Phương pháp dạy học trực quan trong việc cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái - Pdf 41

Header Page 1 of 16.

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

CHU THỊ MỸ HẠNH

PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN
TRONG VIỆC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
LÀM QUEN VỚI CHỮ CÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học Mầm non

HÀ NỘI - 2016
Footer Page 1 of 16.


Header Page 2 of 16.

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

CHU THỊ MỸ HẠNH

PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN
TRONG VIỆC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
LÀM QUEN VỚI CHỮ CÁI


Chu Thị Mỹ Hạnh

Footer Page 3 of 16.


Header Page 4 of 16.

LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận
đƣợc sự hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo - TS. Nguyễn Thu Hương.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Đề tài này
chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2016
Sinh viên

Chu Thị Mỹ Hạnh

Footer Page 4 of 16.


Header Page 5 of 16.

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu .................................................................................... 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu........................................................................... 7

2.1.3 Sử dụng trực quan đúng chỗ .......................................................... 29
2.1.4 Sử dụng trực quan đúng mức độ .................................................... 29
2.2. Các cách sử dụng đồ dùng trực quan trong việc cho trẻ làm quen với
chữ cái ......................................................................................................... 30
2.2.1. Tranh, ảnh ..................................................................................... 30
2.2.2. Bộ chữ (thẻ chữ cái) ...................................................................... 36
2.2.3. Vật mẫu ......................................................................................... 39
2.2.4. Băng ghi âm, máy ghi âm............................................................. 42
2.2.5. Băng ghi hình, đĩa ghi hình ........................................................... 43
2.2.6. Sử dụng giáo án điện tử power point, violet, flash,e-learning… .. 44
2.2.7. Sử dụng trò chơi trong việc cho trẻ làm quen với chữ cái. ......... 47
Chƣơng 3. THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM ........................................................... 50
3.1. Mục đích thể nghiệm............................................................................ 50
3.2. Địa điểm thể nghiệm ............................................................................ 50
3.3. Phƣơng pháp thể nghiệm...................................................................... 50
3.4. Giáo án thể nghiệm .............................................................................. 51
3.5.Tiêu chí đánh giá ................................................................................... 62
3.6.Kết quả thể nghiệm ............................................................................... 63
3.7.Đánh giá kết quả thử nghiệm ................................................................ 65
3.7.1.Giáo án 1 ........................................................................................ 65
3.7.2.Giáo án 2 ........................................................................................ 67
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 73

Footer Page 6 of 16.


Header Page 7 of 16.

MỞ ĐẦU

Header Page 8 of 16.

