Luận văn thạc sĩ nghiên cứu giải pháp phát triển nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh cà mau - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:PGS-TS Nguyễn Văn Sĩ
Học viên: Nguyễn Văn Sơn

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số : 60340410
Người hướng dẫn khoa học : PGS-TS Nguyễn Văn Sĩ
Học viên : Nguyễn Văn Sơn

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016


LỜI CAM ĐOAN

2.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CỦA TỈNH CÀ
MAU. ............................................................................................................................. 13
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý ......................................................................... 13
2.1.3 Đặc điểm địa hình nghề nuôi tôm của Cà Mau .................................................... 15
2.1.4 Hệ thống sông, rạch, chế độ thủy văn. ................................................................ 16
2.1.5 Các tai biến thiên nhiên. ....................................................................................... 17
2.1.6 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên. ....................................................................... 18
2.1.7 Diễn biến diện tích NTTS..................................................................................... 22
2.1.8 Các đối tượng khác: .............................................................................................. 27

i


2.1.9 Diễn biến diện tích nuôi nước ngọt ...................................................................... 28
2.2. TÌNH HÌNH NĂNG SUẤT VÀ SẢN LƯỢNG TÔM NUÔI QUA CÁC NĂM .. 28
2.2.1. Diễn biến năng xuất và sản lượng NTTS. ........................................................... 28
2.2.2. Tình hình sản xuất và cung ứng giống thủy sản. ................................................. 30
2.2.3. Tình hình sản xuất và cung cấp thức ăn, thuốc thú y thủy sản ............................ 33
2.2.4. Tình hình lao động và khuyến ngư. ..................................................................... 33
2.2.5. Tổ chức sản xuất trong hoạt động nuôi trồng thủy sản. ...................................... 34
2.2.6. Việc áp dụng và triển khai các chủ trương, cơ chế, chính sách từ Trung ương
đến địa phương trong hoạt động nuôi NTTS trong giai đoạn vừa qua. ......................... 34
2.2.7. Bảo vệ môi trường trong vùng quy hoạch. .......................................................... 34
2.2.8. Dự báo tác động của NTTS đến môi trường: ...................................................... 38
2.2.9. Đánh giá những thuận lợi khó khăn trong phát triển NTTS tỉnh Cà Mau năm
2009 – 2014. .................................................................................................................. 38
2.2.10. Đánh giá chung những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã
hội tác động đến phát triển NTTS tỉnh Cà Mau. ........................................................... 41
CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH NHẰM
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NTTS TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU TRONG

Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau .......................................... 199
Bảng 2: Sinh vật lượng phù du vùng biển Cà Mau qua các đợt điều tra ....................... 21
Bảng 3: Sinh vật lượng phù du trung bình nhiều năm ở các vùng biển Việt Nam ..... 210
Bảng 4: Tình hình sản xuất giống giai đoạn 2009 – 2014 ............................................. 31
Bảng 5: Tôm giống nhập vào tỉnh Cà Mau ................................................................... 32
Bảng 6: So sánh khả năng phát thải ở các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản .................. 366
Bảng 7: Nồng độ chất thải phát sinh trong nuôi trồng thuỷ sản .................................. 377
Bảng 8: Vốn đầu tư cố định cho tôm thẻ chân trắng ..................................................... 49
Bảng 9: Vốn đầu tư cố định cho tôm sú ........................................................................ 49
Bảng 10: Tổng chi phí vốn cố định cho tôm thẻ chân trắng và sú .............................. 500

DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Vị trí địa lý tỉnh Cà Mau .................................................................................. 14
Hình 2: Diễn biến diện tích NTTS giai đoạn 2009 – 2014............................................ 23
Hình 3: Diện tích NTTS theo địa phương năm 2014 .................................................... 23
Hình 4: Diện tích và sản lượng nuôi tôm công nghiệp giai đoạn 2009 – 2014 ............. 24
Hình 5: Diện tích và sản lượng nuôi tôm QCCT giai đoạn 2009 - 2014 ...................... 25
Hình 6: Diện tích và sản lượng nuôi tôm - lúa giai đoạn 2009 - 2014 .......................... 25
Hình 7: Diện tích và sản lượng nuôi tôm - rừng giai đoạn 2009 – 2014....................... 26
Hình 8: Diện tích và sản lượng nuôi tôm quảng canh giai đoạn 2009 - 2014 ............... 27
Hình 9: Diễn biến sản lượng NTTS giai đoạn 2009 – 2014 .......................................... 28
Hình 10: Sản lượng NTTS theo địa phương năm 2014................................................. 29
Hình 11: Cơ cấu ngành nông nghiệp và thủy sản năm 2013 ......................................... 42
Hình 12: Giá trị sản xuất ngành thủy sản theo giá cố định 1994 .................................. 42

