Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước trong khu vực đông nam á - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

---o0o---

HOÀNG LÊ KIỀU TRANG

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƢỞNG
KINH TẾ TẠI MỘT SỐ NƢỚC TRONG
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

---o0o---

HOÀNG LÊ KIỀU TRANG

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƢỞNG
KINH TẾ TẠI MỘT SỐ NƢỚC TRONG
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Tài chính –Ngân hàng
Mã số: 60340201


5. Bố cục luận văn...................................................................................................... 3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ ............................................... 4
1.1 Tổng quan lý thuyết ............................................................................................ 4
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài .............................................................. 4
1.1.2 Khái niệm tăng trưởng kinh tế ........................................................................... 4
1.1.3 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế ................................................... 5
1.2 Tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đến tăng trƣởng kinh tế .............. 7
1.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
đến tăng trƣởng kinh tế .......................................................................................... 14
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................ 21


CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƢỚC
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á .................................................................................... 22
2.1 Tình hình đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại một số nƣớc trong khu vực Đông
Nam Á ....................................................................................................................... 22
2.1.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Indonesia ........................................ 24
2.1.2 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Malaysia ......................................... 25
2.1.3 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Philippines...................................... 26
2.1.4 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Singapore ....................................... 27
2.1.5 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thái Lan ......................................... 29
2.1.6 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam ........................................ 30
2.2 Phân tích tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đến tăng trƣởng kinh tế
của một số nƣớc trong khu vực Đông Nam Á ...................................................... 31
2.2.1 Mô hình nghiên cứu ......................................................................................... 31
2.2.2 Dữ liệu nghiên cứu ........................................................................................... 38
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu.................................................................................. 39
2.2.4 Kết quả nghiên cứu .......................................................................................... 43

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

Asean

Association of Southeast Asian
Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

FDI

Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP

Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội

GMM

General Method of Moments

Mô hình Moments Tổng quát

GNI

Gross national income

Bảng 2.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu và kỳ vọng về dấu của từng
biến:

..................................................................................................................... 37

Bảng 2.2: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình ........................................... 44
Bảng 2.3: Kết quả ma trận tự tương quan ................................................................. 47
Bảng 2.4: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai ......... 48
Bảng 2.5: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình ........................................ 50
Bảng 2.6: Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình .................................................. 51
Bảng 2.7: Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình GMM................................................ 52


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào
ròng trên GDP của Indonesia giai đoạn 1990 -2014 (%/năm) .................................. 24
Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào
ròng trên GDP của Malaysia giai đoạn 1990 -2014(%/năm) .................................... 25
Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào
ròng trên GDP của Philippines giai đoạn 1990 -2014(%/năm) ................................ 27
Biểu đồ 2.4: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào
ròng trên GDP của Singapore giai đoạn 1990-2014(%/năm) ................................... 27
Biểu đồ 2.5: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào
ròng trên GDP của Thái Lan giai đoạn 1990 – 2014(%/năm) .................................. 29
Biểu đồ 2.6: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào
ròng trên GDP của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2014(%/năm) ................................. 30


1



2

chính xác hơn lý thuyết của tự do hóa tài khoản vốn và quyết định chính sách tốt
hơn ở Asean.
Báo cáo của UNCTAD (2000) lưu ý rằng việc sử dụng hiệu quả dòng vốn để
nâng cao tốc độ tăng trưởng là không thể thực hiện nếu không có cơ chế kiểm soát
quản lý thích hợp. Báo cáo của UNECA (2006) cũng chỉ ra rằng cơ chế quản lý
được xem như yếu tố quyết định và cũng là yếu tố tác động đến các dòng vốn.
Nhiều nghiên cứu khác cũng đã lưu ý rằng việc thiếu thành công của các chương
trình tự do hóa ở nhiều nước đang phát triển là do chế độ quản lý không đầy đủ
hoặc không thích hợp. Tuy nhiên, vẫn chưa có bất kỳ nghiên cứu thực nghiệm nào
để kiểm tra mối quan hệ này để hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách. Bài
nghiên cứu “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tăng trưởng kinh tế
tại một số nước trong khu vực Đông Nam Á” sẽ góp phần đáng kể trong giải thích
này.
2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
Thứ nhất, đánh giá tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế tại