theo. Những gì mà trẻ đạt đƣợc ở độ tuổi này có ý nghĩa quyết định đến sự
hình thành và phát triển toàn diện của trẻ.
Mặt khác, giáo dục mầm non hƣớng sự phát triển của trẻ vào việc hình
thành những tiền đề nhân cách mới, chuẩn bị cho trẻ khả năng học tập tốt. Ví
nhƣ ngƣời trồng cây ở giai đoạn đầu là phải tạo ra những mầm non bụ bẫm,
mềm mại để cho cây sau này phát triển đƣợc khỏe khoắn, chứ không phải tạo
ra những mầm còi cọc. Từ đó có thể thấy việc giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non là
vô cùng quan trọng, những kiến thức mà nhà sƣ phạm đƣa đến cho trẻ dù chỉ là
những kiến thức, tri thức sơ đẳng, đơn giản song vô cùng cần thiết trong cuộc
đời của mỗi đứa trẻ sau này. Chính vì vậy ngƣời giáo viên mầm non không chỉ
cần có sự hiểu biết đầy đủ về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mà còn phải nắm
vững mục tiêu, nội dung, đặc biệt là phƣơng pháp giáo dục trẻ ở từng độ tuổi.
Hơn thế nữa trong chƣơng trình giáo dục mầm non mới hiện nay ngƣời giáo
viên cần phải tích cực đổi mới phƣơng pháp dạy học và dạy cho trẻ làm quen
với 29 chữ cái để chuẩn bị tâm thế cho trẻ sẵn sàng bƣớc vào lớp một.
Dạy trẻ làm quen với chữ cái là một trong những nội dung quan trọng
cho trẻ mẫu giáo lớn. Vì qua môn học đó giúp trẻ thông minh nhanh nhẹn
hoạt bát có tính kiên trì, có sự năng động sáng tạo, làm quen chữ cái phát triển
tƣ duy, từ tƣ duy trực quan hành động đến tƣ duy trực quan trừu tƣợng và đến
phát triển tƣ duy lôgic, qua làm quen với chữ cái ngôn ngữ của trẻ dần dần
đƣợc hoàn thiện, trẻ đƣợc dùng từ chính xác hơn, trẻ đƣợc khám phá, tìm tòi,
lĩnh hội tích luỹ cho mình một số kỹ năng, cách ngồi đúng tƣ thế, cách cầm
bút khi tô, cách dở vở, cách so sánh phân tích…
Đối với trẻ mẫu giáo lớn, làm quen với chữ cái giúp trẻ bƣớc đầu nhận
biết đƣợc các chữ cái và phát âm chuẩn các chữ cái trong các từ trọn vẹn, phát
triển ở trẻ khả năng quan sát, so sánh và phát triển ngôn ngữ khi trẻ đã thuộc
và phát âm chuẩn các chữ cái thì trẻ sẽ dễ dàng làm quen với cách tô chữ để
chuẩn bị vào lớp 1. Thế nhƣng một mặt các cháu vẫn chỉ “Học bằng chơi,

hợp với nội dung và mục tiêu đào tạo. Ngoài ra, chúng ta có thể nhận thấy rằng
phƣơng pháp trực quan đƣợc sử dụng trong việc cho trẻ làm quen với chữ cái là
rất quan trọng và hợp lí, vì nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ.
Bên cạnh đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ: Đồ dùng trực quan

3
Footer Page 9 of 16.


Header Page 10 of 16.

chƣa đƣợc đồng bộ, giáo viên không đủ thời gian để chuẩn bị và khai thác hết
giá trị của phƣơng pháp trực quan, do yếu tố thuộc về quan niệm phƣơng
pháp trực quan có hay không cũng không ảnh hƣởng đến chất lƣợng dạy
học… nên trong thực tế phƣơng pháp trực quan chƣa đƣợc khai thác triệt để
trong việc cho trẻ làm quen với chữ cái.
Bản thân là một sinh viên ngành giáo dục mầm non chúng tôi đã nhận
thấy đƣợc hoạt động làm quen chữ cái có ý nghĩa và có tác dụng to lớn trong
giáo dục nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện nhƣ: trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ.
Mặt khác, hoạt động làm quen chữ cái còn giúp trẻ nhận biết thế giới xung
quanh, giúp trẻ giao tiếp với mọi ngƣời. Có thể nói hoạt động làm quen chữ
cái là tiền đề vững chắc giúp trẻ tự tin bƣớc vào trƣờng phổ thông. Nhƣ vậy
để giúp trẻ hứng thú trong việc đọc, tích cực luyện phát âm, vận dụng sự hiểu
biết và khả năng của mình vào hoạt động hằng ngày, chúng tôi luôn suy nghĩ:
Làm thế nào để trẻ hứng thú với các giờ học chữ cái, để trẻ mau nhớ mặt chữ
cái và góp phần đạt mục tiêu của các môn học?
Từ đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Phương pháp dạy học trực
quan trong việc cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái” làm đề tài khóa
luận của mình. Chúng tôi thấy rằng đây là đề tài thiết thực trong hoạt động
dạy và học cho trẻ mẫu giáo lớn nói riêng và ở bậc học mầm non nói chung.

