TRNG I HC KINH T T.P H CHÍ MINH
KHOA KINH T PHÁT TRIN
LUN VN TT NGHIP:MI QUAN H GIA U T CÔNG VÀ
TNG TRNG KINH T TI VIT NAM
SVTH : NGUYN TH THANH HNG
GVHD : Ths. NGUYN KHÁNH DUY
Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
GVHD:Th.sNguyễn Khánh Duy
2
4.6. Nhận xét về vai trò của đầu tư công____________________________27
4.7. Hạn chế của mô hình_________________________________________29
CHƯƠNG V : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ____________________________30
4.1. Kết luận từ mô hình___________________________________30
4.2. Kiến nghị từ mô hình________________________________________30
PHỤ LỤC_____________________________________________________34
TÀI LIỆU THAM KHẢO _________________________________________39
Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
GVHD:Th.sNguyễn Khánh Duy
3
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế Việt Nam đã trải qua năm 2011 với tốc độ tăng trưởng GDP 5.89%, là
mức tăng tương đối khá trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động. Tuy nhiên
để đạt được mức tăng trưởng như trên Việt Nam cũng phải trả một cái giá không nhỏ.
Bất ổn trong kinh tế vĩ mô, lạm phát trong năm 2011 tăng lên 18.6%, lãi suất tăng cao
gây khó khăn cho các doanh nghiệp…. Nhiều chuyên gia cho rằng : Mô hình tăng
trưởng theo chiều rộng mà Việt Nam đang theo đuổi đã trở nên lạc hậu và bộc lộ nhiều
Nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế sẽ trả lời 2 câu hỏi quan
trọng.
� Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế như thế nào? Nếu tăng vốn đầu
tư công thì sẽ làm tăng trưởng kinh tế tăng lên hay giảm đi?
� Vai trò của vốn đầu tư công như thế nào so với các nhân tố tăng trưởng khác.
(Vốn đầu tư nhà nước bao gồm : Vốn ngân sách, tín dụng nhà nước và ODA)
1.3. Phương pháp nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua hai bước chính:
� Nghiên cứu định tính : chủ yếu sử dụng hệ số ICOR để phân tích hiệu quả đầu tư
công.
� Nghiên cứu bằng phương pháp định lượng nhằm xác định rõ tầm ảnh hưởng của
đầu tư công lên tăng trưởng kinh tế, thông qua mô hình còn xác định vai trò của
đầu tư công so với các nhân tố tăng trưởng khác.
Nguồn dữ liệu được lấy từ sở Kế Hoạch và Đầu Tư TP. HCM, tổng cục thống kê,
Wold bank trong giai đoạn1985-2010.
Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
GVHD:Th.sNguyễn Khánh Duy
5
1.4. Ý nghĩa của đề tài về mặt thực tiễn:
Vai trò của đầu tư công vốn rất quan trọng do đóng góp lớn vào tăng trưởng,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm; định vị và củng cố nền kinh tế của đất
nước trong mối quan hệ của khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế
toàn cầu thì đầu tư công càng nổi bật vai trò duy trì động lực tăng trưởng kinh tế và góp
phần bảo đảm việc làm và an sinh xã hội thông qua các gói kích cầu của Chính phủ.
Nhưng do đặc điểm tính chất nguồn vốn và mục tiêu đầu tư, nên đầu tư công có hiệu quả
kinh tế không cao hoặc khó xác định. Hơn nữa, ở Việt Nam, đầu tư công thường có mối
liên hệ trực tiếp với diễn biến của lạm phát cũng như tốc độ phát triển kinh tế. Trong
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
TRONG NHỮNG NĂM QUA
2.1. Thực trạng đầu tư công.
2.1.1. Quy mô đầu tư công
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, trong những năm gần đây tổng vốn
đầu tư trong xã hội cũng đã liên tục tăng cao. Tính theo giá so sánh năm 1994, tổng số
vốn đầu tư đã tăng từ 115 nghìn tỷ đồng năm 2000 lên 371 nghìn tỷ đồng năm 2009, gấp
3.2 lần, bình quân mỗi năm tăng 13,9%.
Hình 2.1 : Tổng vốn đầu tư công theo giá so sánh 1994.
