Tác động của quản trị công ty lên tính thanh khoản của cổ phiếu tại thị trường việt nam - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ NGUYỆT ÁNH

TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY LÊN
TÍNH THANH KHOẢN CỦA CỔ PHIẾU TẠI
THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh-2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ NGUYỆT ÁNH

TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY LÊN
TÍNH THANH KHOẢN CỦA CỔ PHIẾU TẠI
THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính-Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO

TP. Hồ Chí Minh-2015


1.3.

Động cơ thực hiện nghiên cứu tại Việt Nam .................................................3

1.4.

Tính mới của bài nghiên cứu .........................................................................4

1.5.

Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................5

1.6.

Đóng góp của đề tài .......................................................................................6

1.7.

Bố cục bài nghiên cứu ...................................................................................7

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY ............................................................................................................8
2.1.

Cơ sở lý thuyết ...............................................................................................8

2.1.1.

Mối quan hệ giữa bất cân xứng thông tin và tính thanh khoản ..............8

3.2.3.

Các biến kiểm soát ................................................................................30

3.3.

Phương pháp nghiên cứu .............................................................................31


3.3.1. Hồi quy Pooled OLS cluster, mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed effect)
và hồi quy Pooled Mean Group. .........................................................................32
3.3.2.

Kiểm định Hausman .............................................................................34

3.3.3.

Hồi quy hai giai đoạn 2SLS (Two-stage least squares) ........................34

3.3.4.

Các kiểm định tính vững chắc ..............................................................35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................37
4.1.

Thống kê mô tả các biến ..............................................................................37

4.2.


4.7.

Kiểm định tính vững chắc của các kết quả ..................................................52

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ......................................................................................55
5.1.

Kết luận từ các kết quả nghiên cứu đạt được ..............................................55

5.2.

Hạn chế của bài nghiên cứu .........................................................................56

5.3.

Đề xuất cho việc cải thiện chất lượng quản trị công ty tại Việt Nam .........57

5.4.

Hướng phát triển của đề tài .........................................................................59

PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HNX – Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE – Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh
GI – Chỉ số quản trị công ty
ILLIQ – Chỉ số kém thanh khoản Amihud (2002)

nhiều hơn cho các cổ phiếu của các công ty được quản trị tốt. Với một mẫu gồm
207 công ty phi tài chính được niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán HOSE
và HNX từ năm 2011 đến năm 2014, các kết quả của bài nghiên cứu cho thấy một
mối quan hệ có ý nghĩa giữa quản trị công ty và tính thanh khoản trong các công ty
theo thời gian. Cụ thể là, trong các công ty, khi chất lượng quản trị gia tăng, tính
thanh khoản được cải thiện đáng kể. Bài nghiên cứu cũng cho thấy rằng các kết quả
dường như không bị ảnh hưởng bởi vấn đề nội sinh.


2

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1.

Lý do chọn đề tài

Lý thuyết cấu trúc vi mô của thị trường nhấn mạnh rằng tính thanh khoản là một
trong những đặc trưng quan trọng nhất của thị trường chứng khoán. Việc tìm cách
để làm tăng tính thanh khoản của cổ phiếu là một chủ đề thu hút cả các nhà làm
chính sách và các nhà quản trị. Handa và Schwat (1996) cho rằng: “Các nhà đầu tư
muốn ba thứ từ thị trường: thanh khoản, thanh khoản và thanh khoản”. Tuy nhiên,
tính thanh khoản lại phụ thuộc vào mức độ bất cân xứng thông tin trên thị trường tài
chính. Một số lý thuyết như lý thuyết đại diện (Jensen & Meckling, 1976), lý thuyết
ngăn chặn (theory of entrenchment) (Sheleifer & Vishny, 1989) và lý thuyết quản lý
(stewardship theory) (Davis và cộng sự, 1976) đều đưa ra mối quan hệ giữa các
hình thức quản trị công ty và vấn đề bất cân xứng thông tin. Dựa vào các lý thuyết
trên, một số bài nghiên cứu trước đây tìm thấy bằng chứng rằng quản trị công ty tốt
có tương quan với việc công bố thông tin tốt hơn và tự nguyện hơn. Chính điều này
làm giảm vấn đề bất cân xứng thông tin trên thị trường cũng như làm giảm sự lựa
chọn đối nghịch của các nhà đầu tư, mức độ bất cân xứng thông tin thấp và mâu