-

một số nước trong khu vực Đông Nam Á.
Thứ hai, xem xét hệ thống luật, quy định có tác động như thế nào đến mối

-

quan hệ FDI – tăng trưởng.
Và cuối cùng đưa ra một số gợi ý chính sách dựa trên các kết quả thực


Moments) trên nền tảng kiểm định Sargan để kiểm định mối quan hệ giữa dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế. Sử dụng phần mềm stata 12 để
hỗ trợ xử lý dữ liệu.
5. Bố cục luận văn
Nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng
trưởng kinh tế.
Chương 2: Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng
kinh tế tại một số nước khu vực Đông Nam Á.
Chương 3: Kết luận và đề xuất giải pháp thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.


4

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
1.1 Tổng quan lý thuyết
1.1.1 Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Việc quốc tế hóa thị trường đã khuyến khích các công ty xây dựng cách tiếp
cận đa dạng để kinh doanh quốc tế, dẫn đến hoạt động rộng lớn như đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI). Tồn tại nhiều định nghĩa về FDI, chẳng hạn theo Griffin &
Pustay (2007), FDI được xem là việc kiểm soát 10% hoặc hơn chứng khoán có
quyền biểu quyết của doanh nghiệp hoặc các lợi ích tương đương trong một doanh
nghiệp chưa hợp nhất. Farrell (2008) định nghĩa FDI như là một gói vốn, công
nghệ, quản lý và điều hành cho phép công ty có thể hoạt động và cung cấp hàng
hóa, dịch vụ trong một thị trường nước ngoài.
Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF) định nghĩa:
“đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, FDI) là một công cuộc đầu
tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt

quân đầu người (GDP/người) để đo lường tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế.
1.1.3 Các nhân tố tác động đến tăng trƣởng kinh tế
Hiện nay có rất nhiều nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia
nhưng tựu chung lại gồm có các nhân tố cơ bản sau:
 Thứ nhất, nguồn nhân lực; Nhiều nhà kinh tế cho rằng nguồn nhân lực hay
vốn con người là yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng kinh tế. Theo
Schultz (1961), vốn con người bao gồm thể trạng, trình độ học vấn, kỹ năng,
kinh nghiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật lao động. Có thể nói: “nguồn lực con
người là nguồn lực của mọi nguồn lực”, là “tài nguyên của mọi tài nguyên”.
Vì vậy, con người có sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình,
được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế.
 Thứ hai, vốn đầu tư; Vốn đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng của
quá trình sản xuất. Vốn đầu tư bao gồm: đầu tư tư nhân, đầu tư chính phủ và
đầu tư nước ngoài. Các quốc gia đang phát triển muốn tích lũy vốn trong


6

tương lai cần có sự hy sinh tiêu dùng cá nhân trong hiện tại. Vốn đầu tư của
toàn xã hội không chỉ là máy móc, thiết bị dùng cho sản xuất, mà còn bao gồm
cả lượng vốn đầu tư để phát triển lợi ích chung của toàn xã hội. Đó là lượng
vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia, mà phần lớn là do chính phủ
đầu tư. Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài cũng đóng vai trò quan
trọng không kém. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra mối liên hệ giữa tăng GDP với
tăng vốn đầu tư. Harod Domar đã nêu công thức tính hiệu suất sử dụng vốn,
viết tắt là ICOR (Incremental Capital Output Ratio). Đó là tỷ lệ tăng đầu tư
chia cho tỷ lệ tăng của GDP. Những nền kinh tế thành công thường khởi đầu
quá trình phát triển kinh tế với các chỉ số ICOR thấp, thường không quá 3%,
có nghĩa là muốn tăng 1% GDP thì vốn đầu tư phải tăng 3%.
 Thứ ba, tiến bộ công nghệ; Tiến bộ công nghệ có tác dụng thúc đẩy tăng