Nguồn : Tổng cục thống kê, niên giám thống kê 2000-2010
Xét về cơ cấu, khu vực kinh tế Nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng đầu
tư xã hội, mặc dù tỷ trọng của khu vực này đã giảm từ 59,1% vào năm 2000 xuống còn
Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
GVHD:Th.sNguyễn Khánh Duy
8
33,9% năm 2008, thấp hơn tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nhưng năm
2009 lại tăng trở lại mức 40,6%, trở về vị trí số một trong cơ cấu vốn đầu tư xã hội và vẫn
chiếm giữ vị trí này trong 2010.
So sánh tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng vốn đầu tư tính bình quân hàng năm trong
thời kỳ 2000-2009 cho thấy: Tốc độ tăng vốn đầu tư ở cả nước và trong tất cả các khu
vực đều cao hơn (gấp khoảng hai lần) so với tốc độ tăng GDP; Khu vực có vốn FDI có
tốc độ tăng đầu tư cao nhất, bình quân mỗi năm 19,8%, khu vực kinh tế ngoài nhà nước
15%, còn khu vực Nhà nước 11%.
Hình 2.2 : Tốc độ tăng trưởng của tăng trưởng kinh tế và các khu vực đầu tư.
cao, gấp 2,54 lần trong thời gian từ năm 2000-2009, nên tương ứng với nó, số vốn phân
bổ cho các ngành cũng tăng lên. Các ngành có mức tăng đầu tư cao hơn mức bình quân
chung là công nghiệp chế biến 2,61 lần; điện, khí đốt, nước, vận tải, thông tin 2,85 lần; y
tế, cứu trợ xã hội 2,94 lần; thương nghiệp, dịch vụ, tài chính, tín dụng 3, 47 lần, quản lý
nhà nước, đảng và đoàn thể 3,75 lần; và cuối cùng là xây dựng 4,88 lần.
Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
GVHD:Th.sNguyễn Khánh Duy
10
Hình 2.3: Vốn đầu tư nhà nước cho các ngành (nghìn tỷ đồng, giá so sánh 1994)
Nguồn: Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê 2005, 2007, 2009.
Về cơ cấu, trong 10 năm vừa qua, khoảng trên dưới 40% tổng số vốn đầu tư công dành
cho các ngành kết cấu hạ tầng: điện, nước, vận tải, thông tin. Công nghiệp khai thác mỏ
chiếm ổn định khoảng 7-9%. Công nghiệp chế biến tăng giảm thất thường trong khoảng
8-15%. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, mặc dù là lĩnh vực hoạt động của đại đa số
dân cư, nhưng không được Nhà nước chú trọng đầu tư; biểu hiện là tỷ trọng của lĩnh vực
này trong đầu tư công đã giảm từ 12,2% năm 2000 xuống còn 7-8% những năm 2003-
2008 còn 6,1% vào năm 2010.
Các ngành liên quan trực tiếp tới phát triển con người - khoa học, giáo dục và đào tạo, y
tế và cứu trợ xã hội, văn hóa, thể thao, phục vụ cá nhân và cộng đồng - không có sự thay
đổi đáng kể tỷ trọng trong đầu tư công: chiếm 17,6% năm 2000, khoảng trên dưới 19%
những năm 2003-2006 và từ năm 2007 giảm xuống 16,1%, chỉ còn 15,2% năm 2009;
Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
GVHD:Th.sNguyễn Khánh Duy
12
định hướng đã vạch ra. Thậm chí ngay cả việc thống kê vốn đầu tư đã thực hiện theo
vùng cũng không làm được vì các dự án không có số liệu tính theo địa giới vùng.
Chính vì vậy mà có sự đầu tư chồng chéo, trùng lặp ở một số vùng vốn có điều kiện phát
triển thuận lợi, trong khi ở một số vùng khác có điều kiện khó khăn thì lại ít được đầu tư.
Tình trạng tỉnh nào cũng cố gắng đầu tư để có khu công nghiệp, cảng biển, khu đô thị,
khu kinh tế mở diễn ra trong những năm gần đây phản ảnh, một mặt, tính tích cực chủ
động của địa phương trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng mặt khác, lại là biểu
hiện của việc thiếu chiến lược đầu tư hợp lý theo vùng và sự phát triển có tính cục bộ địa
phương.
2.2. Tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng
Khi đánh giá kết quả của đầu tư công, ở nước ta thường dẫn ra những bằng chứng về số
lượng các công trình đã xây dựng, năng lực sản xuất và dịch vụ đã được tăng lên. Điều dễ
thấy là đầu tư công trong những năm qua đã làm thay đổi đáng kể kết cấu hạ tầng kỹ
thuật, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của cả nước. Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả của
đầu tư công đòi hỏi không chỉ đo đếm số lượng những kết quả đạt được mà còn phải xem
xét mối tương quan về lượng giữa số vốn đã bỏ ra và kết quả đạt được.