số nước đã phát hành những văn bản để đưa ra một số cải cách trong quản trị công
ty, trong đó có Mỹ. Mặc dù có rất nhiều bài nghiên cứu kiểm tra tác động của quản
trị công ty lên các thành quả khác nhau của công ty, nhưng tác động của quản trị
công ty lên tính thanh khoản của cổ phiếu nhận được ít sự quan tâm hơn. Chỉ có
một trong những số ít bài nghiên cứu trước đây điều tra trực tiếp ảnh hưởng của
việc quản trị nội bộ công ty lên tính thanh khoản đó là bài nghiên cứu của Chung và
các cộng sự (2010). Tuy nhiên, mẫu của bài nghiên cứu này hạn chế, chỉ áp dụng
được cho các công ty ở Mỹ vì những khác biệt về thể chế và pháp lý, do đó những
kết luận của bài nghiên cứu chưa chắc chắn đúng với các quốc gia khác, đặc biệt
trong các thị trường mới nổi, nơi mà thị trường tài chính ít phát triển hơn. Là một
thị trường mới nổi, Việt Nam là một địa điểm thú vị để nghiên cứu vấn đề này với
một số lý do như sau:
-

Thứ nhất, các công ty Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng là

nguồn tài trợ chính. Tương tự như ở Mỹ, thị trường vốn công của Việt Nam cũng
đóng một vai trò yếu hơn. Trong phạm vi các công ty Việt Nam ít dựa vào thị
trường vốn công, tính thanh khoản thị trường của các cổ phiếu có thể đóng một vai
trò khác ở Việt Nam.
-

Thứ hai, các thị trường vốn công ở Việt Nam tương đối non trẻ, không phức

tạp như ở Mỹ, và thông tin ít hiệu quả hơn, do đó làm trầm trọng thêm vấn đề bất
cân xứng thông tin và sự lựa chọn đối nghịch. Kết quả là, vốn chủ sở hữu ở Việt


4


chứng minh rằng quản trị công ty có tác động đáng kể lên chính sách cổ tức của


5

năm quốc gia Châu Á. Bên cạnh đó, thay vì sử dụng cấu trúc sở hữu như một nhân
tố tác động trực tiếp đến tính thanh khoản của cổ phiếu, bài nghiên cứu lại sử dụng
nó như một kiểm định tính vững chắc cho các kết quả nghiên cứu, tránh sự trùng lặp
với các nghiên cứu trước đây tại thị trường Việt Nam.
1.5.

Phương pháp nghiên cứu

Theo lý thuyết, quản trị công ty tác động đến tính thanh khoản của thị trường chứng
khoán vì quản trị hiệu quả cung cấp một sự giám sát nhiều hơn đối với các nhà quản
lý, do đó tránh được việc các nhà quản lý không hiệu quả hoặc nhà quản lý cơ hội
từ việc che giấu thông tin. Vậy nên, quản trị công ty một cách chặt chẽ được mong
đợi là để cải thiện tính minh bạch, làm giảm sự bất cân xứng thông tin (Chung và
cộng sự, 2010). Khi bất cân xứng thông tin giảm đi, những cổ đông đối mặt với vấn
đề lựa chọn đối nghịch ít hơn (Glosten & Milgrom, 1985). Kết quả là các công ty có
sự quản trị chặt chẽ hơn được mong đợi là vốn chủ sở hữu có tính thanh khoản
nhiều hơn.

+
Tính thanh
khoản thị
trường của
cổ phiếu

-

mô công ty, đòn bẩy, biến động tỷ suất sinh lợi, tỷ lệ tài sản cố định hữu hình, giá
cổ phiếu và số năm hoạt động của công ty. Để khắc phục vấn đề nội sinh, bài
nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy hai giai đoạn (2SLS). Các kết quả 2SLS
cho thấy rằng việc quản trị công ty một cách chặt chẽ hơn dẫn đến tính thanh khoản
cao hơn.
1.6.

