TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Đề tài:
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng
Lớp : TCDN_K23_Đêm 1
Nhóm : 6
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2014
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 6
STT MSSV HỌ TÊN
1 7701230267 NGUYỄN THỊ THÚY AN
2 7701230273 TRẦN LÊ XUÂN AN
3 7701230355 PHAN NGỌC CHI
4 7701230403 LƯU VỸ ĐÀO
5 7701230606 LẠI MINH KHÔI
6 7701230577 NGUYỄN TRUNG KIÊN
7 7701231402 PHẠM LÊ HẠNH NGUYÊN
8 7701230977 TRẦN VIỆT THẮNG
9 7701231067 HUỲNH THỊ THU TRANG
10 7701231545 NGUYỄN THỊ THANH TRÚC
TÓM TẮT
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) là một yếu tố quan
trọng để quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế và là một trong những nguồn quan trọng để
bù đắp thiếu hụt về vốn. Đối với bất kỳ một quốc gia nào dù là nước phát triển hay đang
phát triển thì để nền kinh tế phát triển cần có vốn để tiến hành đầu tư tạo ra tài sản mới
cho nền kinh tế. Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở nước ngoài hoặc
huy động trong nước nhưng nguồn vốn trong nước có giới hạn nhất là đối với các nước
đang phát triển như Việt Nam hiện nay (tỷ lệ tích lũy thấp, nhu cầu đầu tư cao) nên việc
thu hút đầu tư nước ngoài là một việc rất quan trọng để bù đắp thiếu hụt vốn cho những
làm.
1.1.1 Dòng vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam
Sau 1986, Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã chuyển đổi sang cơ
chế thị trường để thúc đẩy kinh tế phát triển. Dòng vốn FDI vào Việt Nam từ 0,32 tỷ USD
vào năm 1988 tăng lên 4 tỷ USD vào năm 2005 với lãi suất tăng trưởng trong năm là
28%. Từ 1986 đến 2006, FDI thực tế tăng trung bình 6,8% với lạm phát trung bình. Thu
hút FDI và tăng trưởng kinh tế đã chịu ảnh hưởng tiêu cực giai đoạn 1998 – 2002 do
khủng hoảng tài chính 1997 tuy nhiên so với các quốc gia khác trong khu vực, theo nhận
định của UNCTAD, thì Việt Nam lại phục hồi tốt và ít chịu ảnh hưởng hơn cả, năm 2003
đã tăng trở lại đạt 1,3 tỷ USD.
Môi trường luật pháp cũng đã được thay đổi bằng việc ban hành Luật đầu tư nước
ngoài năm 1987 và Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật đầu tư mới đã được thông qua tạo
điều kiện tốt hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Và với môi trường kinh doanh thuận lợi
hơn, tình hình chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng, thì FDI vào Việt Nam đã tăng hàng
năm.
Năm 2009, dân số khoảng 90 triệu người FDI thực tế tăng trung bình 8,1% giai
đoạn 2007-2009, tăng tương ứng từ 45,3 tỷ USD lên 93,7 tỷ USD. Và theo các tiêu chuẩn
đo lường kinh tế, Việt Nam đã nổi lên là một trong những “con hổ” Đông Nam Á trong
khoảng một thập kỷ vừa qua.
Tính trong giai đoạn 2001 – 2010, FDI đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân
sách với 14 tỷ USD, FDI đóng góp vào GDP tăng dần theo từng năm đạt 19% vào năm
2011. Đến cuối năm 2013, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đạt
gần 22 tỷ USD tăng 54,2% so với cùng kỳ năm 2012.
Sau 25 năm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam đã thu hút
được 211 tỷ đô la với 14.550 dự án. Dòng vốn FDI được đánh giá là thay đổi tích cực cả
về chất và lượng, đặc biệt là giải tỏa bớt khó khăn cho nền kinh tế không chỉ về mặt vốn
đầu tư mà còn thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Bên cạnh đó nguồn vốn FDI đổ vào Việt
Nam trong 25 năm qua đã góp phần tạo ra 2 triệu việc làm trực tiếp và khoảng 3 đến 4
triệu việc làm gián tiếp.
