BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN HẢI BẮC
SỰ TUÂN THỦ CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN ĐÁNH
GIÁ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO
CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY
KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP LỚN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN HẢI BẮC
SỰ TUÂN THỦ CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN ĐÁNH
GIÁ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO
CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY
KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP LỚN Ở VIỆT NAM
Ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Giang Tân
Câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu .................................................. 3
3.
Đối tượng/phạm vi nghiên cứu ......................................................................3
4.
Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3
5.
Các đóng góp mới ......................................................................................... 4
Chương I: Tổng quan về thủ tục đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán báo cáo
tài chính. .................................................................................................................. 5
1.1. Tổng quan các nghiên cứu trước về đánh giá trong kiểm toán báo cáo tài
chính ................................................................................................................... 5
1.1.1. Lịch sử phát triển các chiến lược tiếp cận kiểm toán ............................ 5
1.1.2. Nghiên cứu về ứng dụng mô hình đánh giá rủi ro trong kiểm toán ....... 8
1.1.2.1.
Nghiên cứu về chiến lược tiếp cận dựa trên rủi ro tiềm tàng .......... 8
1.1.2.2.
Nghiên cứu về xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ trong đánh giá rủi
ro
Các bộ phận của rủi ro trong kiểm toán ....................................... 18
1.2.2. Đánh giá rủi ro và mô hình rủi ro kinh doanh ..................................... 21
1.2.2.1.
Khái niệm đánh giá rủi ro ............................................................ 21
1.2.2.2.
Tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro ............................................... 22
1.2.2.3.
Chiến lược tiếp cận dưa trên rủi ro kinh doanh ............................ 22
1.2.3. Đánh giá rủi ro theo yêu cầu chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành 23
1.2.3.1.
Lịch sử ra đời và phát triển chuẩn mực kiểm toán quốc tế về rủi ro
và đánh giá rủi ro ........................................................................................ 23
1.2.3.2.
Yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán quốc tế liên quan đánh giá rủi ro
trong kiểm toán ........................................................................................... 25
1.2.4. Đánh giá rủi ro theo yêu cầu chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện
hành
........................................................................................................... 28
Những kết quả đạt được trong việc thực hiện quy trình đánh giá rủi
ro kiểm toán ................................................................................................ 54
2.2.3.2.
Những hạn chế trong công tác đánh giá kiểm toán ....................... 56
Chương III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ........................................... 60
3.1. Các quan điểm hoàn thiện thủ tục đánh giá rủi ro...................................... 60
3.2. Nhóm giải pháp về phía công ty kiểm toán ............................................... 61
3.2.1. Tăng cường sử dụng phương pháp tiếp cận theo mô hình rủi ro kinh
doanh đối với việc đánh giá rủi ro kiểm toán .................................................. 61
3.2.2. Ban hành các văn bản hướng dẫn về thủ tục đánh giá rủi ro kiểm toán
theo mô hình rủi ro kinh doanh ....................................................................... 62
3.2.3. Tăng cường thảo luận giữa các thành viên trong nhóm kiểm toán và
thông báo nội dung cuộc họp một cách đầy đủ cho các kiểm toán viên không
tham gia .......................................................................................................... 63
3.2.4. Tăng cường việc xem xét rủi ro do gian lận và tiến hành thủ tục kiểm