Đóng góp của đề tài

Với những kết quả đạt được, bài nghiên cứu này đã liên kết được hai lĩnh vực lý
thuyết quan trọng đó là lý thuyết cấu trúc vi mô của thị trường và lý thuyết tài chính
doanh nghiệp lại với nhau :


7

-

Trước tiên, bài nghiên cứu đóng góp vào cuộc tranh luận liên tục và sôi nổi

về tác động của quản trị công ty lên các thành quả quan trọng khác nhau của công ty
như giá trị công ty, cấu trúc vốn, chi phí tài trợ, đa dạng hóa công ty, dòng tiền nắm
giữ, cấu trúc kỳ hạn nợ, tiền thưởng CEO và quyền sở hữu tổ chức. Bài nghiên cứu
cho thấy rằng quản trị công ty là một nhân tố quyết định đáng kể của tính thanh
khoản cổ phiếu tại Việt Nam.
-

Thứ hai, lý thuyết về cấu trúc vi mô của thị trường cung cấp sự hiểu biết về

một số nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản như quy mô công ty, sự biến động

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.

-

Chương 4: Kết quả nghiên cứu.

-

Chương 5: Kết luận.


8

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1.

Cơ sở lý thuyết

Tài chính doanh nghiệp và cấu trúc vi mô của thị trường (market microstructure) là
hai lĩnh vực quan trọng trong lý thuyết tài chính. Hai lĩnh vực này đã được phát
triển riêng biệt rất tốt, tuy nhiên chúng hiếm khi được liên kết với nhau. Bài nghiên
cứu này được thực hiện để liên kết hai lĩnh vực trên với nhau.
2.1.1. Mối quan hệ giữa bất cân xứng thông tin và tính thanh khoản
Cấu trúc vi mô của thị trường nghiên cứu về lý thuyết, thực nghiệm và thực tiễn về
tính kinh tế của thị trường chứng khoán, bao gồm vai trò của thông tin trong quá
trình định giá; định nghĩa, phương pháp đo lường, kiểm soát và các yếu tố quyết
định tính thanh khoản và chi phí giao dịch, tác động của chúng đối với sự hiệu quả,
phúc lợi và quy định của cơ chế giao dịch thay thế và cấu trúc thị trường (National
Bureau of Economic Research). Lý thuyết cấu trúc vi mô của thị trường nhấn mạnh

tượng hưởng lợi còn lại, nhà quản lý dễ dàng nhận biết được tình huống nào, hợp
đồng nào, đối tác nào sẽ đem lại nguồn lợi và nhà quản lý có khả năng đưa lợi ích
đó ra khỏi hoạt động của công ty; thứ hai, sự không chắc chắn về những vấn đề có
thể xảy ra trong quá trình điều hành công ty hàng ngày, với hàng ngàn nhân tố góp
phần tạo nên lợi nhuận cho công ty, việc một công ty mang lại lợi nhuận cao hay lỗ
trong kỳ kinh doanh chịu nhiều ảnh hưởng của thị trường, do vậy các nhà quản lý
có thể kiểm soát được các yếu tố đó hay không là do năng lực và cả sự may mắn
của họ, đây là một điều khó có thể xác định được một cách rõ ràng. Các cổ đông có
thể không thích những lợi ích cá nhân của các nhà quản lý vì nó sẽ làm gia tăng chi
phí cho công ty, đồng thời nó cũng làm giảm những lợi ích mà công ty có thể nhận
được. Khi quyền sở hữu và quản lý của một công ty được tách biệt, vấn đề đại diện
sẽ xuất hiện, và các công ty phải gánh chịu chi phí đại diện để làm giảm những vấn
đề đại diện đó. Lý thuyết đại diện cho rằng có hai lựa chọn để làm giảm vấn đề đại
diện, cả hai cách đều có thể hạn chế hành vi chủ nghĩa cơ hội của nhà quản lý. Đầu
tiên là tạo ra một cấu trúc quản trị có thể giám sát và đánh giá hành vi thực sự của
nhà quản lý. Cấu trúc này có thể bao gồm: các thủ tục báo cáo, tăng thêm việc quản
lý hay sự hiện diện của một hội đồng quản trị. Thứ hai là tạo nên một cấu trúc quản