trường đã nhận đƣợc sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu.
Tạp chí Giáo dục mầm non có nhiều bài viết về cách tổ chức, quản lí, tin
hoạt động, những sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên và các cán bộ quản lí
ngành mầm non. Ở đó cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề phát triển ngôn
ngữ cho trẻ. Trong tạp chí số 1/2006, tác giả Đinh Thị Uyên có bài dịch tìm
hiểu về chƣơng trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Hàn Quốc. Đây là
một góc nhìn mở cho nền giáo dục Việt Nam hiện nay.
Năm 2006, tác giả Đinh Hồng Thái có biên soạn giáo trình “Phương
pháp phát triển lời nói cho trẻ em”, Nxb ĐHSP, dựa trên những thành tựu
nghiên cứu của các nhà sƣ phạm Nga trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho
trẻ em đã nói rất rõ về các phƣơng pháp phát triển vốn từ cho trẻ.
Trên cơ sở khẳng định vai trò quan trọng của ngôn ngữ đối với sự phát
triển của trẻ em, các nhà khoa học nhƣ: Iadenco V.I, Chikhêva E.I, Xookhin
Ph.A… đã nghiên cứu đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 0 - 6 tuổi. Các
tác giả đã phân tích quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ làm các giai đoạn: 0 -

5
Footer Page 11 of 16.


Header Page 12 of 16.

1 tuổi, 1 - 2 tuổi, 2 - 3 tuổi, 3 - 6 tuổi, ở mỗi giai đoạn các tác giả đã nghiên cứu
cụ thể đặc điểm về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng và lời nói mạch lạc của trẻ. Các
kết quả nghiên cứu trên là cơ sở khoa học vô cùng quan trọng để các nhà giáo
dục xây dựng mục tiêu, nội dung và phƣơng pháp, biện pháp để phát triển ngôn
ngữ cho trẻ cũng nhƣ bƣớc đầu cho trẻ làm quen với chữ cái tiếng Việt.
Phƣơng pháp trực quan đƣợc sử dụng từ kiểu dạy học sơ khai nhất của
Xôcrat và Khổng Tử để con ngƣời nhận thức đƣợc thế giới. Bởi lẽ theo họ thế
giới hòa tan trong ta và con ngƣời có thể nhận thức đƣợc chính bản thân họ.

trực quan nhằm giúp trẻ làm quen với chữ cái một cách hiệu quả nhất.
b, Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khóa luận này chúng tôi đi giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của trẻ
mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi.
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phƣơng pháp dạy học trực quan trong việc
cho trẻ làm quen với chữ cái.
- Tìm hiểu cách sử dụng một số đồ dùng trực quan trong việc cho trẻ mẫu
giáo lớn (5 - 6 tuổi) làm quen với chữ cái.
- Thể nghiệm một số giáo án.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Phƣơng pháp dạy học trực quan trong việc cho trẻ mẫu giáo lớn làm
quen với chữ cái.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu
- Phƣơng pháp tổng hợp
- Phƣơng pháp thống kê toán học
- Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phƣơng pháp thực nghiệm
6. Giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu thành công khóa luận này sẽ góp phần giúp cho các giáo
viên mầm non biết sử dụng hợp lí đồ dùng trực quan đạt hiệu quả cao trong
việc cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) làm quen với chữ cái.

7
Footer Page 13 of 16.


Header Page 14 of 16.


này chúng tôi chỉ nghiên cứu phƣơng pháp trực quan nói chung, trong đó đi
sâu vào nghiên cứu việc sử dụng các đồ dùng theo quan điểm hiện đại. Từ đó
đƣa ra quan điểm sau:
Trực quan theo đúng nghĩa của nó không đơn giản chỉ là quan sát sự vật
bằng cách giải quyết mà là hành động tác động lên sự vật làm biến đổi các
dấu hiệu bề ngoài của chúng, làm cái bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có
tính quy luật của chúng đƣợc bộc lộ, đƣợc phơi bày một cách cảm tính mà
nếu không có những tác động đó thì chúng mãi mãi bí ẩn với con ngƣời.
Quan điểm về trực quan nhƣ vậy có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động dạy
học. Nó là cơ sở để xác định rõ hơn về bản chất và vai trò của đồ dùng trực
quan trong dạy học. Từ đó, phƣơng pháp dạy học trực quan cần hiểu một cách
đơn giản hơn để áp dụng ở trƣờng mầm non. Theo đó, chúng tôi cho rằng:

9
Footer Page 15 of 16.


Header Page 16 of 16.

