểm bộ máy phát âm
Phát âm của trẻ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của bộ máy phát âm cũng
như khả năng điều khiển hoạt động của bộ máy này. Do đó đặc điểm của bộ
máy phát âm ở trẻ em cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát âm
của trẻ.
Các bộ phận chính của bộ máy phát âm bao gồm:
1.2.5.1. Bộ phận cung cấp làn hơi
Bộ phận cung cấp làn hơi bao gồm hai lá phổi, dưới sự tác động của cơ
hoành, cơ sườn, cơ ngực, cơ bụng và các mô. Từ sơ sinh đến 8 tuổi, phổi chủ
yếu phát triển bằng tăng số lượng phế nang. Đặc điểm phổi của trẻ: nhiều
mạch máu và bạch mạch, nhiều cơ trơn, ít tổ chức đàn hồi, đặc biệt là quanh
các phế nang và thành bạch mạch. Các cơ hô hấp chưa phát triển hoàn chỉnh
nên lồng ngực di động kém. Do những đặc điểm trên nên trẻ càng nhỏ khả
năng phát âm càng kém, chủ yếu là những tiếng ê a chưa rõ ràng, ngắn gọn.
1.2.5.2. Bộ phận phát thanh
Bộ phận phát thanh (chỉ phát ra âm thanh chứ không phát ra lời, ra
tiếng) gồm hai thanh đới nằm trong thanh quản. Thanh quản của trẻ có hình
phếu mở rộng ở phía trên. Ở trẻ bú mẹ, thanh quản nằm ở vị trí cao hơn hai
đốt sống so với người lớn. Thanh quản phát triển từ từ nhưng đến tuổi dậy thì
thì phát triển mạnh. Dưới 6 - 7 tuổi, thanh môn hẹp, thanh đới ngắn, chính vì
vậy giọng nói của trẻ em cao hơn của người lớn. Từ 12 tuổi, thanh đới con
trai dài hơn thanh đới con gái nên giọng nói con trai trầm hơn.
1.2.5.3. Bộ phận truyền tăng âm

phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan phát âm của trẻ.
Phát âm của trẻ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của bộ máy phát âm, ở
tuổi mẫu giáo lớn những điều kiện này đã đạt được mức tương đối ổn định
cho nên trẻ đã có thể phát âm được hầu hết các âm vị. Tuy nhiên một số trẻ
vẫn còn mắc một số lỗi về phát âm.

13


1.3.1.1. Lỗi về thanh điệu
Trong số các thanh điệu tiếng Việt, thanh hỏi và thanh ngã là hai thanh
có cấu tạo phức tạp. Việc thể hiện thanh ngã với âm điệu gãy ở giữa là cách
phát âm khó đối với trẻ. Trẻ thay thế bằng cách phát âm đơn giản hơn, tức là
với âm điệu không gãy ở giữa, vì vậy dễ đồng nhất với âm điệu của thanh sắc.
Ví dụ: phát âm “đĩa” thành “đía”; “mỡ” thành “mớ”
Sự chuyển đổi hướng đi của đường nét âm điệu ở thanh hỏi không diễn
ra đột ngột như ở thanh ngã, quá trình phát âm kéo dài hơn trở thành khó đối
với trẻ vốn có hơi thở ngắn.
Khi phát âm, trẻ thay thế âm điệu gãy bằng âm điệu không gãy, điều
này làm cho thanh hỏi ở trẻ gần như đồng nhất với thanh nặng.
Trẻ phát âm “hỏi” thành “họi” hoặc phát âm “hổ” thành “hộ”. Đến hết
tuổi mẫu giáo lớn lỗi sai về hai thanh này sẽ được khắc phục hầu như hoàn
toàn.
Ngoài ra trẻ cũng bị phát âm sai khi chuyển thanh ngã thành thanh hỏi:
Ví dụ: mũ ─> mủ; đĩa ─> đỉa.
1.3.1.2. Lỗi về âm đầu
- Trẻ thường hay nói lẫn lộn l, n, l <─> n
Ví dụ: “con lợn” ─> “con nợn”;
“cái nồi” ─> “cái lồi”
“nón lá” <─> “lón ná”

- Trẻ phát âm o ─> oo: “con” ─> “coon”
- Trẻ phát âm e ─> ee (e dẹt): “mẹ” ─> “mẹe”
- Trẻ phát âm a ─> ă: “xanh” ─> “xăn”
Trẻ mắc lỗi phát âm nguyên âm đôi:
Ví dụ:
- Trẻ phát âm /ươ/─> /ie/: “con huơu” ─> “con hiêu”
- Trẻ phát âm /uô/ ─> /ô/: “quả chuối” ─> “quả chối”