Theo các chuyên gia đánh giá, tính chung trong 20 năm qua, vốn là nhân tố chủ đạo của
sự tăng trưởng, đóng góp tới 46% mức độ tăng trưởng, nhân tố lao động khá ổn định, chỉ
chiếm tỷ lệ 20%, nhân tố tiến bộ công nghệ và quản lý chiếm 34%, nhưng đã ngày càng
đi xuống, mặc dù khi phân tích sâu thì việc ứng dụng tiến bộ công nghệ, như công nghệ
thông tin, viễn thông, năng lượng, xây dựng, sinh học đã được nâng lên. Trong 10 năm
gần đây, tác động của nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu chỉ còn 20%, gần giống như
nhân tố lao động 21%, trong khi nhân tố vốn đã tăng lên 59%. Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
của GDP, đến giai đoạn 2006-2010 phải bỏ ra 7,4 đồng mới tạo ra 1 đồng tăng
thêm của GDP (xem bảng 1).
Trong khi đó, ở nhiều nước đang phát triển và khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á chỉ số
chỉ số ICOR chỉ ở 3.5-4%, cá biệt như ở Đài Loan giai đoạn 1960-1970 (có mức thu nhập
như Việt Nam hiện nay họ đạt chỉ số ICOR là 2.4 trong khi đó tăng trưởng kinh tế đạt
11%). Từ kết quả đầu tư ở Việt Nam đạt thấp, Giáo sư David Dapice (Đại học Harvard)
trong hội thảo 20 năm đổi mới của Việt Nam tại Hà Nội đã chỉ rõ, Việt Nam với tốc độ
đầu tư cao như báo cáo thì tỉ lệ tăng trưởng phải đạt mức 9-10% thâm chí giáo sư này ước
tính Việt Nam để thất thoát, lãng phí đầu tư mỗi năm đến 1 tỷ USD. Ông Thomas
Vellely, Giám đốc Chương trình Việt Nam thuộc trung tâm kinh doanh và quản lý trường
đại học quản lí Kennedy, Đại học tổng hợp Harvard nhận xét: Tốc độ tăng trưởng cao của
Việt Nam vừa qua là dựa trên mức đầu tư cao, chiếm 30-33% GDP trong đó dựa vào
nguồn xuất khẩu dầu khí, viện trợ phát triển chính thức ODA và tiền gửi của người Việt
Nam ở nước ngoài. Hiện tượng này giống như các nước Đông Bắc Á thập niên 1950-
1960, Đông Nam Á thập niên 1970-1980, Trung Quốc trong những năm 90 nhưng tốc độ
phát triển của Việt Nam không cao bằng và nếu hiệu quả đầu tư không được cải thiện và
các nguồn tiền “ dễ dàng” không có nữa thì tăng trưởng của Việt Nam sẽ chậm lại. Còn
theo ngân hàng thế giới đánh giá, hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước của Việt
Nam như các công ty Hàng hải, Thủy sản, Đường sắt , Dệt may, Cao su, mía đường, …
mặc dù đầu tư lớn nhưng hoạt động kém hiệu quả.
Theo tổng cục thống kê, từ năm 2001-2009 tỷ lệ vốn đầu tư, tỷ lệ đóng góp cho GDP và
tỷ lệ lao động của kinh tế nhà nước như sau:
Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
GVHD:Th.sNguyễn Khánh Duy
14
nước
Ngoài
nhà
nước
FDI
ICOR(2000-
2005)
4.89 6.94 2.93 5.2 3.04 4.37 1.81 3.11
ICOR(2006-
2010)
7.43 8.68 4.01 12.3 4.4 5.13 2.54 8.7
Nguồn: Sài gòn đầu tư và xây dựng số 5 /2008
Như vậy có thể nhận xét, vốn đầu tư của toàn nền kinh tế kém hiệu quả là do suất đầu tư
của khu vực của nhà nước quá cao và của khu vực đầu tư nước ngoài thuộc loại cao,
trong khi khu vực kinh tế ngoài nhà nước lại có hiệu quả đồng vốn hợp lý. Nếu so sánh
xét hiệu quả đầu tư theo tổng tích luỹ tài sản, thì ICOR của toàn nền kinh tế Việt Nam
thuộc loại cao, song không vượt quá nhiều so với một số nước Đông Nam Á.