Trong sự biến động của các dòng vốn vào những năm 1990, FDI là dòng vốn
chính chảy vào các nước đang phát triển. Không giống như nhưng dòng vốn khác,
FDI ít biến động hơn và không thể hiện những xu hướng chu kỳ. Do đó FDI trở
thành dòng vốn được ưa thích ở những nước đang phát triển. Dòng vốn FDI tăng
nhanh chóng ở khắp các khu vực trên thế giới trong giai đoạn những năm 1980 và
1990 đã tạo nên những cuộc tranh cãi về lợi ích và chi phí của dòng vốn này. Có
một số luận điểm cho rằng, với một mức độ phát triển nhất định và một thể chế phù
hợp, FDI có thể đóng vai trò then chốt trong quá trình tạo nên một môi trường kinh
tế tốt hơn. Mặt khác, FDI vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế như làm suy yếu cán
cân thanh toán do việc chuyển lợi nhuận từ nước nhận đầu tư về nước đầu tư, tác
động tiêu cực đến khả năng canh trạnh của các doanh nghiệp trong nước. Hiện tại,
có một quan điểm chung cho rằng có một mối quan hệ tích cực giữa FDI và tăng
trưởng ở những quốc gia đã đạt được một mức độ phát triển tối thiểu về giáo dục,
công nghệ và cơ sở hạ tầng.
Do thâm hụt tiết kiệm và thiếu hụt thanh khoản ở các nước đang phát triển,
FDI được xem là một nguồn quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn mới cả về vật
chất lẫn con người (Busse and Groizard, 2008). FDI được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến tăng trưởng thông qua sự gia tăng nguồn vốn ở nước nhận đầu tư và
gián tiếp thông qua phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ tiên tiến


8

(de Mello,1999). Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về
tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Mô hình tăng trưởng tân cổ
điển cho rằng tiến bộ công nghệ và lực lượng lao động là yếu tố ngoại sinh, FDI chỉ
làm tăng sản lượng mà không giúp tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. FDI chỉ có thể
kích thích tăng trưởng trong dài hạn thông qua tác động lên việc phát triển công
nghệ và lực lượng lao động (Solow, 1956).
Trái ngược với mô hình tăng trưởng tân cổ điển, các mô hình tăng trưởng nội

thực hiện các công nghệ mới chính là FDI. FDI được coi là nguồn quan trọng
để phát triển công nghệ của nước nhận đầu tư. Vai trò này được thể hiện qua
hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ có sẵn từ bên ngoài vào và sự
phát triển công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà.
Do có công nghệ cùng với trình độ quản lý được nâng lên nên đối với các
ngành sản xuất thì việc tăng năng suất là điều tất yếu. Không những thế những
công nghệ này còn cho ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, tính năng
đa dạng hơn, bền hơn và với những mẫu mã đa dạng, hàng hoá lúc này sẽ
nhiều và tất nhiên sẽ rẻ hơn so với trước. Điều này chính là cung tăng lên
nhưng thực ra nó tăng lên để đáp ứng lại lượng cầu cũng tăng lên rất nhanh do
quá trình đầu tư tác động vào. Tốc độ quay của vòng vốn tăng lên nhanh hơn,
do vậy sản phẩm cũng được sản xuất ra nhiều hơn và tiêu thụ cũng nhiều hơn.
Do sự tiêu thụ được tăng lên do vậy các ngành sản xuất, dịch vụ được tiếp
thêm một luồng sức sống mới, nhân lực, máy móc và các nguyên vật liệu được
đem ngay vào sản xuất, từ đó đóng góp của các ngành này vào GDP cũng tăng
lên.
 Thứ hai, FDI làm tăng mức độ kiến thức và kỹ năng ở nước sở tại thông qua
lao động và quản lý đào tạo (de Mello, 1996, 1999), giúp phát triển nguồn
nhân lực và tạo việc làm. Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là nhân tố
quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài
là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố vị thế và duy trì lợi thế cạnh tranh trên
thị trường thế giới. Do đó, nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm đến việc
tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư. Số lượng lao động
trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI có xu hướng tăng nhanh ở các
nước đang phát triển. Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công


