Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
MỤC LỤC
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian gần đây, vấn đề đầu tư công và nợ công đang là tâm điểm
chú ý của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nợ công vượt quá cao so với mức
an toàn ở những nền kinh tế phát triển, đang trở thành chủ đề nóng hiện nay bởi
đó là yếu tố có nguy cơ đe dọa những dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế toàn
cầu, làm người ta lo ngại tới viễn cảnh nền kinh tế một lần nữa lại rơi vào tình
trạng suy giảm.
Ở Viêt Nam, vấn đề đầu tư công và nợ công hiện đang làm nóng các kỳ họp
của Quốc hội cũng như làm sôi động dư luận xã hội bởi nó không chỉ liên quan
đến lòng tin của của người dân đối với Nhà nước về việc sử dụng hiệu quả nguồn
vốn đầu tư công mà còn có tác động đến cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí,
đồng thời ảnh hưởng tới cuộc sống của thế hệ tương lai. Vì vậy, vấn đề nợ công
cần được xem xét đầy đủ trong mối quan hệ mật thiết với đầu tư công. Nợ công sẽ
không quá nặng nề khi đầu tư công được cắt giảm hợp lý và có hiệu quả.
Xuất phát từ tính thời sự của vấn đề, nhóm em xin nghiên cứu đề tài “Mối
quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam”. Đề
tài trước hết nghiên cứu một số lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa đầu tư
công và nợ công, sau đó đưa lý thuyết ứng dụng vào nền kinh tế Việt Nam giai
đoạn 2001 – 2011 nhằm phân tích, đánh giá, nhìn nhận từ đó định hướng chính
sách và rút ra một số bài học kinh nghiệm để làm tăng hiệu quả đầu tư công và
giảm gánh nặng nợ công của Việt Nam trong thời gian tới.
Đề tài bao gồm có 3 chương:
• Chương I: Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công: Những lý luận
chung
• Chương II: Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công ở Việt Nam
• Chương III: Một số bài học kinh nghiệm và định hướng chính sách về mối
quan hệ giữa đầu tư công và nợ công ở Việt Nam
tư công là tất cả các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu
vực kinh tế nhà nước tiến hành. Cụ thể, đầu tư công là đầu tư bằng nguồn vốn nhà
nước theo quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước,
vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước,
vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà
nước quản lý.
2. Phân loại
2.1. Theo nguồn vốn đầu tư
- Đầu tư từ ngân sách (phân cho các Bộ ngành Trung ương và phân cho các
địa phương).
- Đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường là các chương
trình mục tiêu trung và dài hạn) cũng được thông qua trong kế hoạch ngân sách
hàng năm, nhưng về chủ trương lại thường được quyết định cho thời kỳ dài hơn
1 năm, ví dụ 3-5 năm.
- Tín dụng đầu tư (vốn cho vay) của Nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định.
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
3
Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
- Đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước, mà phần vốn quan trọng của
doanh nghiệp có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.
2.2. Theo hình thức đầu tư
- Đầu tư trực tiếp của Chính phủ nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng như đường
sá, cầu cống, hệ thống thủy lợi, đê điều, điện nước, trường học, bệnh viện
- Đầu tư gián tiếp của Chính phủ qua việc cấp vốn, vay nợ thay cho những
công ty, tập đoàn quốc doanh.
3. Đặc điểm
3.1. Nguồn vốn tài trợ đầu tư công
- Ngân sách hàng năm của Nhà nước từ thu thuế để lại để đầu tư
- Phần Chính phủ đi vay để đầu tư. Ở Việt Nam, hiện tại Quốc hội đã đưa ra
hạn mức nguồn vốn Chính phủ được đi vay từ việc phát hành trái phiếu là
tầng, tạo ra cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội then chốt cho sự phát triển của đất
nước. Đây cũng đồng thời tạo những điều kiện thiết yếu cho các thành phần kinh
tế ngoài nhà nước đầu tư và phát triển.
Ngoài ra, đầu tư công tạo điều kiện, định hướng và “mồi” vốn đầu tư xã hội
vào những lĩnh vực cần khuyến khích phát triển, góp phần tái cơ cấu đầu tư xã
hội, giúp Trung ương có thể điều tiết được một cách hợp lý các nguồn đầu tư,
tránh tình trạng cục bộ, địa phương, nơi thừa nơi thiếu.
- Góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giảm bất bình đằng, bất
công trong xã hội bằng các chương trình, dự án kinh tế hỗ trợ các vùng khó
khăn, vùng sâu vùng xa, các dân tộc thiểu số, nâng cao và ổn định đời sống
người dân.
- Đảm bảo ổn định và không ngừng tăng cường quốc phòng, an ninh.
II. Nợ công
1. Khái niệm
Khái niệm nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp. Tuy nhiên, hầu
hết những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính
phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó.
Chính vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật
ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ. Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác
với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao
gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức,
cá nhân). Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia mà thôi.
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, nợ công được hiểu là nghĩa vụ
nợ của bốn nhóm chủ thể bao gồm: nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ,
ban, ngành trung ương; nợ của các cấp chính quyền địa phương; nợ của Ngân
hàng Trung ương; và nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50%
vốn, hoặc việc quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc
Chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công được hiểu bao gồm ba
nhóm là nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa
quyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước ấy sẽ chịu trách nhiệm trả nợ
khoản vay (ví dụ: Chính phủ Việt Nam hoặc chính quyền địa phương). Gián tiếp
là trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh để một
chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả được nợ thì trách
nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh (ví dụ: Chính phủ bảo lãnh
để Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài).
3.2. Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
6
Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục
đích: một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn
nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; hai là, để
đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn. Bên cạnh đó, việc quản lý
nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị và xã hội.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc quản lý nợ công là Nhà nước
quản lý thống nhất, toàn diện nợ công từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn
vay đến việc trả nợ để đảm bảo hai mục tiêu cơ bản như đã nêu trên.
3.3. Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển
kinh tế – xã hội vì lợi ích chung
Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợi ích
riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của đất nước. Xuất
phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội,
Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công được
quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, mà cụ thể là để phát triển kinh
tế – xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất.
3.4. Đánh giá tính ổn định của nợ công
3.4.1. Đánh giá nợ nước ngoài
- Tỷ lệ nợ nước ngoài / xuất khẩu (NPV/X): Đo lường giá trị hiện tại ròng
hướng vào các đối tượng ở trong và ngoài nước bằng những hình thức huy động
vốn thích hợp và có chính sách lãi suất căn cứ vào mặt bằng lãi suất thị trường.
-Chính sách vay nợ của nhà nước phải lành mạnh hóa nền tài chính tiền tệ
quốc gia, góp phần ổn định giá trị đồng nội tệ; mở rộng các hoạt động đầu tư
theo định hướng của nhà nước và nâng cao hiệu quả đầu tư; góp phần kiến tạo
một thị trường tài chính năng động.
4.2. Trong dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP
cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại
Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài
hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng
trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau:
-Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng
cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và khi đó khả năng tiêu dùng giảm sút.
- Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân:
thay vì sở hữu nhiều cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính
phủ (trái phiếu chính phủ). Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt dẫn đến lãi
suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu tư.
- Nợ trong nước tuy được coi la ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là
một tổng thể thì chính phủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
8
Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế làm
méo mó nền kinh tế, và gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.
4.3. Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm
Theo báo cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và
quốc gia khác, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh
tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế.
III/ Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công
1. Nợ công là nguồn tài chính quan trọng để tài trợ đầu tư công
hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng,
từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế, đem lại hiệu quả kinh tế cho
cả khu vực công lẫn khu vực tư.
2. Hiệu quả đầu tư công tác động mạnh mẽ đến nợ công
Vay nợ công để thực hiện đầu tư công là một việc bình thường vì nợ công
là một nguồn vốn quan trọng để tai trợ đầu tư công. Tuy nhiên không phải lúc
nào cũng vay nợ để tài trợ đầu tư công, không phải lúc nào con số nợ công cũng
tỉ lệ thuận với đầu tư công. Vay nợ công để đầu tư công có thể gia tăng tài sản
xã hội, tăng năng lực của một quốc gia cũng như tạo đà tăng trưởng kinh tế, tuy
nhiên có thể có những tác động ngược lại như gia tăng gánh nặng nợ nần, tạo áp
lực lạm phát, gây bất ổn vĩ mô, ngân sách nhà nước vì thế mà gặp nhiều khó
khăn. Câu trả lời ở đây chính là mối quan hệ mật thiết giữa đầu tư công và nợ
công, mối quan hệ này được thể hiện rõ ràng thông qua tác động của hiệu quả
đầu tư công đến nợ công.