toán đối với gian lận trong quy trình kiểm toán ............................................... 64
3.2.5. Chú trọng đánh giá rủi ro kiểm soát ................................................... 65
3.2.6. Trở thành thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế......................... 66
3.2.7. Chú trọng việc duy trì đội ngũ kiểm toán viên và đào tạo nhân sự kiểm
toán chất lượng cao ......................................................................................... 67
3.3. Nhóm giải pháp về phía Nhà nước và Hội nghề nghiệp ............................ 68
3.3.1. Không ngừng hoàn thiện và cập nhật hệ thống văn bản pháp luật về kế
toán và kiểm toán theo kịp xu hướng quốc tế .................................................. 68
3.3.2. Tổ chức các chương trình đào tạo chất lượng và cập nhật kiến thức cho
Bảng 2.4. Thủ tục đánh giá rủi ro khi chấp nhận khách hàng
Bảng 2.5. Người thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro trong giá đoạn lập kế hoạch
Bảng 2.6. Tìm hiểu đơn vị và môi trường của đơn vị
Bảng 2.7. Thảo luận trong nhóm kiểm toán
Bảng 2.8. Sử dụng thông tin thu thập được từ cuộc kiểm toán trước
Bảng 2.9. Xem xét dấu hiệu có thể dẫn đến gian lận và biển thủ tài sản
Bảng 2.10. Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu
Bảng 2.11. Xem xét, đánh giá lại nội dung và lịch trình
Bảng 2.12. Đánh giá rủi ro sai sót trọng yếu khi bằng chứng thu thập được không nhất
quán với những bằng chứng ban đầu
Bảng 2.13. Tài liệu, hồ sơ kiểm toán
Bảng 2.14. Điểm số cho từng câu trả lời tương ứng của kiểm toán viên
Bảng 2.15. Kết quả kháo sát tổng hợp bằng phần mềm Excel
Bảng 2.16. Tổng hợp điểm chất lượng của các công ty kiểm toán
Bảng 2.17. Hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu nghiên cứu với số điểm chất lượng
Bảng 2.18. Cách tính hệ số tương quan giữa doanh thu trung bình và số điểm chất
lượng
Bảng 2.19. Các chỉ tiêu phân loại nhóm nghiên cứu
Bảng 2.20: Kết quả phân tích bằng kiểm định tham số trung bình hai mẫu độc lập
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Danh sách 10 công ty kiểm toán độc lập lớn trong mẫu khảo sát
Phụ lục 2: Tổng hợp 4 chỉ tiêu lớn trong báo cáo hoạt động doanh nghiệp kiểm toán
năm 2014
Phụ lục 3: Dữ liệu khảo sát tổng hợp dùng cho phân tích
Phụ lục 4: Hệ số tương quan giữa các yếu tố với chất lượng thủ tục đánh giá rủi ro
Phụ lục 5: Kiểm định sự khác biệt giữa các yếu tố tác động tới chất lượng thủ tục
trên BCTC, chiến lược tiếp cận kiểm toán hiện hành là chiến lược tiếp cận dựa trên rủi ro
kinh doanh.
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về việc áp dụng mô hình rủi ro kinh doanh
trong quy trình đánh giá rủi ro của cuộc kiểm toán BCTC, một số nghiên cứu nổi tiêu biểu
có thể kể ra bao gồm:
Bell, tác giả tiên phong trong nghiên cứu mô hình rủi ro kinh doanh. Vào năm 1997
trong cuốn “Tổ chức kiểm toán thông qua hệ thống chiến lược - Quy trình đánh giá đơn vị
của KPMG”, Bell chỉ ra việc sử dụng mô hình rủi ro kinh doanh để đáp ứng kịp thời sự
tăng trưởng và thay đổi mạnh mẽ về môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp cũng
như giúp KTV có thể thu thập được sự hiểu biết đầy đủ và chính xác về đơn vị nhằm nâng
cao chất lượng kiểm toán.
Lemon và các cộng sự (2000) cũng đã chỉ ra rằng tính hiệu quả của cuộc kiểm toán
và các dịch vụ cho khách hàng được xem là hai lý do chính cho sự phát triển của mô hình
rủi ro kinh doanh.
Trong bài viết “Phương pháp kiểm toán dựa trên rủi ro kinh doanh: nguồn gốc, trở
ngại và cơ hội” của Robert Knechel 2007 cho rằng nguồn gốc của phương pháp tiếp cận
kiểm toán theo rủi ro kinh doanh xuất phát từ quản trị rủi ro. Sự xuất hiện của quản trị rủi
ro.
2
Tại Việt Nam, khá nhiều luận văn Thạc sĩ đã đề cập đến chủ đề này, chẳng hạn như
luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Thu Trang về “Giải pháp hoàn thiện đánh giá rủi ro trong
kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán Việt Nam” (2008) đã trình bày cơ sở
lý luận của rủi ro kiểm toán kiểm toán và các thủ tục đánh giá rủi ro dựa trên chuẩn mực
kiểm toán quốc tế và Việt Nam đến năm 2005. Từ thực trạng đánh giá rủi ro tại các công
ty kiểm toán, tác giả đã đưa ra giải pháp để hoàn thiện các tồn tại đã nêu cho các đối tượng
gồm các công ty kiểm toánViệt Nam và hội kiểm toán hành nghề Việt Nam cũng như cơ
quan quản lý nhà nước.