Phương pháp dạy học trực quan theo đúng nghĩa của nó không phải là
giáo viên giới thiệu trình bày các phương tiện trực quan nhằm cung cấp
cho người học những hình ảnh cảm tính về sự vật. Dạy học trực quan là
dạy học phải bắt đầu từ việc hướng dẫn người học hành động cảm tính đối
với đối tượng học.
Trong trực quan có phƣơng tiện trực quan, đồ dùng dạy học và thiết bị dạy học.
Phương tiện trực quan là toàn bộ sự vật hiện tƣợng trong thế giới, tham
gia vào quá tình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện, để giáo viên
và học sinh sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tƣợng dạy học.
Phƣơng tiện dạy học có chức năng khơi dậy, dẫn truyền và làm tăng sức mạnh
tác động của ngƣời dạy và học đến đối tƣợng dạy học.

+ Minh hoạ thƣờng trƣng bày những đồ dùng trực quan có tính chất
minh hoạ nhƣ bản mẫu, biểu đồ, bức tranh, chân dung các nhà khoa học, hình
vẽ trên bảng…
+ Trình bày thƣờng gắn liền với việc trình bày những thí nghiệm,
những thiết bị kĩ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video.
Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiên thực khách
quan đƣợc lựa chọn cẩn thận về mặt sƣ phạm. Nó là cơ sở, điểm xuất phát
trong quá trình nhận thức - học tâp của học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết
và thực tiễn.
Thông qua sự trình bày thí nghiệm của giáo viên, học sinh không chỉ
lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họ học tập đƣợc những động tác mẫu
mực của giáo viên. Nhờ vậy, dễ dàng hình thành ở trẻ kĩ năng, kĩ xảo biểu
diễn thí nghiệm [4;14].
* Quan sát
- Quan sát là sự tri giác có chủ đích, có kế hoạch tạo khả năng theo
dõi tiến trình và sự biến đổi diễn ra trong đối tƣợng quan sát. Quan sát là
hình thức cảm tính tích cực nhằm thu thập những sự kiện, hình ảnh những
biểu tƣợng ban đầu của đối tƣợng về thế giới xung quanh. Quan sát gắn
chặt với tƣ duy.
- Quan sát đƣợc sử dụng khi giáo viên trình bày phƣơng tiên trực
quan, phƣơng tiện dạy học hoặc khi chính học sinh làm việc trong phòng

11
Footer Page 17 of 16.


Header Page 18 of 16.

thí nghiệm.
- Phân loại:


Header Page 19 of 16.