So với ICOR tính theo tổng vốn đầu tư thì điều này cho thấy có một số lượng vốn đáng
kể được bỏ ra nhưng đã không trở thành tài sản. Nói một cách khác là hiệu quả đồng vốn
bỏ ra kém là bởi vì đã phải chi cho nhiều khâu không trực tiếp liên quan tới sản xuất. Ở
khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lượng tiền đầu tư đi vào được trong quá trình
sản xuất nhiều nhất (bỏ ra một đồng thì xấp xỉ 83% đi vào được quá trình sản xuất), tiếp
đến là khu vực kinh tế tư nhân (bỏ ra 1 đồng có 68% đi vào sản xuất) trong khi đó khu
vực kinh tế Nhà nước bỏ ra 1 đồng nhằm mục đích đầu tư chỉ có 63% là đến được với
quá trình sản xuất. Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
GVHD:Th.sNguyễn Khánh Duy
vốn tín dụng, NSNN có một khoản đầu tư hỗ trợ các DNNN với số tiền tăng lên hàng
năm, Chính phủ đứng ra bảo lãnh cho DNNN lớn đi vay nợ với lý do để thực hiện nhiệm
vụ do Nhà nước đặt hàng. Với sự ưu đãi như vậy, một số DNNN lớn đã trở thành lực
lượng mạnh chi phối các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam.
Song Chính phủ chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của các DNNN, nhất
là đối với việc đầu tư. Vốn đầu tư của các DN nhà nước được coi là "tự chủ" của DN, nên
quá trình kiểm tra, kiểm soát chưa cao. Các bộ cũng không thể can thiệp vào quá trình
sản xuất kinh doanh của các DNNN. Nhiều DNNN vay nợ lớn để mở rộng quy mô, đầu
tư dàn trải vào nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề, phát triển các hoạt động ngoài ngành
nghề chính, độc quyền và có khả năng lũng đoạn thị trường, quản lý kém gây thất thoát
vốn, kinh doanh thua lỗ. Tình trạng sử dụng chưa hiệu quả vốn đầu tư ở các DNNN đã
trở thành phổ biến và đáng báo động. Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
GVHD:Th.sNguyễn Khánh Duy
19
CHƯƠNG III
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
Tổng quan lý thuyết
Vấn đề tìm hiểu mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế được sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Theo các nghiên cứu trước đó việc tìm
hiểu mối quan hệ trên gặp nhiều khó khăn là do tính dừng của dữ liệu (Sturm và de Haan
1995). Kết quả của DF test thường là có nghiệm đơn vị giữa các biến số.Vấn đề này
thường xuất hiện khi cỡ mẫu nhỏ hoặc không đủ dữ liệu. Để giải quyết vấn đề này trong
các nghiên cứu gần đây người ta thường sử dụng dữ liệu của nhiều quốc gia để nghiên
cứu (phương pháp SUR –seemingly Unrelated Regression).
Khi phân tích mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế, việc xét hiệu quả đầu
nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư của khu vực ngoài nhà nước. Kết quả
nghiên cứu cho thấy mối quan hệ này khác nhau tùy thuộc vào đặc tính dữ liệu của mỗi
quốc gia.
Nhiều nhà nghiên cứu lại tập trung vào mối quan hệ giữa đầu tư công vả đầu tư tư nhân.
Về vấn đề này, có hai giả thuyết được đưa ra;
� Đầu tư công gia tăng sẽ khiến đầu tư khu vực tư nhân bị thu hẹp lại. Lý do là nhu
cầu của chính phủ về hàng hóa dịch vụ có thể khiến lãi suất gia tăng, nguồn vốn
trở nên đắt đỏ hơn, theo đó, tác động tiêu cực đến khu vực tư nhân. Ngoài ra, việc
tài trợ cho chi tiêu đầu tư từ ngân sách nhà nước, thường được thực hiện bởi tăng
thuế hay vay nợ, đã cạnh tranh một cách trực tiếp với khu vực tư nhân trong
việc tiếp cận các nguồn lực tài chính khan hiếm của nền kinh tế. Với quan điểm
được đồng thuận là đầu tư công thường có hiệu quả thấp hơn đầu tư tư nhân, thì
giả thiết “lấn át” đưa ra khuyến nghị cắt giảm đầu tư công để hỗ trợ tăng trưởng.