Luận án tiến sĩ của Đoàn Ngọc Nga về “Nghiên cứu đánh giá trọng yếu và rủi ro
Thứ nhất, khảo sát thực trạng quy trình đánh giá kiểm toán trong kiểm toán báo cáo
tài chính tại các công ty kiểm toán độc lập lớn ở Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, phát hiện các thủ tục liên quan đến quy trình đánh giá rủi ro theo yêu cầu
của chuẩn mực hiện hành mà các công ty kiểm toán chưa tuân thủ. Đồng thời, nhận diện
loại công ty kiểm toán (là thành viên hang quốc tế hay không là thành viên hãng quốc tế)
chưa tuân thủ chuẩn mực đánh giá rủi ro.
Thứ ba, đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của
quy trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán Báo cáo tài chính.
3. Đối tượng/phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Các công ty kiểm toán độc lập lớn đang hoạt động tại Việt Nam, trong
đó chủ yếu tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu: thủ tục đánh giá trong kiểm toán BCTC tại các công ty kiểm
toán độc lập, không nghiên cứu các đối tượng khác như Kiểm toán Nhà Nước và Kiểm
toán nội bộ cũng như không nghiên cứu các thủ tục kiểm toán tiếp theo trong quy trình
kiểm toán BCTC.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là phương pháp định lượng, trên cơ
sở vận dụng các kỹ thuật như điều tra thống kê, ứng dụng các mô hình để xử lý dữ liệu.
Trong đó, Luận văn còn kiểm định T-test nhằm xác định mối tương quan giữa đánh giá
kiểm toán với các nhân tố có liên quan.
4
Về phương pháp điều tra: luận văn thực hiện thông qua bảng câu hỏi được gửi đến
các KTV để thu thập thông tin thực tế và đánh giá thực trạng tại các công ty kiểm toán độc
lập lớn ở Việt Nam. Đối tượng khảo sát là các Trưởng phòng và Trưởng nhóm kiểm toán
trực tiếp tiến hành đánh giá rủi ro cho từng khách hàng. Đồng thời, tác giả cũng sẽ tiến
hành phỏng vấn một số trưởng nhóm và trưởng phòng để tìm hiểu thêm về nguyên nhân,
lý do câu trả lời được lựa chọn.
Bên cạnh dữ liệu sơ cấp, người viết cũng sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, được thu
Kiểm Toán. Đây là sách giáo khoa chuyên ngành kiểm toán đầu tiên đề cập tới phương
6
pháp kiểm tra, phương pháp này được Dicksee (1904) mô tả là “phương pháp bảng cân đối
kế toán”. Phương pháp kiểm toán này chủ yếu thực hiện trong giai đoạn 1904 tới năm 1960.
Theo phương pháp tiếp cận này, kiểm toán viên sẽ dưa vào Bảng cân đối kế toán để
kiểm tra các số dư của các tài khoản liên quan đến tài sản và nợ phải trả, không chú trọng
đến các khoản mục trên báo kết quả hoạt động kinh doanh vì cho rằng kết quả hoạt động
kinh doanh đã được thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Phương thức tiếp cận này chưa chú
trọng đến việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Do vậy làm KTV mất nhiều thời gian
cho việc kiểm tra và hiệu quả không cao. Đến nay, phương thức này vẫn được sử dụng khi
kiểm toán cho các doanh nghiệp nhỏ, có hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém.
Trước các khiếm khuyết của phương pháp nêu trên, một phương pháp mới ra đời phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên hệ thống. Arens và Loebbecke (1976) cũng đề
cập về phương pháp này và gọi đây là phương pháp tiếp cập tích hợp.
Phương pháp kiểm toán dựa trên hệ thống được sử dụng rộng rãi từ năm 1960 đến
năm 1990.
