Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

---------------

ĐỖ THỊ PHƯƠNG ANH

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ
ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã ngành:

60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. TRẦN NGỌC THƠ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

---------------

ĐỖ THỊ PHƯƠNG ANH

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ

ADF: Kiểm định ADF (Augmented Dickey – Fuller mở rộng của kiểm định DF)

-

AIC: Tiêu chuẩn thông tin AIC (Akaike Information Criteria)

-

CPI: Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index)

-

CTCK: Công ty chứng khoán

-

Eviews 8: Phần mềm thống kê (Econometric Views)

-

EX: Tỷ giá bình quân liên ngân hàng (Inter Bank average exchange rate)

-

GSO: Tổng cục thống kê Việt Nam (General Statistics Office)

-

IMF: Hàm phản ứng đẩy (Impulse Response Function)


-

NHNN: Ngân hàng Nhà nước

-

NHTM: Ngân hàng Thương mại

-

TTCK: Thị trường chứng khoán

-

UBCK: Ủy ban chứng khoán

-

VN: Việt Nam

-

VND: đồng Việt Nam


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tóm tắt các nhân tố kinh tế vĩ mô sử dụng trong nghiên cứu ........................ 27
Bảng 3.2: Biến phụ thuộc trong mô hình ........................................................................ 27
Bảng 3.3: Biến độc lập trong mô hình ............................................................................ 27
Bảng 3.4: Thống kê mô tả các biến ................................................................................ 29


Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu ......................................................................... 3

1.3

Đối tượng nghiên cứu......................................................................................... 4

1.4

Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 4

1.5

Kết cấu đề tài ...................................................................................................... 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY .......................................... 6
2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán ................... 6
2.1.1 Lạm phát .......................................................................................................... 6
2.1.2 Tỷ giá hối đoái ................................................................................................. 7
2.1.3 Lãi suất ............................................................................................................. 8
2.1.4 Cung tiền .......................................................................................................... 9
2.1.5 Chỉ số sản xuất công nghiệp .......................................................................... 10
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và thị
trường chứng khoán. ................................................................................................... 11
2.3 Nhận xét chung về các kết quả nghiên cứu trước đây .......................................... 24
DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................... 26
3.1 Dữ liệu nghiên cứu................................................................................................ 26
3.2 Các biến trong mô hình ......................................................................................... 27
3.1.1 Biến phụ thuộc ............................................................................................... 27
3.1.2 Biến độc lập ................................................................................................... 27


1

TÓM TẮT
Bài nghiên cứu cung cấp những bằng chứng về ảnh hưởng của các nhân tố
kinh tế vĩ mô bao gồm lạm phát, lãi suất liên ngân hàng, tỷ giá hối đoái, cung tiền
mở rộng và chỉ số sản xuất công nghiệp đến chỉ số giá chứng khoán tại Sở giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu của các biến được lấy từ khi
thị trường chứng khoán bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 đến tháng
12/2014, gồm 174 quan sát hàng tháng cho mỗi biến. Kiểm định tính dừng ADF,
kiểm tra tự tương quan, lựa chọn độ trễ tối ưu và kiểm định đồng liên kết, kiểm
định nhân quả Granger và mô hình vector tự hồi quy Var, phân rã phương sai và
hàm phản ứng đẩy được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả thực nghiệm cho
thấy tồn tại mối quan hệ cân bằng trong ngắn dài hạn giữa tỷ suất sinh lợi của
chứng khoán và yếu tố kinh tế vĩ mô, trong ngắn hạn có mối quan hệ nhân
quả giữa các biến nghiên cứu cụ thể: Hàm phản ứng xung cho thấy VNINDEX
có tương quan cùng chiều với cung tiền, trái lại CPI, chỉ số sản xuất công nghiệp,
tỷ giá hối đoái, lãi suất liên ngân hàng lại có tác động ngược chiều đến chỉ số giá
chứng khoán. Phân rã phương sai cho biết phương sai của VNINDEX chịu ảnh
hưởng giảm dần của các yếu tố chỉ số sản xuất công nghiệp, tỷ giá hối đoái, lãi
suất liên ngân hàng, lạm phát và cung tiền mở rộng. Những kết quả này rất có ý
nghĩa đối với các nhà hoạch định chính sách vĩ mô để có thể thiết kế chính sách
nhằm khuyến khích hơn dòng vốn thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam
phát triển ổn định và bền vững.


