BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
ĐINH LÂM PHÚ ANH
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI,
ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI
MỘT SỐ NƯỚC KHU VỰC ASEAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
ĐINH LÂM PHÚ ANH
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI,
ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI
MỘT SỐ NƯỚC KHU VỰC ASEAN
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang
1.4 Phương pháp nghiên cứu ................................................................................2
1.5 Đóng góp mới của đề tài ..................................................................................2
1.6 Bố cục bài nghiên cứu......................................................................................2
Chương 2. Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây ..................4
2.1 Các nghiên cứu lý thuyết của tăng trưởng kinh tế .......................................4
2.1.1 Mô hình tăng trưởng cổ điển ....................................................................4
2.1.2 Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế ...........................................5
2.1.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes .............................................5
2.1.4 Mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại .....................................................7
2.1.5 Lý thuyết giải thích sự tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến
nền kinh tế ...........................................................................................................8
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ........................................................................11
2.2.1 Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế
............................................................................................................................11
2.2.2 Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước 17
2.2.3 Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước và
tăng trưởng kinh tế...........................................................................................20
Chương 3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu ..................................................31
3.1 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước và tăng
trưởng kinh tế tại ASEAN-4 trong giai đoạn 2002-2014 ..................................31
3.1.1. Thực trạng tăng trưởng kinh tế ............................................................31
3.1.2. Thực trạng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài .......................................32
3.1.3. Thực trạng vốn đầu tư trong nước .......................................................34
3.2 Dữ liệu và biến nghiên cứu............................................................................36
3.3 Mô hình nghiên cứu .......................................................................................39
3.4 Phương pháp nghiên cứu ..............................................................................40
Chương 4. Kết quả thực nghiệm ............................................................................43
4.1 Kiểm định nghiệm đơn vị ..............................................................................43
Bảng 3. 5 Tỷ lệ vốn đầu tư trong nước trên GDP trong giai đoạn 2002-2014 của
ASEAN-4 ..................................................................................................................34
Bảng 3. 6 Thống kê mô tả tỷ lệ vốn đầu tư trong nước trên GDP trong giai đoạn
2002-2014 của ASEAN-4 .........................................................................................35
Bảng 3. 7 Nguồn dữ liệu nghiên cứu ........................................................................39
Bảng 4. 1: Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu ...................................................43
Bảng 4. 2: Độ trễ tối ưu của mô hình VAR/VECM ..................................................44
Bảng 4. 3: Kết quả kiểm định nhân quả Granger ......................................................44
Bảng 4. 4: Kết quả mô hình VECM ..........................................................................46
Bảng 4. 5: Kết quả phân tích mối quan hệ giữa các biến trong ngắn hạn.................47
Bảng 4. 6: Kết quả kiểm định tính dừng phần dư .....................................................49
Bảng 4. 7: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi ...................................................49
Bảng 4. 8: Kết quả kiểm định tự tương quan phần dư của mô hình hồi quy theo
phương pháp LM Tests .............................................................................................50
Bảng 4. 9: Kết quả kiểm tra tính ổn định của mô hình VECM .................................51
Bảng 4. 10: Kết quả phân rã phương sai tăng trưởng kinh tế ...................................56
Bảng 4. 11 : Kết quả phân rã phương sai FDI ..........................................................56
Bảng 4. 12: Kết quả phân rã đầu tư trong nước ........................................................57
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 4. 1: Kết quả hàm phản ứng đẩy của Y đối với các cú sốc tác động ...............51
Hình 4. 2: Kết quả hàm phản ứng đẩy của FDI đối với các cú sốc tác động ............53
Hình 4. 3: Kết quả hàm phản ứng đẩy của DI đối với các cú sốc tác động ..............54
TÓM TẮT
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu
tư trong nước và tăng trưởng kinh tế một số nước khu vực ASEAN.
Đề tài nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu trong giai đoạn 2002-2014 tại 6 nước
trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế tại khu vực ASEAN.
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu có mục tiêu tìm hiểu mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài,
đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế một số nước khu vực ASEAN.
Xoay quanh mục tiêu nghiên cứu, tác giả tập trung trả lời những câu hỏi nghiên cứu
sau:
Có mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với đầu tư trong nước tại các
nước ASEAN-4 (bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia,
Indonesia) hay không? Nếu có thì đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động
khuyến khích hay lấn át đầu tư trong nước?