15


- Trẻ phát âm /uô/ ─> /u/: “quả chuối” ─> “quả chúi”
- Trẻ phát âm /yê/ ─> /ê/: “cái thuyền” ─> “cái thuền”
Trẻ phát âm sai là do tập quán của địa phương hoặc do nghe chưa chính
xác, các âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi làm cho cấu tạo của âm tiết
phức tạp hơn, phát âm khó khăn hơn.
Ví dụ: Khi dạy trẻ phát âm N phải nhắc trẻ để lưỡi giữa hai hàm răng và
thẳng lưỡi khi phát âm. Với âm L thì nhắc trẻ cách cong lưỡi hay với âm R
dạy trẻ cách rung lưỡi khi phát âm để có âm chính xác.
Nhờ việc phát âm đúng của trẻ khi giao tiếp mà ý kiến của trẻ được
người khác hiểu và đáp lại, đồng thời đáp lại ý kiến của người khác một cách
đúng đắn nhất.
1.3.1.5. Lỗi về âm cuối
Trẻ phát âm sai:
ch ─> t: “phích” ─> “phứt”
“cặp sách” ─> “cặp sắt”
nh ─> n: “vòng quanh” ─> “vòng quăn”
“cây xanh” ─> “cây xăn”
n ─> ng: “con kiến” ─> “con kiếng”
m ─> n: “cánh buồm” ─> “cánh buồn”

vị có cấu trúc phức tạp dễ mắc lỗi, xong nếu kiên trì tập luyện thì hầu hết trẻ
em có khả năng định vị các âm vị của tiếng mẹ đẻ (trừ các trẻ có khuyết tật về
cơ quan phát âm hoặc cơ quan thính giác)
1.4. Trò chơi học tập của trẻ mẫu giáo
1.4.1. Trò chơi
1.4.1.1. Khái niệm
Đối với trẻ mầm non, trò chơi là học tập, là lao động, là hình thức giáo
dục chính đáng. Trò chơi hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của trẻ lứa tuổi mẫu

17


giáo, đáp ứng niềm vui sướng, tính tích cực, nhu cầu vận động làm sinh động
thêm óc tưởng tượng, tính tò mò ham hiểu biết của trẻ. Vậy trò chơi là gì?
Các nhà nghiên cứu, nhà tâm lí học của các nhà giáo dục mầm non
cũng đã đưa ra rất nhiều khái niệm khác nhau về trò chơi.
Theo tác giả Hoàng Phê trong cuốn Từ điển Tiếng việt (2009) – Nxb
Đà Nẵng: “Trò chơi là hoạt động bày ra để vui chơi”
Với người lớn, trò chơi là giải trí, là thư giãn, giúp cho đầu óc bớt căng
thẳng sau những giờ làm việc mệt nhọc. Với trẻ em, ngoài sự giải trí, trò chơi
còn là một nhu cầu thiết yếu cho sự phát triển đức, trí, thể, mĩ của con người.
Trò chơi giúp trẻ em rèn luyện và phát triển toàn mĩ trong các giác quan
chính, làm cho trẻ khéo léo hơn, trí tưởng tượng phong phú hơn. Trò chơi còn
giúp trẻ biết quan sát và phản ứng nhanh, biết tôn trọng kỉ luật, biết tự chủ, từ
đó nảy nở tình đồng đội, đoàn kết thương yêu nhau. Trò chơi được xem như
là một hình thức tổ chức cuộc sống cho trẻ, nó được xem như một phương
tiện giáo dục trẻ có hiệu lực nhất, vì qua đó nó ảnh hưởng đến sự phát triển
toàn diện của trẻ, nó còn là phương tiện nhận thức thế giới của trẻ em.
Trong phương pháp giáo dục hiện đại, trò chơi là một huấn luyện quan
trọng. Nhà tâm lí học Kunkel người Anh nói: “Trò chơi là một phương tiện để

+ Trò chơi học tập
+ Trò chơi vận động
+ Trò chơi dân gian…
Trò chơi là phương tiện phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, là
phương tiện để trẻ học làm người.
Mỗi loại trò chơi đều có những đặc điểm nhất định và có tác dụng nhất
định đối với sự hình thành và phát triển tâm lí, nhân cách của trẻ. Nhìn chung
các loại trò chơi đều hướng đến sự phát triển của các em. Tuy nhiên mỗi loại
trò chơi đều có thế mạnh riêng. Vì vậy, giáo viên phải đảm bảo tổ chức luân
phiên các trò chơi để trẻ có thể phát triển một cách toàn diện nhất.

19


1.4.2. Trò chơi học tập
1.4.2.1. Khái niệm
Trò chơi học tập là trò chơi có luật và nội dung định trước là đó là trò
chơi có sự nhận thức hướng đến sự mở rộng chính xác hóa, hệ thống hóa,
biểu tượng của trẻ về thế giới xung quanh hướng đến sự phát triển năng lực
trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết cho trẻ, trong đó nội dung học tập được
kết hợp với các hình thức chơi.
Trò chơi học tập được xây dựng dựa vào nhiều yếu tố, nó có nguồn gốc
trong nền văn hóa dân gian mang những đặc điểm chúng của trò chơi trẻ em.
Bên cạnh đó, trò chơi học tập được giải quyết thông qua hành động
chơi, các hành động và mối quan hệ của người chơi được chỉ đạo bởi luật trò
chơi và nội dung chơi giúp trẻ trẻ nắm bắt được cách chơi và vị trí tổ chức
thực hiện trò chơi, trò chơi học tập mang tính tự lập và tự điều khiển.
* Trò chơi học tập phân làm bốn nhóm theo tính chất của trò chơi:
- Trò chơi học tập đối với đồ vật và tranh in được tiến hành với đồ vật,
đồ chơi khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status