Đa số các quốc gia đều sử dụng nợ công để đầu tư ngoài việc chi cho an
sinh xã hội - yếu tố không tạo ra hay gia tăng trực tiếp năng lực sản xuất của một
quốc gia. Đầu tư thế nào để thu lại được vốn, chi trả được các khoản nợ, chính là
việc đầu tư có hiệu quả. Và hiệu quả đầu tư công có thể tác động đến nợ công
theo nhiều xu hướng, tăng hoặc giảm, đồng thời nó cũng tác động đến tính chất
của nợ công - làm tăng tính rủi ro và cũng có thể giảm áp lực nợ công, tính
thanh khoản của các khoản nợ.
Hiệu quả đầu tư công được đánh giá bằng nhiều cách trong đó có cách đo
lường thông qua hệ số ICOR như đã nêu ở phần lí thuyết.Với các yếu tố khác
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
10
Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
không thay đổi thì hệ số ICOR càng cao, đầu tư càng không hiệu quả.Đầu tư
không hiệu quả khiến số vốn bỏ ra nhiều nhưng lợi ích về tài chính mang lại
không là bao nhiêu hay nguồn thu lại tư hoạt động đầu tư công thấp.Biểu hiện
của đầu tư không hiệu quả có thể là đầu tư không đúng trọng điểm,lãng phí
điều không đáng lo ngại. Như vậy nếu đầu tư có hiệu quả thì càng cần phải
khuyến khích vay nợ thêm để chính phủ có thể tạo ra nhiều tài sản và lợi ích cho
xã hội hơn, đồng thời số tiền thu được từ nguồn lợi đầu tư của Chính phủ có thể
trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn trong tương lai.
2.2. Đầu tư công không hiệu quả làm gia tăng nợ công,tăng rủi ro nợ công
Đầu tư công có thể coi là căn nguyên của nợ công vì đơn giản không phải
chính phủ nào cũng có mức ngân sách cân bằng. Vấn đề ở đây mức thâm hụt ở
mức nào, mức vay nợ ở mức nào. Và có thể nói đầu tư công không hiệu quả
chính là nguyên nhân chủ yếu làm tăng gánh nặng nợ công, mức nợ công liên
tục gia tăng, từ đó làm tăng rủi ro nợ công. Nợ công được tính bao gồm cả nợ
chính phủ và nợ doanh nghiệp nhà nước theo thông lệ quốc tế, chính vì thế, hoạt
động đầu tư không có hiệu quả càng tác động mạnh mẽ đến nợ công.
Rủi ro nợ công có thể xét theo nhiều khía cạnh,bao gồm rủi ro về khả năng
thanh toán nợ, được đánh giá qua các chỉ tiêu:quy mô khoản nợ so với GDP, quy
mô khoản nợ so với tổng thu NSNN, quy mô khoản nợ so với tổng giá trị xuất
khẩu. Rủi ro thứ hai là rủi ro về tỉ giá, được đánh giá qua sự mất giá của đồng
nội tệ so với đồng tiền vay nợ. Rủi ro thứ ba là rủi ro về tính thanh khoản của nợ
công, đánh giá khả năng thanh toán nợ nội địa, nợ nước ngoài trong ngắn, trung
và dài hạn.
Đầu tư công được sử dụng như một công cụ kích cầu. Đầu tư công không
hiệu quả sẽ dẫn tới ra tăng chi phí đầu tư, kéo dài thời gian, do đó kéo theo khả
năng lạm phát tăng cao. Khi lạm phát tăng cao sẽ dẫn tới đồng nội tệ mất giá từ
đó gia tăng chi phí trả nợ, cũng như nợ công vì thế mà tăng nhanh chóng.
Ở các nước đang phát triển, trong điều kiện khu vực kinh tế tư nhân còn
nhỏ, không đủ năng lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thì kinh tế nhà nước có
vai trò đặc biệt quan trọng thông qua việc sử dụng chính sách tài khóa mở rộng
và ở đây chủ yếu thông qua đầu tư công. Quy mô đầu tư công ở những nước này
thường rất lớn, nếu đầu tư không tốt tức sử dụng nguồn vốn vay không hợp lí tất
yếu, trong thời gian dài sẽ làm gánh nặng nợ lớn dần lên. Trong trường hợp tốc
độ tăng thu ngân sách không theo kịp với tốc độ tăng của các nghĩa vụ trả nợ,
sự kém hiệu quả của đầu tư công,nhất là các doanh nghiệp nhà nước, đồng thời
phải trả thuế để trả nợ công.