Có hay không mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước
đến tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN-4?
2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của bài nghiên cứu là mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu
tư trong nước và tăng trưởng kinh tế tại một số nước khu vực ASEAN.
Về phạm vi nghiên cứu, tác giả dùng chuỗi dữ liệu bảng được thống kê tại các nước
ASEAN-4 (bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia)
trong giai đoạn từ 2002-2014.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này, tác giả dùng mô hình VAR/VECM để nghiên cứu mối
quan hệ các biến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn đầu tư trong nước và tăng
2.1 Các nghiên cứu lý thuyết của tăng trưởng kinh tế
2.1.1 Mô hình tăng trưởng cổ điển
Được hình thành cách đây khoảng 200 năm bởi Adam Smith (1723 – 1790) và được
phát triển bởi David Ricardo (1772 – 1823). Mô hình ra đời trong điều kiện nền
kinh tế dựa vào nông nghiệp là chính, đất rộng người thưa, công cụ lạc hậu nên mô
hình này mang những đặc điểm riêng của thời kỳ này.
Theo Adam Smith thì:
Lao động là nguồn gốc cơ bản tạo ra của cải.
Học thuyết “Bàn tay vô hình”: theo ông thì chính phủ không nên kiểm soát thị
trường, cứ để thị trường được tự do hoạt động. Mỗi thành phần hoạt động
trong thị trường tự do sẽ tối đa hóa lợi ích bản thân, từ đó lợi ích cá nhân sẽ
gắn với lợi ích xã hội.
Thu nhập được phân phối theo nguyên tắc “ai có gì được nấy”. Ý tưởng này
dựa trên phân chia xã hội thời bấy giờ gồm 3 thành phần: địa chủ, nhà tư bản
và công nhân. Sự phân phối thu nhập của ba nhóm này phụ thuộc vào quyền
sở hữu của họ đối với các yếu tố sản xuất. Địa chủ có đất sẽ nhận địa tô, nhà
tư bản có vốn sẽ nhận lợi nhuận, công nhân có sức lao động sẽ nhận tiền công.
Mô hình tăng trưởng cổ điển được kế thừa và phát triển bởi David Ricardo. Trong
giới hạn của điều kiện kinh tế xã hội thời đấy, Ricardo cho rằng nông nghiệp là
ngành quan trọng nhất; và trong 3 yếu tố cơ bản quyết định tăng trưởng là đất đai,
lao động và vốn thì yếu tố quan trọng nhất là đất đai. Chính giới hạn của đất đai tạo
Như vậy lập luận của Ricardo là: Tăng trưởng là kết quả của tích luỹ, tích luỹ phụ
thuộc vào lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí
này lại phụ thuộc vào đất đai. Do đó đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng.
2.1.2 Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế
Vào cuối thế kỉ 19, cuộc cách mạng công nghiệp lần 2 diễn ra đã tác động mạnh mẽ
đến nền kinh tế, từ đó mô hình kinh tế tân cổ điển đã ra đời.
Mô hình kinh tế tân cổ điển kế thừa những điểm giống với mô hình cổ điển như sau:
Thừa nhận 3 yếu tố sản xuất quyết định tăng trưởng là đất đai, lao động và
vốn.
Phủ nhận vai trò của chính phủ vào nền kinh tế.
Ngoài tính kế thừa, mô hình kinh tế tân cổ điển đã bổ sung những điểm mới sau:
Bổ sung yếu tố T, yếu tố công nghệ vào mô hình tăng trưởng.
Nâng cao vai trò của vốn (khác mô hình cổ điển vối nhấn mạnh vai trò của đất
đai, lao động).
Để chỉ quan hệ giữa gia tăng sản phẩm và tăng đầu vào, họ sử dụng hàm sản xuất
Cobb-Douglass: Y = F (K,L,R,T)
Trong đó:
G: tốc độ tăng trưởng GDP
sản lượng đầu ra ( ΔY). Hệ số xác định mối quan hệ tỷ lệ giữa sự thay đổi vốn với
đầu ra được gọi là ICOR (Incremental Capital - Output Ratio).