iv


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT

Trung tâm Viễn thám Quốc gia

8
9
10

MBV
NTTS
OIE

Bệnh còi
Nuôi trồng thủy sản
Tổ chức Thú Y Thế giới

11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21

PCR
PTNT
QCCT
QCVN

lớn nhất cả nước, chiếm 27,9% diện tích NTTS cả nước và chiếm 39% diện tích NTTS
vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Những năm qua NTTS đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, năng suất và sản lượng
NTTS không ngừng tăng lên. Năm 2009, diện tích NTTS đạt 294.659 ha với sản lượng
đạt 188.670 tấn, đến năm 2013 tuy diện tích tăng bình quân (TBQ) chỉ đạt 0,1%/năm
(295.794 ha) nhưng sản lượng nuôi lại tăng mạnh đạt 291.141 tấn (TBQ 11,46%).
Những thành tựu trên cho thấy lĩnh vực NTTS của tỉnh Cà Mau có bước phát
triển mạnh mẽ, khẳng định NTTS là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh đóng góp đáng
kể cho nền kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên, trong thời gian qua nghề NTTS của tỉnh còn
bộc lộ những hạn chế, khó khăn, thiếu bền vững như: Chưa có quy hoạch, ô nhiễm môi
trường ngày càng nghiêm trọng, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng, phát triển manh mún, nhỏ
lẻ, khó quản lý dẫn đến dịch bệnh thường xuyên xảy ra,… từ đó năng suất NTTS còn
rất thấp so với trong vùng và cả nước (trung bình là 0,78 tấn/ha), đa phần nuôi với hình
thức kỹ thuật thấp (nuôi quảng canh). Hầu hết các địa phương trên địa bàn tỉnh chưa
phát triển được vùng nuôi công nghiệp tập trung. Ngoài ra, chất lượng nước trong
NTTS suy giảm, tình hình dịch bệnh thủy sản ngày càng diễn biến khó lường, việc
kiểm dịch chất lượng con giống thả nuôi còn lỏng lẻo, tình hình biến đổi khí hậu và
nước biển dâng đang diễn ra với tần suất cao, giá cả biến động lớn, rào cản kỹ thuật,
thuế bán chống phá giá,… đây là những thách thức mà nghề NTTS của tỉnh phải đối
mặt trong thời gian tới.
Trong những năm gần đây, dịch bệnh đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến
năng suất và sự phát triển của nghề nuôi tôm của nhiều quốc gia trên thế giới. Một số
loại bệnh nguy hiểm do virus gây ra được tổ chức Tổ chức Thú Y Thế giới (OIE) công
bố trong năm 2012 là: Bệnh hoại tử dưới vỏ và cơ quan tạo máu (IHHNV), bệnh hoại
tử cơ (IMNV), hội chứng Taura, bệnh đốm trắng (WSSV), bệnh trắng đuôi và bệnh
đầu vàng (YHV) (OIE 2012). Các bệnh do virus gây ra trên tôm he, đặc biệt là bệnh
đốm trắng đã gây nên những tổn thất lớn cho nghề nuôi tôm toàn cầu trong những năm
trước đây. Bệnh là nguyên nhân gây tổn thất hàng triệu đô la Mỹ cho Thái Lan vào
năm 1993 – 1994, 400-500 triệu đô la Mỹ cho nghề nuôi tôm ở Ấn Độ từ năm 1994
đến năm 2000; và bệnh đốm trắng cũng là nguyên nhân gây giảm 44,44% sản lượng

Qua đó đúc kết lại và đề ra giải pháp cho chiến lược mang tính bền vững cho
nghề nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian tới.
Việc nghiên cứu xử lý số liệu được nhập vào vi tính, sau đó xử lý số liệu bằng
các phần mềm chuyên dụng có thể là Excell, SPSS...
4. Phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện đối với hình thức nuôi tôm sú và tôm thẻ chân
trắng tại Cà Mau.
Phạm vi nghiên cứu: Thu thập thông tin số liệu, dữ liệu tỉnh và trên địa bàn tỉnh
Cà Mau làm cơ sở cho cho việc nghiên cứu các giải pháp nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Cà
Mau trong thời gian tới.
5. Ý nghĩa thực tiễn.
Với việc nghiên cứu, phân tích “ Nghiên cứu giải pháp phát triển nuôi trồng
thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau ” tác động đến chuyển đổi cơ cấu trong lĩnh vực
NTTS, từ nuôi quảng canh truyền thống, nuôi tôm quảng canh cải tiến năng suất thấp
sang nuôi tôm công nghiệp mang tính bền vững góp phần tăng năng suất và sản lượng
tôm nuôi của tỉnh Cà Mau. Trong giai đoạn này nhờ tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng
các vùng NTTS tập trung, ứng dụng khoa học công nghệ cao để tăng nhanh năng suất,
khai thác tối đa hiệu quả trên một đơn vị diện tích.
Nuôi tôm quảng canh truyền thống, quảng canh cải tiến năng suất thấp, dịch
bệnh thường xuyên xảy ra đã và đang gây khó khăn cho người dân nuôi tôm của tỉnh
Cà Mau. Việc chuyển đổi dần tập quán canh tác từ nuôi tôm quảng canh truyền thống,
quảng canh cải tiến sang nuôi tôm công nghiệp là yêu cầu khách quan phù hợp với
thực tế sản xuất của người dân.