Nợ công nhiều, đầu tư công cao nhất là nguồn vốn cấp cho doanh nghiệp
nhà nước càng lớn, càng làm cho tính kém hiệu quả của nền kinh tế tăng lên,
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế càng xuống thấp.
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
13
Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
Nếu nợ công không được Chính phủ đầu tư hiệu quả và bị thất thoát thì nó
sẽ trở thành "quả bom hẹn giờ" luôn treo lơ lửng bên cạnh nền kinh tế, nó sẵn
sàng bị nổ phá nát nền kinh tế bất cứ lúc nào.
Tóm lại đầu tư công nói chung và hiệu quả đầu tư công nói riêng có quan
hệ mật thiết với nợ công. Đầu tư công ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng
vốn nợ công. Tính chất của đầu tư công và nợ công sẽ tác động nhiều mặt đến
nền kinh tế, thay đổi tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu cũng như ảnh hưởng đến
năng lực kinh tế của 1 quốc gia.
CHƯƠNG 2
KIỂM CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ CÔNG VÀ
NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2011
Trong giai đoạn 2001-2011, bối cảnh kinh tế trong nước và ngoài nước có
nhiều biến động. Và theo đó vấn đề nợ công và đầu tư công trở nên “nóng” hơn
bao giờ hết. Mối quan hệ giữa nợ công và đầu tư công được kiểm chứng ở Việt
Nam như thế nào? Vai trò của đầu tư công và nợ công với sự phát triển của nền
kinh tế Việt Nam?
Phần tiếp theo của bài tiểu luận xin được trình bày mối quan hệ giữa nợ
công và đầu công kiểm chứng ở Việt Nam giai đoạn 2001-2011.
I. Khái quát về thực trạng đầu tư công và nợ công ở Việt Nam 10 năm
trở lại đây-giai đoạn 2001-2011
1. Quy mô đầu tư công ngày một lớn
Đầu tư công hiện nay ở nước ta bao gồm bốn nguồn chính: ngân sách nhà
Theo tạp chí The Economist tính tới thời điểm 8h10’ ngày 1/9/2011 theo
giờ Việt Nam, có các số liệu sau:
- Tổng nợ công của Việt Nam: 44,795 tỷ USD (2009), 50,294 tỷ USD
(2010), 56,061 tỷ USD (2011).
- Nợ công tính trên bình quân mỗi người Việt Nam: 516,62 USD (2009),
574,28 USD (2010) và 633,95 USD (2011).
- Nợ công/GDP: 50,7% (2009), 51,7% (2010) và 50,9% GDP (2011) .
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
15
Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
Tỷ lệ nợ so với GDP của Việt Nam
Như vậy, trong vòng 10 năm từ 2001 đến nay, quy mô nợ công đã tăng
gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm. Và hiện tại Việt
Nam đang ở trong nhóm nước có mức nợ công trên trung bình, nếu tiếp tục với
tốc độ này thì chỉ trong vòng 5 năm nữa, đến năm 2016, nợ công
của
Việt
Nam sẽ vượt quá 100% GDP như hai nước thành viên EU mới lâm vào
khủng hoảng nợ
công
gần
đây là Hy Lạp (133,6%), Ailen (129,2%). Nợ công
đạt trên 100% GDP là một con số không nhỏ đối với một nền kinh tế đang
phát triển và quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông
nghiệp thô và công nghiệp nhẹ như Việt Nam.
II. Kiểm chứng mối quan hệ giữa nợ công và đầu tư công ở Việt Nam
giai đoạn 2001-2011
Có thể nhận thấy rõ mối quan hệ thuận giữa nợ công và đầu tư công ở Việt
quân
Nợ chính
phủ
Tỷ
USD 23,7 24,1 31,2 37,8 45,3 32,4
Nợ chính
phủ
%GDP
39,0 33,8 36,5 40,4 44,6 38,9
Nợ chính
phủ
% Nợ
công 85,0 68,0 76,2 79,2 82,1 78,1
Nợ nước
ngoài của
chính phủ
Tỷ
USD 14,6 17,3 18,9 23,9 25,1*
20
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
17
Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
Nợ nước
ngoài của
chính phủ
% Nợ
chính
phủ
61,6 71,6 60,7 60,0 55,4%** 61,9
Nợ nước
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
18
Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
Thâm hụt ngân sách ở 1 số nước
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, Natixis, UB Ngân sách QH Mỹ (2010)
Phần thâm hụt ngân sách dành cho đầu tư phát triển được bù đắp bằng vay
nợ. Ngoài chi đầu tư trong cân đối ngân sách, đầu tư công còn được lấy từ các
nguồn vay trong và ngòai nước khác. Các khoản vay này tạo thành nợ công của
chính phủ.