10

cho các dự án FDI góp phần tạo thêm nhiều cơ hội nghề nghiệp. FDI cũng có

11

sở hạ tầng… Ở các nước đang phát triển, các nghiên cứu vĩ mô về mối quan hệ
FDI-tăng trưởng đã chỉ ra rằng: một số nhân tố quan trọng như chế độ thương mại,
nguồn nhân lực, các quy định của thị trường tài chính, hệ thống ngân hàng và mức
độ mở cửa của nền kinh tế - góp phần làm FDI tác động tích cực đến tăng trưởng
kinh tế chung. ( Balasubramanyam và cộng sự, 1996, 1999; Borensztein và cộng sự,
1998; Nair-Reichert và Weinhold, 2001; Aitken and Harrison, 1999).
 Độ mở cửa thƣơng mại: cũng đóng vai trò như một nhân tố cần thiết cho mối
quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế càng mở cửa thì mức độ
giao thương, buôn bán càng mạnh, các doanh nghiệp sẽ có thị trường xuất nhập
khẩu lớn hơn và có nhiều cơ hội hơn trong đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh, tiên phong của Romer (1986) và Lucas (1988)
cũng đã cung cấp bằng chứng thuyết phục cho đề xuất sự gia tăng trong hoạt
động xuất nhập khẩu có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế.
Balasubramanyam và cộng sự (1996); UNCTAD (1998) đề xuất rằng tác động
tích cực của FDI còn phụ thuộc vào độ mở cửa thương mại. FDI góp phần mở
rộng thị trường xuất khẩu thông qua các giao dịch của công ty đa quốc gia –
kênh phân phối hàng hóa và dịch vụ từ nước này sang nước khác.
 Nguồn nhân lực: Nguồn lực về con người thể hiện qua chất lượng và số lượng
lao động. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh muốn thực hiện được phải cần
nhân tố con người. Khi một nên kinh tế có nguồn lao động dồi dào và đáp ứng
được nhu cầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nhanh chóng đưa dự
án vào hoạt động. Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô dân số và tỉ lệ dân
số ở trong độ tuổi lao động, quốc gia có một nguồn lao động dồi dào sẽ đáp ứng
được nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất và vận hành dự án có quy mô lớn của
nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, số lượng lao động nhiều vẫn chưa đủ, vấn đề
quan trọng hơn hết là chất lượng lao động. Khi lao động có chất lượng cao, họ
sẽ tham gia vào sản xuất tốt hơn vì những kiến thức họ có không phải là nhỏ,
bao gồm cả những kiến thức cơ bản và kinh nghiệm qua thời gian. Hơn nữa, họ

nhà đầu tư không được bảo toàn.
 Hệ thống luật, quy định và các chính sách khyến khích đầu tƣ, kinh doanh:
Thời gian gần đây, một loạt các nghiên cứu được công bố đã kiểm tra mối liên
hệ giữa hiệu quả các quy định của thị trường tài chính, FDI và tăng trưởng. Về


13

bản chất, Hermes và Lensink (2003), Durham (2004) và Alfaro et al. (2004)
thấy rằng tất cả các nước có hệ thống tài chính tốt và các quy định của thị
trường tài chính hiệu quả thì có thể khai thác FDI hiệu quả hơn và đạt được tốc
độ tăng trưởng cao hơn. Những nghiên cứu này cho thấy rằng, các nước không
chỉ cần một hệ thống ngân hàng ổn định, mà còn cần một cấu trúc thị trường tài
chính phù hợp cho phép các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng
để bắt đầu bắt đầu hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh. Ngoài ra một môi
trường đầu tư thông thoáng và thuận tiên luôn là nơi mà các nhà đầu tư tìm đến.
Có rất nhiều lý thuyết đề cập đến vấn đề các nhân tố tác động đến FDI ở các
nước đang phát triển, và đều cho thấy tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng, kỹ năng,
môi trường vĩ mô ổn định và một hệ thống tài chính lành mạnh trong việc thu hút
dòng vốn FDI (Borghesi and Giovannetti, 2003). Theo de Mello (1997) và OECD
(2002), cho rằng các nước đang phát triển phải đạt được một mức độ nhất định của
sự phát triển, giáo dục và cơ sở hạ tầng, trước khi họ có thể nắm bắt những lợi ích
tiềm năng liên quan đến FDI.
Mặc dù đã có những lý thuyết ủng hộ cho những lợi ích của FDI, nhưng vẫn
tồn tại quan điểm cho rằng FDI có thể sẽ tác động tiêu cực đến nước nhận đầu tư
như lấn át đầu tư nội địa, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, đe dọa an ninh quốc gia,
làm mất ổn định tài chính và phụ thuộc vào vốn nước ngoài. FDI không chỉ là
chuyển quyền sở hữu từ trong nước cho người nước ngoài mà còn là một cơ chế
giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện quản lý và điều khiển các doanh
nghiệp nội địa, là một cơ chế quản trị công ty. Việc chuyển quyền kiểm soát từ các