2

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1


3

Hiện nay nền kinh tế Việt Nam cũng đang đối diện với nhiều khó khăn
thách thức với cán cân thương mại nghiêng về nhập siêu, dự trữ ngoại hối chưa
đủ mạnh, hiệu quả sử dụng dòng vốn FDI còn thấp… Như vậy, những lo ngại
của nhà đầu tư về môi trường vĩ mô hoạt động chứng khoán là hoàn toàn có sơ sở
và câu hỏi đặt ra là có mối liên hệ nào giữa nền kinh tế vĩ mô và thị trường chứng
khoán hay không?
Chính vì thế, việc “Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị
trường chứng khoán Việt Nam” là vấn đề có ý nghĩa khoa học, thực tiễn, và được
tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn.
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ sự tác động của các nhân tố
kinh tế vĩ mô lên chỉ số VNINDEX, kiểm định mối quan hệ giữa các biến kinh tế
vĩ mô đến VNINDEX trong ngắn hạn và dài hạn. Các kinh tế biến vĩ mô gồm: tỷ
lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất liên ngân hàng, mức cung tiền mở rộng, chỉ
số sản xuất công nghiệp tác động đến TTCK Việt Nam giai đoạn 7/2000 đến
12/2014, được đo lường thông qua chỉ số VNINDEX. Từ việc phân tích, kiểm
định, tác giả sẽ giải thích, lượng hóa mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô
và chỉ số VNINDEX trong ngắn hạn và dài hạn, khuyến nghị một số giải pháp về
kinh tế vĩ mô, nhằm góp phần thúc đẩy TTCK Việt Nam phát triển ổn định và
bền vững, đồng thời giúp nhà đầu tư cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước giảm
thiểu được rủi ro khi đầu tư chứng khoán.
Song hành với việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tập hợp nhân tố kinh tế
vĩ mô tác động đến thị trường chứng khoán, luận văn sẽ làm rõ nhân tố nào tác
động chủ yếu, nhân tố nào tác động thứ yếu đến biến động của thị trường.
Tập hợp nhân tố được quan sát bao gồm: chỉ số VNINDEX (biến phụ
thuộc), lạm phát, lãi suất liên ngân hàng, tỷ giá hối đoái, cung tiền mở rộng, sản
lượng công nghiệp (biến độc lập).

Đề tài ứng dụng mô hình vector tự hồi quy Var, phân tích phân rã phương
sai và hàm phản ứng xung để xem xét mức độ, chiều hướng, thời lượng tác động
của các yếu tố vĩ mô như lạm phát, cung tiền mở rộng, tỷ giá hối đoái, lãi suất
liên ngân hàng và chỉ số sản xuất công nghiệp đến chỉ số giá chứng khoán tại Sở
giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE).


5

1.5 Kết cấu đề tài
Bài nghiên cứu có kết cấu gồm 5 chương
Chương 1: Giới thiệu tóm tắt về đề tài bao gồm mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu,
đối tượng và phạm vi, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc của luận văn.
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây của các tác giả trên thế giới làm
cơ sở về mặt lý thuyết cho việc thực hiện đề tài.
Chương 3: Phương thức thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích dữ liệu và trình bày các kết quả nghiên cứu để từ đó đưa ra
hàm ý chính sách có liên quan.
Chương 5: Tổng hợp các kết quả đạt được và gợi mở những phương hướng phát
triển đề tài trong tương lai.


6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán
2.1.1 Lạm phát

Lạm phát tác động đến giá cổ phiếu thông qua hai giác độ, làm tăng giá cổ
phiếu hoặc làm giảm giá cổ phiếu.