ICOR =
ΔK
ΔY
Mà vốn sản xuất tăng thêm có được từ đầu tư (tức I = ΔK); và tiết kiệm là nguồn
gốc đầu tư (tức S = I). Tóm lại mô hình diễn đạt như sau:
g=
s
𝐼𝐶𝑂𝑅
g: tốc độ tăng trưởng
s: tỷ lệ tiết kiệm = S/Y
Công thức này chỉ ra rằng để tăng trưởng thì cần:
7
-
Tăng tỷ lệ tiết kiệm: tiền tiết kiệm dùng để đầu tư càng lớn thì tăng trưởng
càng nhanh. Tuy nhiên nếu thu nhập bình quân đầu người thấp thì khó nâng
cao tỷ lệ tiết kiệm. Hướng khắc phục chính là thu hút nguồn vốn đầu tư bên
ngoài.
-
Tiết kiệm và vốn đầu tư: các nhà kinh tế học hiện đại cũng thống nhất với mô
hình Harrod-Domar về vai trò tiết kiệm và vốn đầu tư trong tăng trưỏng kinh
tế.
2.1.5 Lý thuyết giải thích sự tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền
kinh tế
Theo bài nghiên cứu của Adams (2009), hai khía cạnh lý thuyết chính đã được sử
dụng để giải thích sự tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế của
nước nhận đầu tư. Đó là lý thuyết hiện đại hóa (modernization theories) và lý thuyết
sự phụ thuộc (dependency theories).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động tích cực đến nền kinh tế:
Lý thuyết hiện đại hóa dựa trên một nguyên tắc cơ bản lý thuyết tăng trưởng tân cổ
điển là tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải đầu tư vốn. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
giúp các nước đang phát triển bổ sung thêm nguồn vốn đầu tư.
Bên cạnh tác động trực tiếp là bổ sung thêm nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế,
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn tác động gián tiếp tới các doanh nghiệp
trong nước như tăng áp lực cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp trong nước phải tăng
hiệu quả kinh doanh và chuyển giao công nghệ. Các tác động này còn được gọi là
hiệu ứng lan tỏa của FDI (FDI spillover effects).
Có bốn loại hiệu ứng lan tỏa (Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự, 2006) :
-
Tác động có liên quan tới cơ cấu đầu ra - đầu vào của doanh nghiệp xuất hiện
khi có sự trao đổi hoặc mua bán nguyên vật liệu hoặc hàng hóa trung gian giữa
doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước. Loại tác động này có thể
sinh ra theo hai chiều: tác động xuôi chiều (forward effect) xuất hiện nếu
doanh nghiệp trong nước sử dụng hàng hóa trung gian của doanh nghiệp FDI
và ngược lại, tác động ngược chiều (backward effect) có thể xuất hiện khi các
doanh nghiệp FDI sử dụng hàng hóa trung gian do các doanh nghiệp trong
lan tỏa của FDI. Kết quả là, đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng hai chức năng bằng
cách góp phần tích lũy vốn và tăng tổng năng suất yếu tố (Nath, 2009).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động tiêu cực đến nền kinh tế:
Ngược lại với quan điểm hiện đại hóa, lý thuyết sự phụ thuộc cho rằng sự phụ thuộc
vào đầu tư nước ngoài dự kiến sẽ có một tác động tương quan nghịch đến tăng
trưởng và phân phối thu nhập. Một số nguyên nhân khiến đầu tư trực tiếp nước
ngoài tác động tiêu cực đến nền kinh tế:
-
Theo bài nghiên cứu của Bornschier và Chase-Dunn (1985), trích trong
Adams (2009), cho rằng đầu tư nước ngoài tạo ra một cơ cấu công nghiệp độc
quyền, điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí các tài nguyên. Adams (2009)
cho rằng các công ty đa quốc gia đi đầu tư thì họ đã cân đối cả chi phí và lợi
ích, hàm ý rằng các công ty đa quốc gia đầu tư vào các nước kém phát triển
tùy thuộc vào lợi ích khoản đầu tư đem lại.