1.1.3. Khái niệm đồ dùng trực quan
Theo từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng, 2004 “Đồ dùng trực
quan là những vật dụng cụ thể hay ngôn ngữ cử chỉ làm cho học sinh có đƣợc
những hình ảnh cụ thể về những điều đƣợc học”.
Các đồ dùng trực quan gồm có: Lời nói, bảng, chữ viết, tranh, ảnh, bộ
chữ, mô hình, vật mẫu, dụng cụ và phim đèn chiếu, băng ghi âm, băng ghi
hình, đĩa mềm vi tính…
Tranh là những tác phẩm hội họa phản ánh hiện thực bằng đƣờng nét,
hình mảng, màu sắc ghi lại bằng khí cụ quang học (nhƣ máy ảnh) hình ảnh.
Ảnh là những tác phẩm nghệ thuật ghi lại hình ảnh các đối tƣợng vào
phim bằng máy ảnh sau đó in và phóng trên giấy ảnh.
Lô tô (thẻ chữ) gồm các chữ cái đƣợc in màu xanh, đỏ trên những tấm
giấy trắng cắt rời, dùng để hƣớng dẫn trẻ làm quen với chữ cái.
Mô hình là những dạng vật thể thu nhỏ hoặc phóng to nhằm mô phỏng
hình dạng, cấu tạo, hoạt động của vật gốc để nhằm nghiên cứu, học tập.
Vât thật là những vật mẫu có sẵn trong tự nhiên, trong đời sống xã hội
đƣợc dùng nguyên dạng (con cá, múi bƣởi…) hoặc đã đƣợc xử lí (mẫu ngâm,
mẫu ép khô…).
Băng ghi âm là loại làm bằng vật liệu từ tính, ghi lại âm thanh (lời nói,
âm nhạc, tiếng động) và phát lại nội dung đó qua máy ghi âm.
Băng ghi hình là loại băng mềm bằng chất dẻo có phủ một lớp mỏng
chất từ tính, ghi lại đồng thời hình ảnh và âm thanh của các sự vật, hiện
tƣợng trong tự nhiên, trong đời sống xã hội và phát lại nội dung đó qua
máy thu hình (tivi).
1.1.4. Vị trí và vai trò của đồ dùng trực quan trong trường mầm non
Đồ dùng trực quan là công cụ của giáo viên và trẻ. Chúng là những yếu
tố không thể thiếu trong quá trình dạy hoc. Chúng có tác dụng tích cực và có

tự tìm hiểu, khám phá chữ cái mới dƣới sự hƣớng dẫn của cô. Nhƣ vậy hoạt
động học sẽ hiệu quả hơn, kích thích sự học hỏi, tìm tòi và khám phá ở trẻ.
Nhờ việc sử dụng đồ dùng trực quan hợp lí nhƣ vậy sẽ giúp hình thành ở trẻ
khả năng chú ý, ghi nhớ có chủ định.

14
Footer Page 20 of 16.


Header Page 21 of 16.

Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học góp phần làm hợp lí hóa quá
trình dạy học của giáo viên vì nhiều hoạt động học đã đƣợc bản thân đồ dùng
trực quan thực hiện. Vì vậy, sử dụng đồ dùng trực quan giáo viên phải giảm
nhẹ việc trình bày, giảng giải mà tập trung vào hƣớng dẫn, hỗ trợ quá trình
hoạt động của trẻ.
Dạy học trực quan hợp lí hóa quá trình dạy học của giáo viên thì đồ dùng
trực quan còn hợp lí hóa quá trình học tập của học sinh. Trẻ đƣợc quan sát
tranh ảnh, vật thật, mô hình… sẽ giúp trẻ phát triển tai nghe, phát triển ngôn
ngữ một cách tốt nhất.
1.2. Các cơ sở khoa học
1.2.1. Cơ sở tâm lí
1.2.1.1. Đặc điểm hoạt động vui chơi
* Chủ đề và nội dung chơi được mở rộng
Về chủ đề chơi, số lƣợng chủ đề đã tăng lên xuất hiện các chủ đề mới.
Nội dung chơi cũng đa dạng và phong phú hơn, trẻ không chỉ tái tạo
những mối quan hệ bên ngoài chức năng xã hội của ngƣời lớn mà còn tái tạo
tình cảm giữa ngƣời với ngƣời.
Sở dĩ nhƣ vậy là do vào tuổi mẫu giáo lớn, các nhóm chơi ổn định và bền
vững trên cơ sở của các nhóm chơi từ lớp nhỡ chuyển lên, dần dần xuất hiện