những chuyển giao công nghệ từ FDI. Đồng thời nên kiểm soát vấn đề tham nhũng,
lạm phát và biến động tỷ giá.
Li và Liu (2005) kiểm định mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng thông qua dữ
liệu chéo của 84 quốc gia trong giai đoạn 1970 – 1999 và thấy rằng mối liên hệ
mạnh mẽ giữa FDI và tăng trưởng ở cả nước phát triển và đang phát triển không chỉ
dựa trên FDI mà còn dựa trên sự tương tác giữa FDI và những nhân tố quan trọng
khác. Theo phân tích của họ, mối quan hệ FDI, tăng trưởng chỉ thật sự có ý nghĩa từ
giữa những năm 1980. Họ khẳng định lại quan điểm những quốc gia có thị trường
rộng lớn sẽ thu hút được FDI. Đồng thời, nguồn nhân lực và khả năng tiếp thu công


15

nghệ không chỉ là nhân tố thu hút FDI, mà còn là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế.
Nghiên cứu của Nair (2010). Nghiên cứu này khảo sát tác động của FDI đối
với tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ cho giai đoạn 1970-2007. Tác giả cho rằng quyết
định của một công ty đa quốc gia đầu tư ra nước ngoài là bởi những lợi thế của năng
suất cao và chi phí thấp. Từ quan điểm của nước nhận đầu tư, lợi ích của FDI không
chỉ tập trung ở tăng trưởng kinh tế; các công ty đa quốc gia còn mang về những quy
trình và công nghệ sản xuất mới, giúp đào tạo lực lượng lao động. Tuy nhiên dòng
vốn FDI đổ vào một quốc gia còn bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác. Sử dụng
kiểm định nhân quả Granger Causality Tests, bài nghiên cứu tìm thấy hai nhân tố
đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế ở Ấn
Độ đó là nguồn nhân lực sẵn có và độ mở cửa thương mại. Kết quả chỉ ra rằng, mối
liên kết tích cực giữa FDI và tăng trưởng trở nên mạnh hơn khi kết hợp với hai biến
tương tác trên.
Borensztein và cộng sự (1995) kiểm định về tác động của FDI đến tăng trưởng
kinh tế ở 69 nước đang phát triển, giai đoạn 1970 – 1989. Kết quả nghiên cứu cho
thấy nhìn chung FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, mặc dù mức độ

of Monments (GMM), dữ liệu bảng trong giai đoạn từ 1960 - 1995 của 72 quốc gia,
cho thấy không có mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế.
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng kiểm định tác động của FDI đến tăng
trưởng kinh tế ở 12 nước Châu Phi tiểu Sahara giai đoạn 1975 – 1999 của Sukar và
cộng sự (2011). Kết quả chỉ ra rằng tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế là
tích cực nhưng không đáng kể và không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Kết
quả này phù hợp với nghiên cứu của Aitken và Harrison (1999), cho rằng tác động
của FDI đến tăng trưởng kinh tế là yếu.
Adams, S. (2015) với nghiên cứu nhằm kiểm định ảnh hưởng của FDI đến
tăng trưởng kinh tế và xem xét cơ chế quản lý tác động thế nào đến mối quan hệ
FDI – tăng trưởng của 22 nước tiểu Châu Phi khu vực Saharan ,trong giai đoạn
1980-2011 . Sử dụng mô hình GMM, kỹ thuật ước lượng, bài nghiên cứu chỉ ra cả
FDI và các điều luật (luật thị trường tín dụng, luật kinh doanh và luật về thị trường



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status