Anari và Kolari (2011) nghiên cứu tại 6 quốc gia Mỹ, Canada, Vương
quốc Anh, Pháp, Đức, Nhật trong khoảng thời gian từ 1953-1998, nghiên cứu của
tác giả tập trung lượng hóa mối quan hệ giữa lạm phát và giá chứng khoán bằng
việc ứng dụng phân rã phương sai Chokeski và mô hình Var, kết quả chứng minh
được trong dài hạn, giá chứng khoán co giãn nhiều so với giá hàng hóa, đạt giá
trị từ 1.04 - 1.65 ở cả 6 quốc gia. Trong dài hạn giá chứng khoán ở cả 6 quốc gia
tương quan dương với lạm phát.
Hosseini (2011) nghiên cứu tại thị trường Trung Quốc và Ấn Độ trong
khoảng thời gian từ 1/1999 đến 1/2009) với phương pháp đồng liên kết và
VECM đi đến kết luận trong dài hạn và ngắn hạn tại mỗi thị trường như sau: Tại
Trung Quốc: lạm phát tương quan cùng chiều với chỉ số Shanghai Stock
Exchange Index với hệ số 0,139. Ảnh hưởng của lạm phát đối với chỉ số giá
chứng khoán có độ trễ 1 tháng Tại Ấn Độ là mối quan hệ cùng chiều với chỉ số
Bombay Stock Exchange Index với hệ số 0,32.
2.1.2 Tỷ giá hối đoái

Mukherjee và Naka (1995) chứng minh việc tồn tại mối quan hệ đồng
biến giữa tỷ giá hối đoái với giá cổ phiếu, ông cho rằng khi đồng Yên Nhật giảm
giá so với đồng đô la Mỹ, sản phẩm hàng hóa của Nhật Bản sẽ rẻ hơn một cách
tương đối so với sản phẩm của Mỹ. Nếu cầu đối với hàng hóa co giãn nhiều, khi
giá cả giảm xuống khiến lượng cầu xuất khẩu tăng lên làm cho dòng tiền chảy
vào trong nước đến với các công ty Nhật Bản. Chiều ngược lại sẽ xảy ra khi đồng
Yên Nhật được đánh giá cao so với Đô La Mỹ. Sử dụng phương pháp Johansen,
kiểm định đồng liên kết và phương pháp VECM, tác giả cho thấy thị trường
chứng khoán Tokyo có tương quan dương đối với tỷ giá hối đoái với hệ số tương
quan là 0.39. Khi tỷ giá tăng 1% thì chỉ số TSE sẽ tăng lên tương ứng là 0.39%
và ngược lại. Bên cạnh đó có rất nhiều nghiên cứu đã kết luận về mối quan hệ
giữa tỷ giá và thị trường chứng khoán.





9

quan hệ giá chứng khoán và lãi suất ở Nhật Bản trong dài hạn cũng có quan hệ
ngược chiều.
Ở chiều ngược lại, Tác giả Kuwornu (2012) nghiên cứu tại Ghana phát
hiện ra tỷ suất sinh lợi của chỉ số GSE All Share Index tương quan dương với lãi
suất tín phiếu chính phủ trong dài hạn cũng như ngắn hạn.
Goswami và Jung (1997) nghiên cứu ở Hàn Quốc phát hiện ra lãi suất
ngắn hạn có quan hệ đồng biến trong khi lãi suất dài hạn có quan hệ nghịch biến
với giá chứng khoán.
2.1.4 Cung tiền
Mukherjee và Naka (1995) thực nghiệm tại thị trường Nhật Bản từ năm
1971-1990 phát hiện: lạm phát có quan hệ dương với tỷ lệ tăng trưởng cung tiền
mở rộng, sự tăng lên của cung tiền mở rộng có thể dẫn tới tăng tỷ lệ lãi suất chiết
khấu gây ra hiệu ứng âm với giá chứng khoán trong mô hình định giá, tuy nhiên
những gói kích thích kinh tế có khả năng tạo ra nhiều thu nhập cho các công ty
làm tăng dòng tiền và từ đó gia tăng giá chứng khoán. Cung tiền mở rộng tăng
lên 1% sẽ khiến giá chứng khoán tăng 3.79%, thông qua việc tích tụ thu nhập của
công ty lấn át những hiệu ứng âm nảy sinh khi tăng cung tiền mở rộng làm gia
tăng lạm phát.
Hosseini (2011) nghiên cứu tại thị trường tại Trung Quốc và Ấn Độ đi đến
kết luận trong ngắn hạn chỉ số giá chứng khoán Trung Quốc tương quan dương
nhưng không đáng kể với cung tiền mở rộng M2 với độ lớn 0,701.
Trong dài hạn, mối tương quan dương này là do việc bơm các quỹ công
vào thị trường dẫn đến thu nhập của công ty tăng lên, bên cạnh đó là do chính
sách tiền tệ của quốc gia này có tính thuận chu kỳ.
Tại Ấn Độ, chỉ số giá chứng khoán tương quan ngược chiều với cung tiền
mở rộng M2 với độ lớn là (-22,53) là do chính sách tiền tệ có hiệu ứng nghịch