2


Nuôi tôm công nghiệp có áp dụng khoa học kỹ thuật, có đầu tư, quy hoạch...sẽ
mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với trước đây, nhằm góp phần tăng thu nhập, giải
quyết việc làm ổn định cuộc sống, xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả hơn.Việc tổ chức

đã đánh dấu khả năng khai thác và chinh phục rất nhiều vùng nước tự nhiên của nhân
loại. Cùng với sự bùng nổ dân số trên thế giới một cách nhanh chóng, nhu cầu về các
loại động vật thuỷ sản ngày càng tăng mạnh và chỉ có phát triển mạnh ngành nuôi
trồng thủy sản thì mới đáp ứng được nhu cầu tăng cao về các loại sản phẩm thủy sản.
* Đặc điểm
Nuôi trồng thủy sản là một ngành phát triển rộng khắp đất nước ta và tương đối
phức tạp hơn so với các ngành sản xuất vật chất khác Đối tượng sản xuất của ngành
nuôi trồng là các loại động vật máu lạnh, sống trong môi trường nước, chụi ảnh hưởng
trực tiếp của rất nhiều các yếu tố môi trường như thuỷ lý, thuỷ hoá, thuỷ sinh do đó
muốn cho các đối tượng nuôi trồng phát triển tốt con người phải tạo được môi trường
sống phù hợp cho từng đối tượng. Các biện pháp kỹ thuật sản xuất chỉ khi nào phù hợp
với các yêu cầu sinh thái, phù hợp với quy luật sinh trưởng, phát triển và sinh sản của
các đối tượng nuôi trồng thì mới giúp đối tượng nuôi phát triển tốt, đạt được năng suất,
sản lượng cao và ổn định. Hơn nữa, hoạt động nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản
xuất ngoài trời, các điều kiện sản xuất như khí hậu, thời tiết, các yếu tố môi trường
…và sinh vật có ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau đồng thời luôn có sự biến đổi
khôn lường. Sức lao động cùng bỏ ra như nhau nhưng chỉ gặp năm thời tiết thuận lợi
(mưa thuận, gió hòa) mới có thể đạt được năng suất, sản lượng cao. Mặt khác bờ biển
Việt Nam khá dài, điều kiện khí hậu thời tiết của từng vùng có sự khác nhau do đó
cùng một đối tượng nuôi nhưng ở những địa phương khác nhau thì mùa vụ sản xuất

4


khác nhau và hiệu quả kinh tế của nó cũng không giống nhau, hơn nữa mức độ đầu tư
cơ sở hạ tầng cũng quyết định khả năng sản xuất và trình độ thâm canh của nghề nuôi
trồng thủy sản. Vì vậy, trong quá trình sản xuất, ngành nuôi trồng thủy sản vừa chịu sự
chi phối của quy luật tự nhiên, vừa phải chịu sự chi phối của quy luật kinh tế. Do đó
nuôi trồng thủy sản là một hoạt động sản xuất rất phức tạp. Tính chất rộng khắp của
ngành nuôi trồng thủy sản thể hiện nghề nuôi trồng thủy sản phát triển ở khắp các

mặt nước, lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật …Mở mang thêm ngành nghề, tạo thêm
công ăn việc làm cho người lao động để thực hiện việc chuyên môn hóa sản xuất đi đôi
với viêc phát triển tổng hợp các ngành sản xuất trong nuôi trồng thủy sản.
Thủy sản Việt nam trong hơn 10 năm qua đã có những bước phát triển vượt
bậc, trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển thủy sản nhanh trên thế giới.
Trong đó, ngành nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam được coi là tiến bộ nhanh nhất, bất
chấp sự khởi đầu muộn và hiện chiếm khoảng 1/3 tổng sản lượng thuỷ sản của cả
nước, góp phần quan trọng trong việc nâng cao sản lượng và giá trị xuất khẩu và tạo
công ăn việc làm cho nhiều người dân, đặc biệt là vùng dân nghèo ven biển, vùng sâu
vùng xa, hải đảo Từ đó tiến tới sự ổn định các mặt của xã hội. NTTS đang ngày càng

5


chiếm vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh tế thế giới, và thể hiện vai trò quan
trọng của mình trong nền kinh tế -xã hội nhất là với một nước nghèo đi lên từ nền sản
xuất nông nghiệp như Việt Nam. Việc phát triển mạnh mẽ NTTS thay thế cho khai
thác hải sản đã phần nào giảm áp lực khai thác quá mức đối với vùng biển Việt Nam,
tiến tới bảo tồn nguồn tài nguyên biển tự nhiên của đất nước. Tuy nhiên, ngành nuôi
trồng thủy sản vẫn còn không ít những bất cập và phải đối mặt với hàng loạt thách
thức như: công tác quy hoạch chưa không theo kịp với tốc độ phát triển, đầu tư còn
dàn trải, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, hàm lượng khoa học công nghệ còn thấp, nguồn
lợi thuỷ sản đang có xu hướng giảm , sự phát triển còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát,
không theo kịp quy hoạch dẫn đến môi trường một số nơi có dấu hiệu suy thoái, dịch
bệnh phát sinh và có sự mất cân đối giữa cung và cầu. Do đó, để khắc phục những tồn
tại nêu trên, đáp ứng được những biến đổi về khí hậu, các yêu cầu của hội nhập kinh tế
toàn cầu, sự suy thoái môi trường, sự đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường về chất
lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như theo kịp sự tiến bộ của khoa học công
nghệ hiện đại thì rất cần một chiến lược phát triển tổng thể nhằm mục tiêu phát triển
ngành “ nuôi trồng thủy sản “ một cách bền vững, góp phần tạo công ăn việc làm, nâng