Tên phương pháp
Khoảng thời gian
phát triển
Phương pháp bảng cân đối kế toán
Phương pháp dựa trên hệ thống
Trước 1890
1960
Phương pháp kiểm toán dựa trên rủi ro
Mô hình Elliott và Rogers
(Nguồn: Jeffrina Prinsloo – 2008: The development and evaluation of risk-based audit
approaches)
Vào những năm 1990, các tập đoàn lớn trên thế giới tiếp tục phát triển về quy mô
dẫn đến việc ghi nhận các giao dịch phát sinh trở nên vô cùng phức tạp. Thời kỳ này cũng
7
chứng kiến một giai đoạn mà những CEO nhận được tiền thưởng dựa trên kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp (Zeff, 2003b). Nhìn chung, các thay đổi của môi trường
kinh doanh đã ảnh hưởng đến khả năng có sai sót trọng yếu trên BCTC, các công ty kiểm
toán đã chuyển hướng sang phương pháp tiếp cận mới là tiếp cận dựa trên rủi ro tài chính.
Phương pháp tiếp cận này đòi hỏi KTV phải xem xét vá đánh giá rủi ro trong quá trình
thiết kế chương trình kiểm toán. Chương trình kiểm toán phải nhấn mạnh vào những khu
vực có rủi ro cao và các khoản mục trọng yếu trong cuộc kiểm toán. Như vậy, cuộc kiểm
toán sẽ hiệu quả về mặt chi phí. Vào cuối những năm 1990, các công ty kiểm toán lớn bắt
đầu cạnh tranh phí kiểm toán rất quyết liệt, vì vậy buộc họ phải triển khai các giải pháp
thay thế cho những quy trình tốn kém của phương pháp kiểm toán truyền thống. Dựa trên
kết quả nghiên cứu, Fischer (1996) cho rằng cần phải có một phương pháp tốt hơn để thực
hiện kiểm toán mà hiệu quả vẫn không thay đổi. Ông đề nghị một phương pháp tiếp cận
mới để thích ứng với môi trường công nghệ phát triển ngày càng nhanh và giảm bớt hoặc
loại bỏ các thủ tục kiểm toán tốn kém và không mang lại hiệu quả. Phương thức tiếp cận
dựa trên rủi ro tài chính được nâng cấp bằng cách tập trung nhiều hơn vào rủi ro kinh
doanh. Theo phương thức tiếp cận này, KTV sử dụng hiểu biết về khách hàng, môi trường
hoạt động để có thể thực hiện một cuộc kiểm toán hữu hiệu và hiệu quả hơn. KTV sẽ không
còn tập trung vào các nghiệp vụ thường xuyên tức là giả định rằng các nghiệp vụ được
kiểm soát chặt chẽ bởi hệ thống kiểm soát nội bộ. Thay vào đó, KTV sẽ tập trung kiểm tra
các nghiệp vụ bất thường, những ước tính kế toán và các đánh giá của nhà quản lý vì đây
có thể là những vấn đề tạo nên sai lệch trong yếu trên báo cáo tài chính.
Lemon và các cộng sự (2000) đã nêu ra tám lý do để áp dụng mô hình rủi ro kinh
doanh trong kiểm toán. Trong đó có 3 lý do chính là: Hiệu quả kiểm toán: để có một cuộc
Các công ty kiểm toán cũng đã phát triển và ứng dụng mô hình tiếp cận trên trong
giai đoạn từ năm 1983 đến 1991 được trình bày như bảng 1.3:
Tác giả
Giai đoạn
Công ty kiểm toán
Elliott
1983
Peat Marwick International
Grobstein & Craig
Graham
1984
1985
Ernst & Whinney
Coopers & Lybrand
Grant Thornton International
1986
Grant Thornton International
KMG Aiken & Carter
nghiên cứu cũng cho thấy cả hai yếu tố nêu trên có liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng có thể
tách biệt một cách rõ ràng.
1.1.2.3.