Tại Ấn Độ, Hosseini (2011) khẳng định rằng chỉ số giá chứng khoán
tương quan cùng chiều với sản xuất công nghiệp với độ lớn là (52,51) là biến số
kinh tế vĩ mô có tác động lớn nhất đến biến động giá chứng khoán. Nguyên nhân
là do việc tăng lên trong hoạt động kinh tế thực làm tăng cổ tức. Tăng trưởng
trong sản lượng thực sẽ làm tăng dòng tiền tương lai dự kiến và gia tăng lợi
nhuận công ty. Tăng hoạt động kinh tế thực có tác dụng làm cải thiện dòng tiền.


11

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ
mô và thị trường chứng khoán.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân tố vĩ mô và thị trường chứng khoán
được thực hiện bởi nhiều học giả với sự đa dạng về phạm vi, dữ liệu và phương
pháp nghiên cứu.
Geske và Roll (1983) khi nghiên cứu về ảnh hưởng từ chính sách tiền tệ,
chính sách tài khóa đến tỉ suất sinh lợi chứng khoán và tỷ lệ lạm phát ở Mỹ đã
phát hiện ra lợi nhuận cổ phiếu có tương quan ngược chiều với lạm phát dự kiến
cũng như lạm phát ngoài dự kiến. Tác giả khuyến nghị rằng, nếu mở rộng tiền
bằng các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thì có thể gây ra lạm phát dự
kiến. Dòng tiền tăng lên tạo ra cú sốc trong sản lượng thực tế, dòng tiền này bắt
nguồn do vay mượn từ Quỹ dự trữ liên bang hoặc vay Kho bạc Mỹ phải trả lại
bằng thuế doanh thu và hiện tượng thâm hụt có thể xảy ra. Các nhà đầu tư trái
phiếu có lý trí sẽ điều chỉnh lại giá mua bán chứng khoán của mình ngay lập tức.
Do vậy tăng lãi suất theo lạm phát là một điều nguy hiểm vì chỉ cần một thay đổi
nhỏ trong lãi suất có thể gây ra những phản ứng đảo ngược vô cùng lớn trong giá
chứng khoán.
Nghiên cứu của Chen, Roll, Ross (1986): “Economic forces and the stock
market”, xem xét mối quan hệ giữa các biến trạng thái trong nền kinh tế tác động
đến tỷ suất sinh lợi của chỉ số NYSE trên thị trường chứng khoán New York