1.1.2 Phân bổ FDI theo nước đầu tư
3 1 358,68 4,16 8522,07%
1.1.3 Phân bổ FDI theo địa phương
Không kể dầu khí ngoài khơi, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 52 tỉnh thành
phố. Thái Nguyên là địa phương thu hút nhiều vốn Đầu tư nước ngoài (FDI) nhất với tổng
vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,4 tỷ USD, chiếm 15,7% vốn đăng ký. Dưới đây là
10 địa bàn thu hút vốn FDI lớn nhất 2013. 10 lĩnh vực này chiếm 84,33% vốn đầu tư của
cả nước. Thứ tự top10 năm 2013 thay đổi đáng kể so với năm trước khi Thái Nguyên,
Thanh Hóa, Bình Thuận và Bình Định tăng mạnh về lượng vốn FDI được đầu tư. Trong
khi Hà Nội và Bình Dương lại sụt giảm so với 2012, lần lượt giảm 7,66% và 60%.
Địa phương
Số dự án cấp
mới
Số lượt dự
án tăng vốn
Vốn đăng ký cấp mới
và tăng thêm (triệu
USD)
Tăng/giảm
2013 2012
Thái Nguyên (37) 18 2 3.400,41 26,58 12695,05%
Thanh Hóa (26) 4 4 2.921,20 64,00 4464,38%
Hải Phòng (2) 27 34 2.612,56 1.169,80 123,33%
Bình Thuận (23) 10 2 2.030,75 80,34 2427,69%
TP Hồ Chí Minh (3) 399 87 1.554,56 1.116,48 39,24%
Bắc Ninh (6) 105 20 1.527,94 1.105,66 38,19%
Đồng Nai (4) 77 45 1.152,07 1.115,03 3,32%
Hà Nội (5) 231 76 1.026,51 1.111,64 -7,66%
Bình Định (33) 7 1 1.024,73 33,42 2966,40%
Bình Dương (1) 99 77 989,23 2.536,34 -61,00%
1.1.4 Phân bổ FDI theo ngành kinh tế
39 545,02 483,25 12,78%
5 HĐ chuyên môn, KHCN(9)
174
33 415,01 82,77 401,38%
6 Dịch vụ lưu trú và ăn uống(7)
17
2 240,42 108,23 122,13%
7 Xây dựng(6)
102
17 211,21 180,82 16,81%
8 Giáo dục và đào tạo(10) 8 4 117,92 86,47 36,37%
9 Y tế và trợ giúp XH(8) 8 1 89,70 136,81 -34,44%
10 Nông,lâm nghiệp;thủy sản(11)
10
8 86,73 87,89 -1,32%
1.1.5 Thực trạng thực hiện vốn FDI
Trong năm 2013, theo số liệu công bố bởi Tổng cục Thống kê, vốn FDI giải ngân
ước 11,5 tỷ USD, tổng vốn đăng ký ước 21,6 tỷ USD - cao nhất 4 năm qua.
Về cơ bản, trong 22 năm qua (từ 1991 đến nay), cả vốn đăng ký và vốn giải ngân
FDI đều tăng về quy mô và dần ổn định.
Cụ thể, cùng với quá trình mở cửa của nền kinh tế và hoàn thiện luật pháp về đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam, vốn đăng ký và vốn giải ngân FDI trong giai đoạn 1991 - 1996
tăng liên tục qua các năm nhưng quy mô còn nhỏ.
Tuy nhiên, từ 1997 do khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Đông Nam Á, bùng phát
đầu tiên tại Thái Lan, vốn đăng ký FDI vào Việt Nam giảm dần với mức giảm thấp nhất
là 2,2 tỷ USD vào năm 1999. Sau đó, tăng nhẹ và duy trì khoảng 2 - 3 tỷ USD trong giai
hưởng của nó đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Nghiên cứu này được mở rộng
cho thấy ảnh hưởng của FDI đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và bao gồm các biến
khác là Tỷ giá và Lạm phát. Nghiên cứu mong muốn sẽ đem lại lợi ích cho Chính phủ
trong việc vận dụng nguồn vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thu hút được từ các nhà
đầu tư nước ngoài.
1.4 Các giả thiết nghiên cứu
Giả thiết được đề ra trong nghiên cứu này:
H
0
: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Tỷ giá hối đoái (EXR) và Tỷ lệ lạm phát
(INFL) không có tác động đáng kể đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam.
2. CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Theo Todaro (1977) đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem là một cách lấp đầy vào
các khoảng trống giữa tiết kiệm quốc gia, nguồn thu ngoại hối của chính phủ và kế hoạch
tiêu dùng các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu phát triển. Một trong những lý
thuyết phổ biến là mô hình tăng trưởng của Harrod-Domar bởi Harrod (1948) và Domar
(1957). Đầu tư tạo ra thu nhập và tăng nhanh tốc độ năng lực sản xuất của nền kinh tế
bằng cách tăng nguồn vốn chứng khoán. Chỉ cần tăng đầu tư, thu nhập thực tế và sản
lượng sẽ tăng. Mô hình Harrod-Domar nhấn mạnh sự cần thiết phải đầu tư mới trong hình
thức bổ sung vốn cổ phần - mà FDI sẵn sàng cung cấp. Theo mô hình, có một mối quan
hệ trực tiếp giữa tốc độ tăng trưởng với tỷ lệ tiết kiệm quốc gia và tỷ lệ tăng trưởng sản
lượng.
Theo thuyết hiện đại hóa và phụ thuộc của Saqib ( 2013), trích dẫn Adams (2009).
Lý thuyết hiện đại hóa cho rằng vì tăng trưởng kinh tế nên đòi hỏi vốn đầu tư, do đó vốn
FDI được xem như là động lực của tăng trưởng kinh tế. Kiến thức, chuyển giao công nghệ
và vốn luôn là nỗi lo của chính phủ trong việc phát triển kinh tế của quốc gia. Nguồn vốn
FDI đóng một vai trò kép bằng cách góp phần tích lũy vốn và tăng tổng hệ số năng suất.
Lý thuyết phụ thuộc lập luận theo hướng ngược lại cho rằng nếu một quốc gia phụ
thuộc vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng trưởng kinh tế sẽ phải đối mặt với tác động
tiêu cực. FDI tạo ra độc quyền trong lĩnh vực công nghiệp mà không tận dụng được
Ở Nigeria, Akinlo (2004) đã làm một nghiên cứu thực nghiệm về FDI và tăng
trưởng ở Nigeria. Bằng cách sử dụng kiểm định ADF, PP và phân tích tương quan, ông
kết luận rằng FDI ở Nigeria có tác động tích cực tăng trưởng sau một độ trễ đáng kể. Kết
quả của ông cho thấy FDI đầu tư trong lĩnh vực khai thác dầu mỏ có tốc độ tăng trưởng
không nhiều như trong lĩnh vực sản xuất. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy xuất khẩu,
lao động và vốn con người liên quan tích cực đến tăng trưởng. Ông khuyên chính phủ nên
khuyến khích để nguồn vốn FDI đầu tư trong các ngành sản xuất, đồng thời nhấn mạnh sự
cần thiết ngăn chặn dịch chuyển vốn có một tác động tiêu cực nghiêm trọng đến FDI
trong ngắn hạn.
Osinubi và Amaghionyeodiwe (2010) đã thực hiện một nghiên cứu về đầu tư tư
nhân nước ngoài và tăng trưởng kinh tế tại Nigeria. Đầu tư tư nhân nước ngoài bao gồm
đầu tư nước ngoài trực tiếp trong tài sản thực và gián tiếp trong tài sản tài chính. Họ kết
luận rằng FDI không chỉ bổ sung thêm nguồn lực trong nước mà còn thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Bởi vì FDI có tác động tích cực và đáng kể vào tăng trưởng, các vấn đề liên quan
đến FDI không nên bỏ qua, chính phủ Nigeria nên khuyến khích các nguồn vốn FDI.
Macaulay (2011) đã nghiên cứu về FDI và hiệu suất của nền kinh tế Nigeria với
công việc chủ yếu là thảo luận về các công trình nghiên cứu trước đây. Tuy nhiên, ông
cũng có ý kiến tương tự khi cho rằng FDI có tác động tích cực đáng kể đến tăng trưởng
kinh tế. Ông nhận định về tác động tiêu cực của sự dịch chuyển vốn giống như Akinlo và
đề nghị chính phủ nên khuyến khích dòng vốn FDI nhưng cần có chính sách ngăn chặn
tác động tiêu cực dịch chuyển vốn và sự mất cân đối cán cân thanh toán.