thuận bàn bạc về dự định chơi, dự kiến đƣa thêm vào trò chơi mới…. Giữa
các trò chơi có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phối hợp cùng nhau hƣớng
theo một chủ đề chung dƣới sự điều khiển của “thủ lĩnh”. Trong quá trình
chơi trẻ biết nhận xét và đánh giá các bạn khác cũng nhƣ biết nhận xét về bản
thân mình.
1.2.1.2. Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lí
* Sự xác định ý thức bản ngã
Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tách mình ra khỏi ngƣời khác, đã
đƣợc hình thành ở cuối tuổi ấu nhi (15 - 36 tháng tuổi). Tuy nhiên, phải trải
qua một quá trình phát triển ý thức bản ngã của trẻ mới đƣợc xác định rõ ràng.
Khi bƣớc vào tuổi mẫu giáo, trẻ chƣa hiểu biết gì mấy về bản thân và những
phẩm chất của bản thân mình. Nhƣng đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ mới hiểu
đƣợc mình là ngƣời nhƣ thế nào, có những phẩm chất gì, những ngƣời xung

16
Footer Page 22 of 16.


Header Page 23 of 16.

quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình lại có hành động này hay hành
động khác…. Ý thức bản ngã hay sự tự ý thức đƣợc thể hiện rõ nhất trong sự
tự đánh giá về thành công hay thất bại của mình, về những ƣu điểm hay
khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa. Tự ý thức
của trẻ lứa tuổi mầm non đƣợc thể hiện ở những điểm sau:
Trẻ đã biết tự đánh giá về hành vi, phẩm chất, cử chỉ của ngƣời khác.
Tuy nhiên, sự đánh giá đó còn phụ thuộc nhiều vào tình cảm của trẻ đối với
ngƣời đƣợc đánh giá.
Trẻ bắt đầu nhận thức đƣợc giới tính của mình, biết mình là trai hay gái.
Trẻ bắt đầu biết thực hiện những hành vi phù hợp với giới tính của mình,

nhiêu lần đối tƣợng, sau đó trẻ xác lập mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tƣợng
do ngƣời lớn gợi ý trở thành ghi nhớ logic.
Ở tuổi mẫu giáo lớn việc đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch
để thực hiện hành động thƣờng đƣợc thể hiện rõ nhất. Điều đó thức đẩy các
hành động định hƣớng bên trong (tức là quá trình tâm lí) phát triển mang tính
chủ định rõ ràng. Tính chủ định này đƣợc phát triển cùng với sự tiến triển của
hoạt động vui chơi ở trẻ mẫu giáo lớn, làm cho dạng trò chơi đóng vai theo
chủ đề chuyển dần sang trò chơi rõ luật hơn. Ví dụ: Trƣớc đây khi tham gia
trò chơi “Dạy học”, đứa trẻ đóng vai cô giáo, nhƣng nó hoàn toàn không cần
biết những lời dạy bảo của nó đã ảnh hƣởng nhƣ thế nào đối với các “học
trò”. Nó chỉ biết nó đang làm cô giáo,nhƣng giờ đây khi tham gia trò chơi có
luật nhƣ trò “Cướp cờ”, đứa trẻ không chỉ thích trò chơi này mà còn cố gắng
làm sao để cƣớp cho đƣợc lá cờ càng nhanh càng tốt để mang về cho đồng đội
theo quy định,vì làm nhƣ vậy đội của trẻ mới chiến thắng.
Rõ ràng việc tham gia vào các trò chơi có luật làm cho hoạt động của
đứa trẻ trở nên có chủ tâm hơn. Hành động chơi ở đấy có tính mục đích rõ
ràng: một là hành động phải khéo léo để không vi phạm luật chơi; hai là cần
phải đạt tới kết quả cao nhất. Nhờ loại trò chơi này mà hoạt động tâm lí bên
trong đƣợc biến đổi một cách rõ nét, từ những quá trình tâm lí không chủ định
chuyển sang những quá trình tâm lí có chủ định nhƣ tri giác có chủ định, chú
ghi có chủ định, ghi nhớ có chủ định…
Trong sự phát triển các hành động tâm lí của trẻ mẫu giáo lơn, có thể

18
Footer Page 24 of 16.


Header Page 25 of 16.

thấy đƣợc sự liên kết giữa ba mặt: thứ nhất là sự phát triển tính mục đích của




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status