phẩm (chỉ số sản xuất công nghiệp) đại diện cho dòng tiền kỳ vọng thì giải thích
43% phương sai lợi nhuận. Kết hợp năng lực của các biến nghiên cứu giải thích
được 58% phương sai lợi nhuận hàng năm của chứng khoán là thông tin hữu ích
chứng minh tính hiệu quả của thị trường.
Lee (1992) với cách tiếp cận đa biến Vector tự hồi quy Var đã khám phá
mối quan hệ nhân quả và tương tác hữu cơ giữa tỷ suất sinh lợi của tài sản, hoạt
động kinh tế và lạm phát trong thời kỳ hậu chiến ở Hoa Kỳ. Kết quả chủ yếu như
sau: thứ nhất là tỉ suất sinh lợi cổ phiếu có tác động nhân quả Granger và giúp
giải thích hoạt động kinh tế thực theo hướng đồng biến, thứ hai là tỉ suất sinh lợi
của cổ phiếu giải thích không đáng kể sự thay đổi của lạm phát mặc dù lãi suất
thì giải thích một phần đáng kể trong biến đổi của lạm phát và thứ ba lạm phát ít
giải thích cho hoạt động kinh tế thực. Những phát hiện này phù hợp với nghiên
cứu của Fama (1981), Geske và Roll (1983).


13

Nghiên cứu của Mukherjee và Naka (1995) với tựa đề, “Dynamic
relations between macroeconomic variables and the Japanese stock market: an
application of a vector error correction model”, đã phân tích vai trò của sáu
nhân tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán tại Nhật Bản cho giai đoạn tháng
1/1971 đến 12/1990, với việc áp dụng mô hình véc tơ tự hồi quy VECM theo
phương pháp Johansen (1991) và so sánh với phương pháp VAR. Nghiên cứu sử
dụng phân tích đồng liên kết Johansen và vector hiệu chỉnh sai số VECM mang
lại một khung lý thuyết thích hợp hơn so với việc sử dụng mô hình véc tơ tự hồi
quy (VAR) vì tác giả cho rằng VECM có khả năng dự báo tốt hơn so với các mô
hình vector tự hồi quy, điều này cũng được khẳng định một lần nữa trong nghiên
cứu của Darrat (1990).
Giả định:
Sáu biến vĩ mô được chọn đều ảnh hưởng đến dòng tiền hay tỉ suất sinh

(1983) và Chen, Roll, Ross (1986) cũng ghi nhận quan hệ ngược chiều giữa lạm
phát và lợi nhuận vốn cổ phần.
Giả thiết H3:
Có thể tương quan dương và có thể tương quan âm giữa cung tiền với tỉ
suất sinh lợi chứng khoán. Ảnh hưởng của cung tiền đến giá chứng khoán có thể
theo 2 chiều hướng, vì tỷ lệ lạm phát thì cùng chiều với tỷ lệ tăng cung tiền
(nghiên cứu Fama, 1982), một sự tăng lên của cung tiền có thể dẫn tới tăng lên
của tỷ lệ lãi suất chiết khấu dẫn đến tương quan âm đối với giá chứng khoán. Tuy
nhiên trong trường hợp tăng cung tiền bởi các gói kích thích kinh tế thì tương
quan cung tiền đối với giá chứng khoán có thể là cùng chiều bởi vì tăng cung tiền
gây ra hiệu ứng tăng thu nhập các công ty, kết quả là sẽ tăng dòng tiền tương lai
và tăng giá chứng khoán.
Giả thiết H4:
Mức độ của hoạt động kinh tế thực (đại diện bởi Chỉ số sản xuất công
nghiệp), thông qua hiệu ứng lên dòng tiền tương lai kỳ vọng sẽ ảnh hưởng cùng
chiều đối với giá chứng khoán. Fama (1990), Chen, Roll & Ross (1986), Geske
và Roll (1983), cùng nhiều tác giả khác đề xuất tương quan dương giữa giá
chứng khoán và hoạt động kinh tế thực.
Giả thiết H5:
Sự thay đổi trong ngắn hạn và dài hạn của lãi suất trái phiếu chính phủ
được kỳ vọng cùng hướng với lãi suất chiết khấu thông qua tỷ lệ lãi suất phi rủi


15

ro danh nghĩa. Vì vậy giả thiết mối quan hệ giữa lãi suất này và giá chứng khoán
là ngược chiều.
Dữ liệu:
Được thu thập từ thống kê tài chính quốc tế International Financial
Statistics (IFS code) công bố bởi quỹ tiền tệ quốc tế, từ tháng 1/1971 đến

Hồi quy giá trị ΔYt trong phương trình VECM đối với độ trễ khác nhau
của ΔYt và ΔYt

– k

và ước lượng vector đồng liên kết từ tương quan

Canonical của tập hợp phần dư từ phương trình hồi qui.