thức quảng canh với số lượng thả nuôi hơn sáu tỷ con giống/năm. Toàn tỉnh có khoảng

6


80% số hộ nuôi tôm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào vụ nuôi. Năm 2005 năng suất bình
quân chỉ đạt 500 đến 600 kg/ha, năm 2010 tăng lên 800 đến 900 kg/ha, sau mỗi vụ
nuôi có 70 đến 80% số hộ nuôi có lãi, nhiều ngư dân lãi ròng từ 30 đến 40 triệu
đồng/ha/vụ. Nuôi theo mô hình bán công nghiệp, năng suất bình quân đạt 2,5 tấn đến 3
tấn/ha/vụ, lãi từ 120 đến 150 triệu đồng/ha/vụ; nuôi mô hình công nghiệp đạt năng suất
rất cao, bình quân từ 8 tấn đến 10 tấn/ha/vụ, cá biệt có hộ nuôi đạt 12 tấn/ha/vụ, nhiều
hộ lãi cả tỷ đồng. Năm 2010, tỉnh Sóc Trăng đạt sản lượng gần 55 nghìn tấn tôm.
1.1.3. Hiệu quả trong NTTS
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi là chủ trương tiến hành công nghiệp
hoá , hiện đại hoá ở nông thôn của Đảng với mục đích nâng cao đời sống tinh thần và
vật chất cho nông dân.Việt Nam là nước đang phát triển, chúng ta tham gia vào quá
trình hội nhập cần tận dụng lợi thế so sánh của mình, theo lý thuyết lợi thế so sánh, các
nước đang phát triển nên tập trung vào các ngành có lợi thế so sánh , tức là các ngành
sử dụng nhiều lao động là các yếu tố có sẵn còn các nước phát triển có lợi thế về vốn
và công nghệ sẽ không chuyển giao hoàn toàn cho các nước đang phát triển. Ở nước ta
dân số đông, đa số là nông dân, đặc trưng của nghề nông là làm theo mùa, nên khi hết
mùa vụ lao động dư thừa, nhàn rỗi, vì vậy chúng ta cần triệt để khai thác nguồn nhân
lực dồi dào này. Thêm vào đó, thực tế nguồn lợi tự nhiên về hải sản trong các đại
dương và nguồn lợi thuỷ sản không phải là vô tận và luôn có chiều hướng suy giảm do
nhiều tác động khác nhau như đánh bắt quá mức, ô nhiễm môi trường, ngăn chặn các
dòng sông làm thuỷ lợi, thuỷ điện và thuỷ lợi hoá ruộng đồng để phát triển nông
nghiệp. Nước ta may mắn là nước có tiềm năng lớn để nuôi trồng nhưng cũng không
nằm ngoài quy luật đó. Vì vậy, phát triển nuôi trồng thuỷ sản là hướng đi tất yếu của
ngành thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu về thuỷ sản ngày càng tăng trong khi nguồn lợi
thuỷ sản tự nhiên trên trái đất bị hạn chế và có chiều hướng suy giảm. Thực tế một số