10
-
Cũng theo bài nghiên cứu của Amin (1974), trích trong Adams (2009), một
nền kinh tế bị kiểm soát bởi nước ngoài sẽ không phát triển một cách đầy đủ
mà sẽ phát triển rời rạc. Điều này là do hiệu ứng số nhân (multiplier effect),
cái cho rằng nhu cầu trong một lĩnh vực kinh tế của đất nước sẽ tạo ra nhu cầu
ở lĩnh vực kinh tế khác. Nếu phụ thuộc vào nước ngoài, chỉ phát triển một hay
một số lĩnh vực công nghiệp thì chỉ kéo theo một nền kinh tế dễ tổn thương và
không tạo ra được cầu ở các lĩnh vực kinh tế khác; từ đó dẫn đến tăng trưởng
trì trệ trong các nước đang phát triển. Lập luận này là quan trọng tại Châu Phi
vì hầu hết đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng này là trong các lĩnh vực tài
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm
2.2.1 Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế
Với những lý thuyết nền mâu thuẫn nhau, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã xem xét
mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở các nước
đang phát triển.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Makki và Somwaru (2004) trong bài nghiên cứu “Impact of Foreign Direct
Investment and trade on economic growth: Evidence from developing countries” đã
phân tích vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại trong tăng trưởng
kinh tế của các nước đang phát triển. Các tác giả dùng ước lượng SUR kiểm định
cho mẫu của 66 nước đang phát triển trong giai đoạn 1971-2000. Kết quả nghiên
cứu:
-
Đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại đóng góp vào việc thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển.
-
Có tác động tương quan thuận mạnh mẽ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và
thương mại.
-
Vốn nhân lực, chính sách kinh tế vĩ mô và ổn định thể chế tác động tương
quan thuận đến đầu tư trực tiếp nước ngoài.
-
Đầu tư trực tiếp nước ngoài khuyến khích đầu tư trong nước.
có tác động tương quan thuận đến nền kinh tế Nigeria trong ngắn hạn. Tuy nhiên
trong dài hạn, đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tương quan nghịch đến tăng
trưởng kinh tế của Nigeria (dù kết quả này không có ý nghĩa thống kê). Do đó các
tác giả cho rằng chính phủ cần đảm bảo các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định như
một cách để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Nigeria trong ngắn hạn nhưng
về dài hạn, cần giảm sự phụ thuộc vào đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Hassen và Anis (2012) trong bài nghiên cứu “Foreign Direct Investment and
economic growth: an approach in terms of cointegration for the case of Tunisia” đã
dùng ECM để nghiên cứu cho trường hợp Tunisia trong giai đoạn 1975-2009 đã kết
luận rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài, độ mở thương mại, nguồn nhân lực, mức độ
phát triển tài chính có tác động tương quan thuận đến tăng trưởng kinh tế trong dài
hạn.
Awan và cộng sự (2012) trong bài nghiên cứu “Foreign Direct Investment,
economic growth, trade and domestic investment relationship: An econometric
13
analysis of selected South Asian countries” đã dùng mô hình VAR kiểm tra cho 4
nước Nam Á (Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan và Sri Lanka) trong giai đoạn từ 19732010. Kết quả cho thấy:
-
Tại Pakistan, đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ sau có tác động tương quan
thuận đến tăng trưởng kinh tế. Tại Bangladesh, Ấn Độ, Sri Lanka, đầu tư trực
tiếp nước ngoài không ảnh hưởng tăng trưởng kinh tế
-
Xuất khẩu tác động tương quan thuận đến tăng trưởng kinh tế. Trong đó xuất
khẩu dẫn dắt tăng trưởng lớn hơn đầu tư trực tiếp nước ngoài dẫn dắt tăng
trực tiếp nước ngoài góp phần vào tăng trưởng kinh tế chỉ khi nước nhận đầu
tư có khả năng hấp thụ đầy đủ các công nghệ tiên tiến có sẵn của nước đi đầu
tư.
Các tác giả cho rằng những ảnh hưởng có lợi đến sự tăng trưởng của đầu tư trực tiếp
nước ngoài đến từ gia tăng năng suất chứ không phải chỉ đơn giản là từ sự tích lũy
14
vốn. Các tác giả cũng cho rằng việc đào tạo lực lượng lao động là cần thiết để tiếp
thu các công nghệ mới từ các công ty đa quốc gia.