Nghiên cứu về chiến lược tiếp cận dựa trên rủi ro kinh doanh
Mô hình rủi ro kinh doanh đã được Bell đề cập rất đầy đủ vào năm 1997 trong cuốn
“Tổ chức kiểm toán thông qua hệ thống chiến lược - Quy trình đánh giá rủi ro đơn vị tại
KPMG”. Bell chỉ ra việc sử dụng mô hình rủi ro kinh doanh để đáp ứng kịp thời sự tăng
trưởng và thay đổi mạnh mẽ về môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như
giúp KTV có thể thu thập được sự hiểu biết đầy đủ và chính xác về đơn vị nhằm nâng cao
chất lượng kiểm toán.
Phương pháp kiểm toán dựa vào rủi ro kinh doanh được xây dựng từ định nghĩa
trong việc kiểm toán báo cáo tài chính, ví dụ như việc thu thập thông tin về tình hình kinh
doanh của khách hàng theo phương thức “từ trên xuống” (“top down”) hoặc là phương
pháp tiếp cận hệ thống trong việc kiểm toán Báo cáo tài chính (Bell và các cộng sự, 1997).
Bell và các cộng sự giải thích cho phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro
kinh doanh như sau: “Nếu một công ty có một chiến lược khả thi, những kế hoạch hợp lý,
hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả, và sổ sách kế toán gần đúng với sự mong chờ, thì nhu
cầu cho việc kiểm toán chi tiết sẽ bị giới hạn cho những khoản mục ngoại lệ.”
Các nghiên cứu của KPMG cho rằng phương pháp tiếp cận dựa trên hệ thống rủi ro
là một phương pháp sáng tạo và có tác hiệu quả cao để đáp ứng các mục tiêu kiểm toán và
công ty kiểm toán. Trong phương pháp này, các kiểm toán viên vẫn sử dụng một số thủ tục
10
truyền thống, họ vẫn dành phần lớn thời gian kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro, thực
hiện các thủ tục thông thường đối với hầu hết các phần hành và đưa ra các ý kiến về các
báo cáo tài chính.
Sự khác biệt lớn nhất ở đây là việc tiếp cận trên đòi hỏi một nền tảng kiến thức bao
ro là công cụ quan trọng nhất trong chiến lược quản lý, trong đó khái niệm về quản trị rủi
ro lại liên quan rất chặt chẽ với khái niệm rủi ro kiểm toán, sẽ đi vào quá trình kiểm toán.
Tác giả cho rằng sự tăng trưởng nhanh chóng của hoạt động kiểm toán trong những năm
1980, việc mở rộng của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế, sự cải tiến công nghệ và yêu cầu
nhận thức để giảm chi phí trong quá trình kiểm toán, KTV buộc phải phát triển một cách
tiếp cận kiểm toán mới. Chính những áp lực và động cơ này đã dẫn đến sự phát triển của
phương pháp tiếp cận trên rủi ro kinh doanh, dựa trên khái niệm trong quản trị rủi ro.
Knechel còn chỉ ra các thách thức của phương pháp tiếp cận rủi ro kinh doanh, nó đến từ
đợn vị được kiểm toán, từ nhóm kiểm toán và từ xã hội.
Hiện nay, các công ty kiểm toán BIG 4 cũng đã nghiên cứu và cụ thể hóa quy trình
đánh giá rủi ro tiếp cận theo rủi ro kinh doanh trong các chương trình kiểm toán tại Công
ty như tài liệu KAM của công ty KPMG, PWC Audit Guide của PWC, EY GAM của E&Y.
1.1.2.4.
Nghiên cứu về việc sử dụng chuẩn mực kiểm toán để tiếp cận rủi ro
Elliott (1983) cho rằng công ty kiểm toán cần áp dụng phương pháp tiếp cận kiểm
toán dựa trên rủi ro vì yêu cầu kiểm toán là phải tuân thủ các hướng dẫn của chuẩn mực
kiểm toán, các công ty nào tuân thủ chuẩn mực kiểm toán, sẽ cung cấp một dịch vụ chuyên
nghiệp hiệu quả cho khách hàng.
1.1.3. Những khó khăn khi vận dụng mô hình rủi ro kinh doanh trong đánh giá rủi
ro
Một dòng nghiên cứu khác tập trung vào những khó khăn mà kiểm toán viên gặp
phải trong việc áp dụng đánh giá trong kiểm toán BCTC cũng như áp dụng mô hình rủi ro
kinh doanh trong tiếp cận rủi ro để từ đó đề xuất biện pháp cải thiện.