16

-

Xác định thứ tự đồng liên kết.
Kết quả của nghiên cứu:
Thống kê mô tả
Các biến được thống kê mô tả ở nguyên phân và sai phân bậc nhất. Qua

bảng sai phân bậc 1 tác giả thấy rằng chỉ số TSE tăng trưởng ấn tượng với 1%
mỗi tháng, đồng yên tăng giá so với đồng đô la Mỹ (-0,4%) , cung tiền, tỷ lệ lạm
phát và chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng ở mức tương đối thấp (tương
ứng 0,7%; 0,4% và 0,3%), tỷ lệ lãi suất trái phiếu dài hạn và lãi suất bảo chứng
duy trì tăng trưởng ở mức độ thấp (trung bình đều bằng 0%).
Kiểm tra tính dừng bằng cả hai phương pháp
Kiểm tra tính dừng bằng cả hai phương pháp Dickey and Fuller (1981) và
Philips – Perron (1988) đều cho kết quả các biến đều liên kết.
Kiểm định đồng liên kết (Johansen, 1991)
Áp dụng kiểm định Q test của Box-Pierce- Ljung, cho thấy không có tự
tương quan phần dư ở chiều dài độ trễ tháng thứ 12.

Kết luận với giả thiết H3: Phương trình đồng liên kết cũng cho thấy mối
quan hệ giữa TSE và cung tiền là đồng biến, kết quả này hàm ý rằng mức cung
tiền có hiệu ứng dương đến giá chứng khoán thông qua hiệu ứng tích tụ thu nhập
doanh nghiệp sẽ lấn át hiệu ứng tiêu cực đến từ lạm phát. Mức cung tiền mở rộng
làm gia tăng lãi suất trái phiếu, kéo theo giá chứng khoán gia tăng, đồng thời
mức cung tiền mở rộng cũng làm tăng tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên tổng hòa cả hai
hiệu ứng trên, tác động làm tăng giá chứng khoán của mức cung tiền mở rộng
vẫn lấn át phần tác động của nó đến việc giảm giá chứng khoán.
Kết luận với giả thiết H4: Tương quan dương được tìm thấy trong quan
hệ của TSE và chỉ số sản xuất công nghiệp, phù hợp với báo cáo từ thị trường
Mỹ. Chỉ số sản xuất công nghiệp phản ánh sản lượng thực tế của nền kinh tế, do
vậy khi chỉ số sản xuất công nghiệp cao thúc đẩy dòng tiền đi vào, giá chứng
khoán sẽ tăng.
Kết luận với giả thiết H5: Lãi suất bảo chứng tương quan dương với giá
chứng khoán. Lãi suất bảo chứng phản ánh chi phí nhà đầu tư trả cho môi giới về
khoản tiền môi giới vay hộ nhà đầu tư tại ngân hàng, vì vậy nếu lãi suất bảo
chứng gia tăng thì giá chứng khoán gia tăng. Lãi suất bảo chứng thường được sử


18

dụng làm thước đo sự phát triển của một thị trường chứng khoán, thị trường nào
càng phát triển thị lãi suất bảo chứng càng được áp dụng phổ biến và được tính
toán bằng tỷ lệ phần trăm trên khoản vay hộ.
Lãi suất trái phiếu chính phủ dài hạn thay thế tốt hơn so với lãi suất ngắn
hạn cho toàn bộ yếu tố phi rủi ro danh nghĩa từ đó nó đóng vai trò như tỷ lệ chiết
khấu trong mô hình định giá chứng khoán cơ bản. Do vậy lãi suất trái phiếu
chính phủ dài hạn tương quan ngược chiều với tỉ suất sinh lợi của chứng
khoán.
Như vậy với việc áp dụng phương pháp VECM của Johansen, tác giả đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status