trong năm 1999, còn lại là quảng canh và quảng canh cải tiến . Năng suất bình quân
mới chỉ đạt 198 kg/ha . Năm 2000 ở Thanh Hoá đã có 2000 ha nuôi, thu hoạch 700 tấn
tôm sú, đạt năng suất 350 kg/ha, ở Nam Định:1500 ha nuôi tôm sú đã cho 550 tấn,
đóng góp hơn 40% kim nghạch xuất khẩu toàn tỉnh, ở Thái Bình có 883 ha tôm sú thu
hoạch 205 tấn, tương đương 20 tỷ đồng . Về công tác nuôi trồng, ngay từ đầu ngành
thuỷ sản đã chủ trương đẩy mạnh chương trình nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là nuôi
tôm từ con giống , mùa vụ công nghệ, thức ăn, chú trọng nhất là tôm sú. Do vậy, các
cán bộ kỹ thuật thuỷ sản từ trung ương đến địa phương đã chỉ đạo sát sao cách chăm
sóc, phòng chống dịch bệnh, hạn chế tai hại của thiên nhiên. Chú trọng công tác bảo
quản nguyên liệu sau thu hoạch, nâng cao tỷ lệ và giá trị sử dụng nguyên vật liệu nuôi
trồng . Năm 1993, tôm nuôi ở các tỉnh phía Nam bị chết trên diện rộng. Nhiều đề tài
nghiên cứu cấp nhà nước và cấp Bộ được triển khai có liên quan đến vấn đề bệnh tôm,
các giải pháp công nghệ phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau, các vấn đề môi
trường và qui hoạch. Một số dự án hợp tác quốc tế đã hỗ trợ khá tốt cho vấn đề hình
thành phương pháp luận như phát triển các phương pháp chuẩn đoán , phương pháp
nghiên cứu dịch tễ học, xây dựng các mô hình nuôi phù hợp với các vùng sinh thái
khác nhau, cụ thể như mô hình nuôi tôm trong rừng ngập mặn. Từ thí điểm đầu tiên,
năm 1995 với hai trang trại Nam Hải (200 ha) và Hiệp Thành (50 ha) ở Bạc Liêu, năm
1997, xác định Trà Vinh là một trong các tỉnh có phong trào nuôi tôm mạnh nhất ở
đồng bằng sông Cửu Long với nhiều hộ bắt đầu thâm canh hoá trên diện tích ao nuôi
bé nhỏ của mình .Viện nuôi trồng Thuỷ sản II đã kết hợp với sở khoa học công nghệ
và môi trường tỉnh Trà Vinh , phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện
Duyên Hải nghiên cứu thực nghiệm đề tài “Xây dựng mô hình nuôi tôm sú năng suất
cao qui mô hộ nông dân tại tỉnh Trà Vinh”. Nghiên cứu triển khai nuôi tôm công
nghiệp ở 2 ao với diện tích tương ứng là 1500m2 và 600 m2 tại xã Long Toàn huyện
Duyên Hải tỉnh Trà Vinh với đối tượng nuôi là tôm sú và thời gian nuôi là 120 ngày.
Nguyên tắc áp dụng qui trình nuôi nghiêm ngặt từ khâu chọn giống, cải tạo ao quản lý
môi trường nuôi, thức ăn phòng bệnh ...đã cho năng suất 5 tấn /ha/vụ. Kết quả thành
công của mô hình giúp khẳng định trong điều kiện cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém,
khả năng hạn chế của nông hộ, các cán bộ VN bước đầu đã xác định được các giải

đầu khai thác các vùng đất cát ven biển đưa vào nuôi tôm sú ,địa điểm nuôi đầu tiên tại
thôn Từ Thiện –Ninh Thuận .Phong trào nuôi tôm trên cát ở đây phát triển mạnh, khu
vực nuôi xây dựng từ năm 1999 lúc đầu chỉ có một hộ nuôi diện tích 0.5 ha thu hoạch
được 4 vụ, mật độ thả nuôi 10-20 con tôm giống cỡ 2-3 cn/m2, năng suất đạt 2-3 tấn /
ha/ vụ. Trước những thành quả đó đã kéo thêm 20 hộ đang thi công xây dựng ao nuôi
với diện tích 30 ha , tuy nhiên để đảm bảo các yêu cầu bảo vệ giữ gìn môi trường sinh
thái việc mở rộng nuôi tôm phải có qui hoạch , nuôi gắn với trồng rừng và giữ rừng,
nuôi gắn với phát triển thuỷ lợi . Nghề nuôi tôm ở nước ta không ngừng phát triển;
trình độ nuôi tôm ngày càng ổn định và nâng cao, việc nuôi quảng canh năng suất thấp
ngày càng được thay thế. Điều này đòi hỏi ngành công nghiệp chế biến thức ăn phải
phát triển tương xứng và chất lượng ngày càng hoàn thiện hơn. Yếu tố hàm lượng các
chất dinh dưỡng phải thích hợp với nhu cầu sinh trưởng của con tôm được đặt lên hàng
đầu; công thức chế biến mang tính khoa học. Do tập tính bắt mồi đặc biệt của con tôm
nên thức ăn phải có độ bền trong nước tức là thức ăn phải mềm nhưng không bị rã.
Bên cạnh các vấn đề như địa điểm, công nghệ và qui trình kỹ thuật, thức ăn ...của việc
nuôi thì vấn đề về tôm sú giống cũng đặc biệt phải quan. Hiện nay, đồng bằng Nam Bộ
chưa tự túc đủ số lượng về tôm giống, chất lượng giống quá kém đang bị thả nổi (qui
định con giống được sinh sản lần 1 , lần 2, lần 3 và qua kiểm dịch mới được bán nhưng
thực tế tôm giống được sinh ra do ép tôm mẹ đẻ tới lần 5, lần 6, lần 7. Khi đem bán
hay mua, cự ly vẩn chuyển xa tôm bị xây sát, bị mắc bệnh... ) Giống như tình hình
chung, về phân bố hệ thống trại giống thuỷ sản trong cả nước, các trại giống tôm cả
nước có 2669 trại, sản xuất mỗi năm được 7,2 tỷ con tôm giống thì 75% lại nằm ở các
tỉnh miền Trung, các tỉnh miền Nam chiếm khoảng 82% diện tích tôm nuôi của cả
nước nhưng lại chỉ có 631 trại giống, mỗi năm sản xuất được 2,84 tỷ con tôm giống.
Cà Mau có 354 trại chỉ đáp ứng được 24% nhu cầu tôm giống của tỉnh mình, Bạc Liêu
mỗi năm sản xuất được 150 triệu con tôm giống chỉ đáp ứng 5-6%; Sóc trăng có diện
tích nuôi tôm khá lớn song chưa sản xuất được tôm sú giống .Tóm lại, các tỉnh Nam
Bộ mới chỉ đảm bảo tự túc được 8-10% sản lượng tôm giống còn 90% phải nhập từ
miền Trung . Trong khi đó các tỉnh miền Bắc chưa chủ động được tôm giống, có tới
90% phải mua từ miền Trung hoặc Trung Quốc. Họ chưa có nguồn giống tốt, còn