Onu (2012) cũng nghiên cứu tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế ở Nigeria
giai đoạn 1986-2007. Với phương pháp phân tích hồi quy đa biến đã xác định tác động
của FDI đến tăng trưởng kinh tế ở Nigeria. Ông kết luận rằng FDI là động lực thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế nhưng lại không nhấn mạnh tiềm năng to lớn của FDI đối với đẩy
nhanh tốc độ phát triển kinh tế của Nigeria. Do tác động tích cực và quan trọng của FDI
tới tăng trưởng kinh tế nên khuyến khích dòng vốn nước ngoài, chính phủ cần có hệ thống
pháp luật để ngăn chặn tình trạng trốn thuế phổ biến và tham nhũng.
Theo Nguyễn Phi Lân (2006) mối liên hệ giữa Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối
với tăng trưởng kinh tế là một vấn đề gây tranh cãi trong một thời gian dài. Mặc dù cuộc
Tran Dinh Lam (2012) nghiên cứu khám phá những yếu tố quan trọng mang lại sự
thành công của phát triển kinh tế Việt Nam, đó là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Việt
Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn đầu tư rất lớn để hỗ trợ tăng trưởng
nhanh chóng của nó. Trong hai thập kỷ qua, nền kinh tế phát triển ở mức trung bình hàng
năm khoảng 7,5%, làm cho Việt Nam trở thành một trong những nước phát triển nhanh
nhất trên thế giới. Sự gia tăng của FDI là do của Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa
với thế giới kể từ thời điểm cải cách của chính phủ.
3. MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Các ước lượng thống kê được trình bày trong phần này dựa trên dữ liệu GDP, FDI,
Tỷ giá hối đoái và Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam từ Quý I năm 2000 đến Quý IV năm
2013. Các dữ liệu này được thu thập từ Ngân hàng thê giới (World Bank), Bộ Kế hoạch
và Đầu tư (MPI).
Theo Arslan Ahmad, Najid Ahmad và Sharafat Ali, mối liên hệ giữa sự phát triển
kinh tế đại diện bởi biến GDP và các biến vĩ mô như FDI, Tỷ giá hối đoái và Tỷ lệ lạm
phát được biểu hiện qua phương trình sau:
GDP = α + β
1
FDI + β
2
EXR + β
3
INFL + µ
Với:
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
EXR: Tỷ giá hối đoái
INFL: Tỷ lệ lạm phát
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ:
Kết quả từ việc chạy mô hình trong Eview:
Dependent Variable: LOGGDP(-2)
chính sách FDI có lựa chọn. Hiện nay có nhiều dự án FDI có vốn đầu tư hàng tỷ USD
đang bộc lộ những yếu tố không có lợi cho nền kinh tế. Việt Nam cần có tầm nhìn chiến
lược trong dài hạn và cụ thể, tập trung thu hút FDI vào những ngành, lĩnh vực mà Việt
Nam chưa làm được (như các dự án về cơ sở hạ tầng lớn, điện, đường…) theo hình thức
Công ty kết hợp (PPP – Public Private Partnership).
Đồng thời với các giải pháp trên, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực cũng như
cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo khả năng tiếp nhận các công nghệ được chuyển giao.
Cuối cùng, cần có nhiều công cụ kiểm soát các doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn
FDI để đảm bảo các doanh nghiệp này không thực hiện các hoạt động chuyển giá, trốn
thuế, gây thất thoát lợi ích của nền kinh tế.
5. KẾT LUẬN
Có thể thấy trong thời gian qua, FDI đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với quá
trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Cụ thể trong thời gian qua FDI đã chiếm
khoảng 25% trong tổng đầu tư toàn xã hội; đóng góp 18% GDP, từ 64-67% trong kim
ngạch xuất khẩu; từ 12-14% trong đóng góp cho ngân sách. Nhờ có nguồn vốn FDI, nhiều
ngành công nghiệp quan trọng dần hình thành, góp phần trong việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, FDI đã có đóng góp quan trọng trong cân đối xuất
nhập khẩu, đóng góp vào ngân sách và có ý nghĩa quan trọng trong tăng trưởng GDP. Tuy
nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định làm ảnh
hưởng đến quá trình thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI thông qua hiệu quả tổng
thể nguồn vốn FDI chưa cao; tỷ lệ vốn thực hiện thấp so với vốn đăng ký (chiếm 47%),
quy mô dự án FDI nhỏ, nhiều dự án chậm triển khai, giãn tiến độ; mục tiêu thu hút FDI
vào lĩnh vực công nghệ cao, chuyển giao công nghệ chưa đạt được; tạo việc làm chưa
tương xứng, đời sống người lao động làm việc cho doanh nghiệp (DN) FDI chưa cao;
hiệu ứng lan tỏa của khu vực FDI sang các khu vực khác còn hạn chế; giá trị gia tăng do
FDI tạo ra và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu thấp; một số dự án FDI chưa đảm
bảo tính bền vững, gây ô nhiễm môi trường, tiêu tốn năng lượng; có hiện tượng chuyển
giá, trốn thuế ở khu vực DN FDI. Do đó, cần thực hiện các biện pháp để khắc phục và lựa
chọn các nguồn vốn FDI theo những tiêu chí mới được đề ra trong giai đoạn mới Việt
Nam sẽ tập trung thu hút những dự án thân thiện với môi trường, có hàm lượng công nghệ
Nguyễn Thị Tường Anh – Nguyễn Hữu Tâm.