Alguacil và cộng sự (2011) trong bài viết “Inward FDI and growth: The role of
macroeconomic and institutional environment” đã nghiên cứu một mẫu của 26 nền
kinh tế đang phát triển trong giai đoạn 1976-2005 cho thấy sự khác biệt liên quan
đến cả hai phương pháp kiểm tra (các hệ thống GMM so với phương pháp OLS)
cũng như trình độ phát triển kinh tế. Các phát hiện của tác giả:
-
Thứ nhất, nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của việc xem xét sự ổn định
kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước cũng như chất lượng thể chế khi đánh giá
tác động kinh tế của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong mọi trường
hợp, tác giả thấy rằng các biến này tác động trực tiếp vào nền kinh tế.
-
Thứ hai, kết quả thu được cho thấy ảnh hưởng khác nhau của đầu tư trực tiếp
nước ngoài trong những nước có mức thu nhập khác nhau. Cụ thể, khi chia
mẫu theo từng mức thu nhập, tác giả thu được kết quả:
+
Sukar và cộng sự (2007) thực hiện bài nghiên cứu “The effects of Foreign Direct
Investment on economic growth: The case of Subsahara Africa” dùng OLS để xem
xét các tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ở các
nước vùng Hạ Sahara cho giai đoạn 1975-1999. Kết quả chỉ ra rằng đầu tư trực tiếp
nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế nhưng không ý nghĩa về
mặt thống kê ở mức 5%. Tác giả cho rằng rằng tác động của đầu tư trực tiếp nước
ngoài đến tăng trưởng kinh tế có xu hướng yếu. Tác giả lý giải rằng kết quả này là
do bối cảnh thực tế nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Châu Phi đã được
tập trung vào một số quốc gia và sau đó chỉ tập trung vào lĩnh vực khai thác và
ngành năng lượng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khai thác mỏ thường gắn với
một số vùng địa lý khiến hiệu ứng số nhân hạn chế và tác động của đầu tư trực tiếp
nước ngoài đến phần còn lại của nền kinh tế là thấp. Tác giả gợi ý thay vì ưu đãi
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các quốc gia nên cải thiện chính sách kinh tế vĩ mô,
gia tăng độ mở thương mại và đầu tư trong nước để cải thiện tăng trưởng kinh tế.
Aga (2014) thực hiện bài nghiên cứu “The impact of Foreign Direct Investment on
economic growth: a case study of Turkey 1980–2012”. Bài viết sử dụng mô hình
OLS và VAR để phân tích ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng
trưởng kinh tế ở Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 1980-2012.
Kết quả khi tác giả sử dụng mô hình VAR cho thấy rằng:
-
Không có mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế với cả đầu tư trực
tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước.
-
Có mối quan hệ nhân quả một chiều từ tự do hóa thương mại đến giữa tăng
trưởng kinh tế.
-
Cuối cùng, kết quả cho thấy rằng lực lượng lao động và nguồn nhân lực có tác
động tương quan thuận vào tăng trưởng kinh tế.
Hermes và Lensink (2003) trong bài nghiên cứu “Foreign Direct Investment,
financial development and economic growth” đã sử dụng mẫu 67 quốc gia kém phát
triển trong giai đoạn 1970-1995 đã cho kết quả rằng:
-
Tại 37 nước có hệ thống tài chính phát triển, đa số ở châu Á và Mỹ latinh thì
đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tương quan thuận đến tăng trưởng kinh
tế.
-
Tại các quốc gia còn lại, đa số ở vùng Hạ Sahara vốn có hệ thống tài chính
kém phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tương quan nghịch đến
tăng trưởng kinh tế.
Các tác giả kết luận đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tốt cho tăng trưởng kinh tế tại
các nước kém phát triển khi và chỉ khi các nước này tự cải thiện hệ thống tài chính
của mình.
Alfaro và cộng sự (2004) trong bài nghiên cứu “FDI and economic growth: The role
of local financial markets” đã xem xét các liên kết giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài,
17
thị trường tài chính, và tăng trưởng kinh tế. Các tác giả sử dụng phương pháp OLS
Á vẫn giữ chính sách sàng lọc các dự án đầu tư và cấp ưu đãi khác nhau đối
với từng lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài thì các nước châu Mỹ lại không
làm như vậy. Như vậy, tự do hóa góp phần tạo ra hiệu ứng lấn át. Đối với
chính sách sàng lọc đầu tư trực tiếp nước ngoài nêu trên, các tác giả cho rằng
một số nước đã thành công trong việc áp dụng các chính sách sàng lọc để đảm
bảo vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không ảnh hưởng các lĩnh vực thế mạnh