xuất giống đã lên tới 15 tỷ P15 mà vẫn không theo kịp mức tăng diện tích nuôi lên đã
dẫn đến tình trạng thiếu hụt, giá tôm giống tăng vọt và chất lượng con giống bị xem
nhẹ . Người nuôi tôm thiếu kiến thức, công trình nuôi thiếu kỹ thuật, thiếu qui hoạch,
con giống thiếu và chất lượng không đảm bảo, bằng ấy yếu tố cộng thêm điều kiện
thời tiết không thuận lợi đã khiến ở một số nơi tôm chết hàng loạt. Chẳng hạn như các
tỉnh ven biển phía Bắc, các số liệu điều tra ban đầu cho thấy diện tích nuôi tôm toàn
vùng của năm 2000là 22484 ha thì sang vụ tôm đầu năm 2001 đã lên tới 33000 ha.
Tỉnh Quảng Ninh tăng diện tích nuôi tôm lên 2,4 lần ; các tỉnh Thái Bình, Nam Định
và Ninh Bình tăng 2 lần; các tỉnh từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên Huế cũng tăng từ 3050% diện tích nuôi tôm chỉ có sau 1 năm .Số tôm thả nuôi cũng tăng rất nhanh. Trong
năm 2000, toàn vùng mới thả gần 500 triệu tôm giống, thì sang vụ tôm năm nay đã
tăng gấp đôi. Do năng lực sản xuất tôm giống trong vùng còn hạn chế nên phần lớn
tôm giống đều được chuyển từ miền Trung ra hoặc nhập từ Trung Quốc về. Mật độ thả
tôm giống cũng tăng lên nhanh chóng. Những hộ nuôi năm trước thắng lợi đã mạnh
dạn thả tới 20 con /m2, thậm chí tới 25-30 con/m2. Nhiều hộ chưa có kinh nghiệm
nuôi , thấy các hộ khác có lãi lớn cũng thả tới 20 con/ m2 .Năm 2000, sản lượng nuôi
tôm toàn vùng đạt khoảng 4200 tấn , xuất khẩu tôm đạt 100 triệu USD, chiếm 7% giá
trị xuất khẩu tôm cả nước. Nhưng ngay từ cuối tháng 2 và đầu tháng 3/2001, ở nhiều
ao đầm thả sớm ở các tỉnh, tôm nuôi đã bị nhiễm bệnh, nhiều nơi tôm đã chết. Bệnh
lan tràn ra khắp tỉnh (trừ Quảng Trị) trong tháng 4, tháng 5, và tháng 6. Theo số liệu
điều tra ban đầu của Viện nghiên cứu nuôi trông thuỷ sản I, ở 8 tỉnh ven biển phía Bắc
(từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh ), ở 21 huyện và 194 hộ nuôi tôm đã có166 hộ (85,5%)có
tôm nuôi bị mang mầm bệnh. Phần lớn tôm nuôi bị các bệnh đốm trắng, đốn vàng,
bệnh MBV, mức độ thiệt hại về bệnh của tôm nuôi cũng rất khác nhau. ở Hải Phòng
một số ao tôm ở Đồ Sơn, Kiến Thuỵ bị tổn thất nặng, ước tính toàn thành phố có
khoảng 400 ha nuôi tôm bị nhiễm bệnh, ở Ninh Bình nơi có tốc độ chuyển đổi đất sang
nuôi tôm rất nhanh thì ước tính có tới 59% diện tích nuôi tôm bị bệnh, ở 400 ha ao
đầm tôm chết rải rác, ở 300 ha tôm chết hàng loạt; ở Kỳ Anh (Hà Tĩnh), Quỳnh Lưu