6. Hans-Rimbert Hemmer, Nguyen thi Phuong Hoa(2002), Contribution of Foreign
Direct Investment to Poverty Reduction: The Case of Vietnam in the 1990s, Univ.
Giessen, Fachbereich Wirtschaftswiss.
7. Website Bộ Tài chính: www.mof.gov.vn
8. Website Bộ Kế hoạch Đầu tư: www.mpi.gov.vn
Phụ lục 1:
Số liệu sử dụng trong bài (FDI và GDP: giá so sánh 1994)
Thời điểm FDI (Triệu USD) GDP (Triệu USD) EXR INFL
2000Q1 357.17 7125.99 14061.11 -2.01
2000Q2 896.75 10948.91 14084.34 -2.56
2000Q3 707.39 8391.22 14159.43 -1.85
2000Q4 876.69 11383.50 14509.86 -0.54
2001Q1 373.23 7900.91 14551.23 -1.4
2001Q2 888.86 12255.37 14768.98 -0.40
2001Q3 716.98 9513.51 14999.25 0.65
2001Q4 702.24 12538.44 15069.1 0.58
2002Q1 324.14 8775.48 15162.71 3.16
2002Q2 813.82 13595.80 15264.75 4.21
2002Q3 641.97 10433.21 15335.67 4.02
2002Q4 795.62 13860.69 15395.5 4.24
2003Q1 362.2 9544.40 15441.29 4.12
2003Q2 953.01 14652.35 15484.88 3.07
2003Q3 793.44 11802.59 15534.98 2.63
2003Q4 591.35 15114.18 15641.17 3.16
2004Q1 1219.72 10415.67 15751.41 5.62
2004Q2 415.08 15948.42 15730.59 8.18
2004Q3 1340.5 13154.57 15755.59 10.03
2004Q4 1230.58 16885.15 15776.61 9.72
2005Q1 1732 11233.26 15811.46 8.48
2012Q4 3486.96 39202.29 20846.07 6.76
2013Q1 6034.18 24977.88 20945.19 6.68
2013Q2 4438.76 34514.63 21033.45 6.75
2013Q3 4532.34 34722.67 21128.62 6.27
2013Q4 6622.76 42097.69 21110.64 6.89
Phụ lục 2:
Kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu
Chuỗi GDP:
Null Hypothesis: D(LOG.GDP,2) has a unit root
Exogenous: Constant
Lag Length: 4 (Automatic based on SIC, MAXLAG=10)
t-Statistic Prob.*
Augmented Dickey-Fuller test statistic -8.215874 0.0000
Test critical values: 1% level -3.571310
5% level -2.922449
10% level -2.599224
*MacKinnon (1996) one-sided p-values.
Chuỗi Log(GDP) dừng ở sai phân bậc 2 với mức ý nghĩa 1%.
Chuỗi FDI:
Null Hypothesis: D(LOG.FDI) has a unit root
Exogenous: Constant
Lag Length: 0 (Automatic based on SIC, MAXLAG=10)
t-Statistic Prob.*
Augmented Dickey-Fuller test statistic -12.63789 0.0000
Test critical values: 1% level -3.557472
5% level -2.916566
10% level -2.596116
*MacKinnon (1996) one-sided p-values.
Chuỗi Log(FDI) dừng ở sai phân bậc 1 với mức ý nghĩa 1%
Chuỗi EXR:
*MacKinnon (1996) one-sided p-values.
Phần dư dừng với mức ý nghĩa 10%