Mối quan hệ cơ bản giữa nợ công và đầu tư công ở Việt Nam, đó là nợ
công là nguồn vốn quan trọng để tài trợ đầu tư công và ngược lại đầu tư công là
căn nguyên phát sinh nợ công. Tuy nhiên điều này chưa thể nói hết được những
con số về nợ công và đầu tư công trong những năm gần đây. Nợ công là một
điều bình thường ở bất kì một quốc gia nào ngay cả ở Mỹ, Nhật với tỉ lệ nợ công
chiếm tỉ lệ hơn 100%GDP. Nhưng ở Việt Nam con số nợ công chỉ chiếm
khoảng 40-50% lại có tính chất hòan toàn khác, thực tế nợ công ở nước ta đang
kề cận ngưỡng an toàn và nguy cơ vỡ nợ có thể xảy ra bất kì lúc nào. Vấn đề
chính là việc sử dụng nguồn vốn vay như thế nào để đảm bảo khả năng trả nợ.
Đầu tư công, hoạt động chủ yếu sử dụng vốn vay nợ công chính là yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến tính chất của nợ công.Với Việt Nam có thể nói hiệu quả đầu
tư công tác động mạnh mẽ đến nợ công.
Như trên đã đề cập, đầu tư công ở Việt Nam liên tục tăng trong giai đoạn
2001-2011, đặc biệt là giai đoạn 2004-2007, lí giải cho điều này một phần là do
kết quả tăng trưởng ấn tượng gần 9% năm 2007, cùng sự kiện nước ta gia nhập
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
19
Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
WTO, thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn phát triển, cơ hội hội nhập
của nước ta hoàn toàn mở rộng, chính vì thế chính sách tăng trưởng nhờ vốn đầu
tư tiếp tục được sử dụng. Nhu cầu đầu tư tăng kéo theo đầu tư công tăng, hệ quả
và khu vực đầu tư nước ngoài chỉ sử dụng 30% vốn đầu tư quốc gia nhưng lại
đóng góp đến 70% tổng sản lượng. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn của khu vực
kinh tế nhà nước kém hơn khoảng bốn lần so với các khu vực kinh tế khác, năng
suất lao động kém hơn và thu nhập lao động bình quân cũng thấp hơn, trong khi
khu vực này ngoài những ưu đãi mang tính chính sách về nguồn vốn, về lãi suất
còn được hưởng các đặc quyền, các ưu thế kinh tế vượt trội mà các khu vực
khác không có. Nguyên nhân ở đây một phần là do khu vực kinh tế nhà nước
gánh chịu trách nhiệm đầu tư vào cơ sở hạ tầng, lĩnh vực xã hội, vùng sâu, vùng
xa mà các khu vực kinh tế khác không muốn đầu tư, tác động của vốn đầu tư
đến tăng trưởng kinh tế còn có độ trễ thời gian, nhưng ở đây không thể phủ nhận
những nguyên nhân khác do yếu kém quản lí trong đầu tư công gây ra. Hệ quả
của đầu tư công không hiệu quả chính là phải gia tăng vốn đầu tư, kéo dài thời
gian, chi phí, làm tăng thâm hụt ngân sách,với nguồn ngân sách hạn hẹp của
nước ta thì con đường duy nhất chính là vay nợ, tốc độ tăng nợ công cũng vì thế
mà tăng theo.