� Bacha (1990), Taylor (1994) và Agenor (2000) đã nghiên cứu giả thuyết đầu tư
công gia tăng sẽ thúc đẩy khu vực đầu tư tư nhân. Đầu tư công có thể đem đến một
số ngoại ứng có thể kể đến như :
Mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
GVHD:Th.sNguyễn Khánh Duy
41
i) Việc cung cấp các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông, viễn
thông, giáo dục…từ đầu tư công tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi hơn
cũng như giảm được chi phí sản xuất cho khu vực tư nhân để tăng cường đầu tư.
ii) Nhu cầu hàng hóa dịch vụ từ chính phủ khiến cầu về sản phẩm của khu
vực tư nhân gia tăng, khuyến khích khu vực này đầu tư nhiều hơn do kỳ vọng về
doanh thu và lợi nhuận tốt hơn.
Nếu giả thuyết này được kiểm định đúng, không nhất thiết phải giảm đầu tư công, bởi
những ngoại ứng tích cực là cần thiết cho khu vực tư nhân, và theo đó là cho tăng trưởng.
Đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm ở các nước, sử dụng các phương pháp và những bộ
= A
t
L
t
α
K
t
β
G
t
δ
F
φ
(1)
trong đó:Y = sản lượng ; L = số lượng lao động input; K = lượng vốn tư nhân;G= lượng
vốn đầu tư của chính phủ; A = năng suất toàn bộ nhân tố; α , β ,δ và φ là các hệ số co dãn
theo sản lượng lần lượt của lao động và vốn : vốn đầu tư tư nhân, vốn đầu tư chính phủ
và vốn đầu tư FDI;
Phương trình có thể viết lại dưới dạng tuyến tính như sau:
Ln Y
t
= LnA
t
+ αLnLD
t
+ βLnK
t
+ δLnG
28
Theo như phương trình (2): A là những yếu tố chưa được đề cập đến trong mô hình.
α,β,δ và φ lần lượt là hệ số co dãn từng phần của GDP theo lao động, vốn đầu tư tư
nhân, vốn đầu tư công và vốn FDI.
Phương trình (2) được viết lại như sau:
y
t
= c
t
+αLD
t
+βK
t
+δG
t
+ φFDI
t
+u
t
(4)
Trong đó:
c
t
: là hệ số độc lập với các biến khác trong mô hình.
Y
t
, L
t
, K
4.3. Phân tích kết quả của mô hình
Kết quả của phương trình (4) như sau:
Ŷ = -0.9257+ 0.0903 G + 0.1704K + 0.9592LD + 0.062FDI (*)
(0.6558) (0.0150 (0.0006) (0.0011) (0.0072)
R
2
= 0.997
với con số trong ngặc là thống kê t.
Phương trình trên cho thấy, cả đầu tư tư nhân và đầu tư công đều có tác động tích cực đến
mức sản lượng và đều có ý nghĩa ở mức 5%. Cụ thể là với giả định các yếu tố khác không
đổi thì khi tăng 1% vốn đầu tư công sẽ dẫn đến tổng sản lượng tăng 0.09%. Đối với đầu
tư tư nhân khi tăng 1% vốn sẽ dẫn đến tăng 0.17% trong tổng sản lượng với giả định các
yếu tố còn lại không đổi. Cũng theo mô hình, đóng góp của vốn FDI vào tổng sản lượng
là ít nhất trong các nhân tố vốn, chỉ có (0.06%). Điều này cũng phù hợp với việc phân
tích hệ số ICOR ở trên. R
2
=0.997 có nghĩa 99.7% sự thay đổi của tổng sản lượng quốc
gia được giải thích bởi các nhân tố trong mô hình. Điều này là khá nhất quán với các
nghiên cứu khác về Việt Nam, theo đó, tăng trưởng kinh tế đạt được chủ yếu từ việc
tăng đầu tư, bao gồm cả đầu tư tư nhân,FDI và đầu tư nhà nước.
Xét về hiệu quả đóng góp của nhân tố vốn và lao động vào tổng sản lượng, thì có thể thấy
nhân tố lao động đóng góp hiệu quả hơn vào tổng sản lượng. Theo phương trình (*), nếu
1% tăng lên của lao động có thể làm tăng 0.96 % tổng sản lượng với mức ý nghĩa 1%.
4.4. Kiểm định ràng buộc tuyến tính
Sử dụng Wald test để kiểm định các giả thuyết về các mối quan hệ của các hệ số trong
mô hình. Các giả thuyết trong kiểm định này được viết như sau:
H
0
: α+β+δ +φ = 1