Thứ nhất, cần phải xét đoán ảnh hưởng rủi ro đến thủ tục kiểm toán. W. Robert
Knechel (2006) đã phát hiện những khó khăn mà kiểm toán viên gặp phải trong việc áp
dụng đánh giá rủi ro, đó là phải hiểu được ảnh hưởng của việc đánh giá rủi ro đến những
trình tự và kĩ thuật kiểm toán sử dụng (Pentland, 1993, trang 607). Mặc dù việc đánh giá
2004, trang 366).
13
Thứ tư, liên quan đến nhu cầu cần thu thập thông tin ngoài phạm vi kế toán từ những
nguồn chủ yếu trong doanh nghiệp. Kiểm toán viên phải tiếp cận với nhân viên của doanh
nghiệp khác với bộ phận kế toán, như là nhân viên ở bộ phận sản xuất, nghiên cứu phát
triển và bộ phận nhân sự. Điều này tạo ra những thử thách mới bởi vì những dữ liệu này
không thuộc về kinh nghiệm trước đó của kiểm toán viên (Humphrey và các cộng sự, 2004;
Power, 2003). Kết quả là, một cách rõ ràng và lô-gíc việc mở rộng quy trình kiểm toán thì
không dễ dàng để thực hiện.
Thứ năm, liên quan đến kinh nghiệm đối với phương pháp tiếp cận mới - các kiểm
toán viên được đào tạo để thực hiện theo quy trình kiểm toán (Pentland, 1993, trang 608).
Phương pháp kiểm toán tiếp cận theo đánh giá rủi ro kinh doanh làm thay đổi phương pháp
kiểm toán theo quy trình của các kiểm toán viên, làm cho các kiểm toán viên gặp khó khăn
khi không tiến hành thực hiện từng bước theo quy trình kiểm toán. Kiểm toán viên, đặc
biệt là các trưởng phòng kiểm toán sẽ cảm thấy áp lực với phương pháp tiếp cận kiểm toán
mới bởi vì họ bị áp lực phải hoàn thành công việc trước thời hạn và trong phạm vi dự toán
chi phí. Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình mới vẫn là phương pháp tối ưu để đem lại những
lợi ích (Fischer, 1996; Lemon và các cộng sự, 2000, trang 22). Một số thử thách bao gồm:
Kiểm toán viên không nắm rõ về quy trình: phương pháp đánh giá rủi ro kinh doanh
tạo ra những sự thay đổi, câu hỏi thông thường từ các kiểm toán viên là “Chúng ta nên bắt
đầu từ đâu?” Phương pháp đánh giá rủi ro kinh doanh được tiến hành khác với quy trình
kiểm toán trong quá khứ và một trong những mục tiêu của việc thiết kế lại quy trình kiểm
toán là giảm bớt thời gian cho các kiểm toán kiểm toán viên cho công việc sau khi kết thúc
năm. Với phương pháp đánh giá rủi ro kinh doanh, thời gian đánh giá rủi ro trở thành một
kết thúc mở. Thật vậy, rủi ro kinh doanh của một tổ chức thay đổi liên tục vì vậy những
đánh giá được thực hiện trước đó có thể không đáng tin cậy trong tương lai, vì vậy cần thiết
phải thực hiện cập nhật liên tục đối với đánh giá rủi ro. Ví dụ, liệu kiểm toán viên có nên
điều chỉnh thủ tục kiểm toán với những rủi ro trọng yếu được xác định trong tháng năm
lớn những cá nhân trong tổ chức của khách hàng để đạt được sự kết luận về sự hiểu biết và
sự thẳng thắn của những người được phỏng vấn. Hầu hết kiểm toán viên cảm thấy dễ dàng
hơn trong việc xem xét các tài liệu bằng giấy. Vì số lượng bằng chứng kiểm toán đến từ
việc phỏng vấn gia tăng trong phương pháp đánh giá rủi ro kinh doanh, nên cần thiết phải
có những đánh giá thận trọng bởi kinh nghiệm và sự hiểu biết trong việc tương tác với
khách hàng (Power, 2003).