Hiện nay nợ công nước ngoài ở nước ta chiếm tỉ trọng khoảng 60-70%
trong tổng nợ công. Lâu nay trong các khoản vay nước ngoài của Việt Nam đa
số có lãi suất thấp vì thế nhà nước có xu hướng tận dụng khoản vay này để đầu
tư. Trong tổng nợ 2009, vay ODA chiếm tỉ trọng 74.67%, vay ưu đãi chiếm
5.41%, vay thương mại là 19.92%. Sang năm 2010, vay nợ với lãi suất thấp 1-
2.99% chiếm khoảng 65% tổng dư nợ. Các chủ nợ chủ yếu của Việt Nam vẫn là
WB, Nhật, Pháp, ADB với lượng trái phiếu chính phủ nắm giữ lên hơn 2 tỉ USD
năm 2010. Thực tế cho thấy điều kiện vay nợ ngày một ngặt nghèo hơn, lãi suất
vay nợ có xu hướng tăng do Việt Nam đã gia nhập nhóm nước có thu nhập trung
bình và cũng ít nhiều do bị giảm mức tín nhiệm quốc gia. Ở đây chúng ta đã vẫn
tiếp tục phải sử dụng nguồn vốn vay ODA này trong khi lãi suất ngày một tăng,
sẽ không có vấn đề gì nếu chúng ta có khả năng trả nợ nhưng trên thực tế khả
năng trả nợ của nên nước ta đang thực sự khó khăn mà nguyên nhân ở đây chính
là việc sử dụng vốn vay không hiệu quả hay đầu tư công không hiệu quả. Như ở
trên có thể thấy hệ số ICOR của khu vực nhà nước luôn ở mức cao trên 8.
ngành mà khu vực tư nhân có khả năng và sẵn sàng đầu tư, trong khi đầu tư vào
phát triển nguồn lực con người còn chưa được chú trọng và chưa tương xứng.
Điều này dường như đang đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản cho đầu tư
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
22
Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
công. Theo đó, chức năng chính của nhà nước phải là xây dựng các nền tảng
phát triển và tăng trưởng, đồng thời tập trung vào các lĩnh vực mà khu vực tư
nhân không thể hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả.
*.Phân cấp đầu tư công
Việc đầu tư công được phân bổ theo 2 cấp ngân sách là: Trung ương và các
tỉnh cũng còn nhiều hạn chế. Tỉ lệ đầu tư cho 2 cấp này là khoảng 60% : 40%
trong năm 2002 và sau đó vốn cho cấp Trung ương giảm xuống còn 50% và
không thay đổi nhiều từ năm 2002 cho đến nay. Tới đây, việc phân bổ vốn phục
vụ đầu tư công ở các địa phương có thể sẽ có sự cân đối lại, chẳng hạn như
những địa phương có động lực tăng trưởng, nếu được phân bổ vốn lớn thì sẽ đạt
được hiệu quả tăng trưởng tốt hơn. Nhưng trên thực tế trong giai đoạn này,
nguồn vốn nợ công được phân bổ chưa hợp lí. Nhưng quy hoạch đầu tư công
được “vẽ” bởi những đơn vị, địa phương không có chức năng điều phối. Vì căn
bệnh bao biện trong đầu tư phát triển mà lâu nay, chúng ta đã biến ngân sách
thành chiếc bánh mà ngành nào, địa phương nào cũng muốn tranh thủ chia phần.
Mặc dù trong chiến lược phát triển kinh tế dài hạn có định hướng phát triển
vùng và các vùng kinh tế lớn đều có quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài
hạn, nhưng trên thực tế, nhà nước đã không sử dụng trực tiếp đầu tư công để
thúc đẩy sự phát triển vùng theo những định hướng đã vạch ra. Thậm chí việc
thống kê vốn đầu tư theo vùng cũng khó làm được bởi các dự án không có số
liệu tính theo địa giới vùng. Đây là nguyên nhân của sự đầu tư chồng chéo, trùng
lặp ở một số vùng có điều kiện phát triển thuận lợi, trong khi đó ở những vùng
khác ít có điều kiện hơn thì sự thiếu hụt đầu tư lại thể hiện rõ rệt
*.Tình trạng lãng phí trong việc sử dụng đồng tiền vay nợ của đầu tư công
đầu tư toàn xã hội. Điều đáng quan tâm ở đây là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư lại
giảm tỉ lệ thuận với tiến trình phân cấp đầu tư cho các bộ, ngành, địa phương đã
không kèm 1 cơ chế giám sát, kiểm tra hiệu quả.Việc phân trách nhiệm cho
người quyết định đầu tư và người thực hiện đầu tư chưa rõ ràng. Có những công
trình đầu tư mà chủ đầu tư chưa kịp làm gì đã bán lại cho đối tượng khác để thu
1 lượng phí, không loại trừ việc mua đi bán lại này qua nhiều trung gian,khiến
vốn để thi công công trình ngày một giảm.
*.Thực trạng hiệu quả đầu tư công thấp từ phía doanh nghiệp Nhà nước
(DNNN)
Nhóm 10 - Lớp Kinh tế Đầu tư 51E
24