10


xứng tiềm năng sẵn có. Sự tăng nhanh về diện tích và sản lượng NTTS các tỉnh
ÐBSCL trong những năm qua chủ yếu theo chiều rộng, chưa có tính ổn định và bền
vững. Ðến nay, diện tích nuôi trồng thủy sản ở ÐBSCL đạt hơn một triệu ha, trong đó
có hơn 600 nghìn ha nuôi tôm nước lợ (chủ yếu là nuôi tôm sú). Chỉ riêng diện tích
nuôi tôm nước lợ đã tăng gấp hai lần so năm 2000. Việc chuyển dịch diễn ra khá
nhanh đã vượt các dự tính quy hoạch, khả năng về cơ sở vật chất, công nghệ, kỹ thuật
hiện có và trình độ quản lý. Công tác quy hoạch và chỉ đạo thực hiện quy hoạch chưa
tốt, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, chưa gắn kết giữa các ngành kinh tế. Thực tế hiện
nay, vẫn có địa phương chưa có quy hoạch tổng thể hoặc chưa có quy hoạch chi tiết ở
từng vùng nuôi tôm. Nơi đã có quy hoạch thì việc thực hiện còn lúng túng. Cùng với
quy hoạch diện tích nuôi ở các địa phương là quy hoạch sản xuất giống thủy sản, hệ
thống dịch vụ, hậu cần cho nuôi thủy sản. Ở một số tỉnh, mặc dù diện tích nuôi tôm
tăng nhanh, nhưng công tác kiểm dịch, kiểm tra giống còn nhiều bất cập, chưa chủ
động sản xuất được các giống sạch bệnh, thiếu công nghệ quản lý môi trường theo
hướng bền vững. Việc đầu tư hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS hạn chế, chưa đáp ứng
đủ yêu cầu về cấp nước, thoát nước. Sự phối hợp giữa các địa phương trong vùng, giữa
yêu cầu thủy lợi nông nghiệp với thủy lợi thủy sản, bảo vệ rừng ngập mặn với NTTS,
giữa ngành thủy sản với các ngành khác chưa chặt chẽ, dẫn đến tranh chấp mặn - ngọt

11


phục vụ nuôi tôm, sản xuất lúa. Công nghệ nuôi nhìn chung còn lạc hậu, nuôi quảng
canh truyền thống vẫn là chủ yếu, năng suất đạt thấp, chưa đáp ứng được nguồn
nguyên liệu phục vụ cho các nhà máy chế biến xuất khẩu.

12


CHƯƠNG 2


Hình 1: Vị trí địa lý tỉnh Cà Mau

2.1.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
a. Nhiệt độ
Khí hậu tỉnh Cà Mau mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích
đạo với nền nhiệt cao vào loại trung bình trong tất cả các tỉnh Đồng bằng song Cửu
Long (ĐBSCL). Nhiệt độ trung bình năm 2012 là 27,70C, nhiệt độ trung bình cao nhất
trong năm vào tháng 4 khoảng 290C; nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm vào
tháng giêng là 26,60C.

14


Theo Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam khí hậu trong tỉnh Cà Mau những
năm gần đây diễn biến ngày càng phức tạp, nhiệt độ ngày càng tăng, lượng mưa lớn.
Nhiệt độ giai đoạn 1970 – 1979 tăng hơn 0,20C so với giai đoạn 1960 – 1969; nhiệt độ
giai đoạn 1990 – 1999 tăng hơn 0,40C so với giai đoạn 1980 – 1989 và giai đoạn 2000
– 2009 tăng cao hơn giai đoạn 1990 – 1999 khoảng 0,30C. Dự báo nhiệt độ trong tỉnh
sẽ tiếp tục tăng lên ở những năm tới và tác động đến tình hình phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh.
b. Lượng mưa, độ ẩm
So với các tỉnh khác trong vùng ĐBSCL tỉnh Cà Mau có lượng mưa cao hơn
hẳn. Bình quân hàng năm có trên 165 ngày có mưa với lượng mưa trung bình năm
2012 là 2.157,9 mm. Lượng mưa trong mùa mưa chiếm khoảng 80% lượng mưa cả
năm; các tháng có lượng mưa cao nhất là từ tháng 5 đến tháng 9 (Nguồn: Niên giám
thống kê tỉnh Cà Mau, 2012).
Về độ ẩm có quan hệ mật thiết với chế độ mưa và chế độ gió mùa khu vực. Độ
ẩm không khí bình quân năm 2012 là 82,5%, nhưng mùa khô có độ ẩm thấp hơn, thấp
nhất là vào tháng 3 với độ ẩm là 78%.

Phía Bắc có địa hình thấp (trung bình từ 0,2 – 0,5 m) thuận lợi cho việc tận
dụng trữ lượng nước mưa để sản xuất nông nghiệp nhưng cũng tạo thành những vùng
trũng đọng nước chua phèn gây khó khăn cho canh tác nông nghiệp.
Phía Nam có địa hình cao hơn (trung bình từ 0,2 – 0,8 m), do có những giồng
cát biển không liên tục, tạo nên khu vực có địa hình cao ven biển, hướng nghiêng thấp
dần từ biển vào nội địa.
Bên cạnh đó, địa hình của tỉnh còn bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông rạch
chằng chịt, đây cũng là lợi thế về giao thông đường thủy nhưng là hạn chế rất lớn đối
với phát triển giao thông đường bộ. Đồng thời, phần lớn diện tích của tỉnh thuộc dạng
đất ngập nước ven biển, nền đất yếu nên việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
và xây dựng dân dụng rất tốn kém do yêu cầu xử lý nền móng phức tạp; tính ổn định
của các công trình xây dựng bị hạn chế, thường bị lún nền. Đây cũng là những trở ngại
cho chương trình phát triển đô thị của tỉnh (hạn chế khả năng phát triển khu đô thị cao
tầng, tốn kém nhiều trong đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị …).
2.1.4 Hệ thống sông, rạch, chế độ thủy văn.
Chế độ thủy văn
Về thủy văn, địa bàn tỉnh Cà Mau chịu tác động trực tiếp của chế độ thủy triều
biển Đông (bán nhật triều không đều) và vịnh Thái Lan (nhật triều không đều). Biên
độ triều biển Đông tương đối lớn, từ 3,0 – 3,5 m vào ngày triều cường và từ 1,8 – 2,2
m vào các ngày triều kém. ..
Do ảnh hưởng của 2 chế độ thủy triều và có nhiều cửa sông ăn thông ra biển nên
phần lớn diện tích đất liền của tỉnh đã bị nhiễm mặn và chế độ truyền triều rất phức tạp.
Chế độ thủy triều đã được người dân tận dụng trong đời sống, sản xuất như giao thông
đi lại theo con nước, lấy nước và thoát nước cho các vùng đầm nuôi tôm… Nhưng do
chế độ truyền triều không đều của biển Đông và vịnh Thái Lan đã hình thành một số
vùng giáp nước, là những khó khăn cho giải pháp thủy lợi phục vụ sản xuất…
Thủy triều đưa nước biển vào ra thường xuyên, mang theo một lượng phù sa
lớn làm bồi lắng nhanh ở các sông, kênh thủy lợi. Ngoài ra, trong mùa khô (mùa gió
chướng) nước biển dâng cao, gây tình trạng tràn mặn, ảnh hưởng đến sản xuất và đời
sống, vì vậy công tác ngăn mặn chống tràn là việc phải làm hàng năm của địa phương.

Kết quả quan trắc cũng cho thấy mực nước trên địa bàn tỉnh tăng dần qua từng
thập niên, theo Kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng cho Việt Nam, 2012
của Trung tâm Viễn thám Quốc gia (IPCC) - Bộ Tài nguyên & Môi trường và Tác động
của BĐKH – nước biển dâng trên địa bàn tỉnh Cà Mau của Viện Quy hoạch Thủy lợi
Miền Nam thì trong các vùng lãnh thổ của Việt Nam, vùng ĐBSCL có địa hình thấp,
nhiều nơi cao trình chỉ đạt từ 20 – 30 cm, đường bờ biển dài nên sẽ là khu vực chịu ảnh
hưởng bởi ngập lụt mạnh mẽ và nghiêm trọng nhất, trong đó tỉnh Cà Mau là vùng nguy
hiểm nhất, là tỉnh duy nhất chịu tác động của cả 2 chế độ thủy triều biển Đông và biển
Tây và có đường bờ biển dài nhất, khoảng 254 km.
Cùng với sự tăng lên về diện tích đất bị ngập lụt với độ sâu ngày càng tăng kết
hợp với chế độ thủy triều, gió mùa trong khu vực, kèm theo đó là tình hình xâm nhập
mặn càng sâu vào nội đồng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đến sản xuất, đời sống, hệ
sinh thái… và chất lượng nguồn nước trong vùng thời gian tới
2.1.5 Các tai biến thiên nhiên.
Bao bọc bởi Biển Đông và Biển Tây với chiều dài bờ biển hơn 254 km, tỉnh
cực nam Cà Mau chịu ảnh hưởng khá nặng nề từ (BĐKH). Trong những năm gần đây,
tỉnh thường xuyên phải đối mặt với thiên tai nguy hiểm như mưa dông, gió lốc, triều
cường, sạt lở đất; nhất là trong mùa mưa bão, áp thấp nhiệt đới... Với độ cao mặt đất
thấp hơn mặt biển, cho nên chế độ thủy văn trên địa bàn tỉnh Cà Mau rất phức tạp;
hình thành một hệ thống sông, kênh rạch chằng chịt. Toàn tỉnh hiện có hơn 10 nghìn
km sông, kênh rạch đan xen nhau, trong đó có gần 100 con sông từ biển dẫn sâu vào
nội địa. Khi triều cường, nước biển theo các con sông xâm nhập sâu vào bên trong làm
ảnh hưởng đến hầu hết các vùng sản xuất ngư, nông, lâm nghiệp, nhất là vùng sinh thái
nuôi trồng hệ ngọt; đồng thời gây sạt lở đất ở nhiều nơi trong tỉnh.
Tác động của BĐKH trên địa bàn Cà Mau ngày càng tăng lên, tình trạng sạt lở
ven biển, khu dân cư ven sông diễn biến rất phức tạp, đe dọa an toàn tính mạng và tài
sản của nhân dân, trong khi khả năng nguồn lực ứng phó của tỉnh còn hạn hẹp. Thiên
tai đã làm phương tiện khai thác hải sản bị chìm, nhà dân bị sập và hư hỏng; sạt lở đất
ven bờ sông, phá hỏng bến tàu… thậm chí còn nguy hại đến tính mạng người dân.
Các huyện ven biển: Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển, Phú Tân thường xuyên bị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status