10

trị nơi mà hợp đồng được dựa trên thành quả thực tế của các nhà quản lý. Một ví dụ
của loại cấu trúc này là các khoản thưởng khích lệ cho việc đạt được thành quả tốt.
-

Lý thuyết ngăn chặn (theory of entrenchment) (Sheleifer & Vishny, 1989):

Sheleifer và Vishny (1989) đã mô tả cách thức mà các nhà quản lý có thể thực hiện
các đầu tư đặc biệt để gia tăng giá trị của họ đối với các cổ đông. Bằng cách thực
hiện các đầu tư đó, các nhà quản lý có thể làm giảm khả năng bị thay thế, nhận được

mang lại lợi nhuận tốt cho các cổ đông. Họ không nhất thiết phải làm những điều đó
vì lợi ích của bản thân không có, nhưng vì họ cảm thấy một trách nhiệm mạnh mẽ
đối với công ty. Các cá nhân ở vị trí quản lý chủ yếu không tự coi mình như những
cá nhân bị cô lập. Thay vào đó, họ tự coi mình là một phần của công ty, các nhà
quản lý kết hợp cái tôi và ý thức giá trị của mình với danh tiếng của công ty. Lý
thuyết này đề cập đến vấn đề động lực của những nhà quản lý và cho rằng thành quả
công ty khác nhau là do tình trạng cấu trúc quản trị, trong đó giám đốc điều hành có
được tạo điều kiện để làm việc hiệu quả hay không. Cụ thể, liên quan đến vai trò
của giám đốc điều hành, cấu trúc quản trị có thể hỗ trợ họ đạt được năng suất làm
việc cao nhất phải đảm bảo vai trò của họ không mơ hồ và quyết định không bị chi
phối bởi cấp cao hơn. Trường hợp này có thể đạt được khi Chủ tịch hội đồng quản
trị kiêm giám đốc điều hành, quyền lực được tập trung chỉ trong một người. Tương
tự, việc quản trị và điều hành công ty sẽ trở nên rõ ràng và phù hợp hơn cho cả
những người quản lý cấp dưới và các thành viên khác của hội đồng quản trị công ty
do sự chỉ đạo thống nhất, rõ ràng ngay từ cấp cao nhất. Như vậy, lý thuyết quản lý
không chỉ tập trung thúc đẩy giám đốc điều hành mà còn nâng cao vị thế giám đốc
điều hành vì cho rằng sự hợp nhất trách nhiệm giữa Chủ tịch hội đồng quản trị và
giám đốc điều hành sẽ nâng cao thành quả tài chính của công ty cũng như làm giảm
vấn đề bất cân xứng thông tin. Từ đó, lợi ích của cổ đông sẽ cao hơn trường hợp
tách biệt Chủ tịch hội đồng quản trị - giám đốc điều hành.
Dựa trên nền tảng của ba lý thuyết trên, quản trị công ty ra đời như một hệ quả tất
yếu để giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin giữa các nhà quản lý và các cổ đông
của công ty. Quản trị công ty bao gồm việc kiểm soát và tồn tại các tiến trình để
đảm bảo rằng các hoạt động quản lý mang lại lợi ích cho các cổ đông. Thêm vào đó,
để giảm khả năng việc quản lý, hoạt động cho lợi ích cá nhân, hay có những hành
động đi chệch khỏi việc tối đa hóa giá trị công ty, cơ chế quản trị công ty cũng ảnh
hưởng đến thông tin được công bố bởi công ty tới các cổ đông của nó. Những cơ


12

mang một hàm ý quan trọng là các công ty có tính thanh khoản cao thì có giá trị cao
hơn. Ngoài ra, mô hình này còn cho thấy rằng các công ty có quyền lực cổ đông


13

thấp (chi phí giám sát cao) và sự tập trung quyền sở hữu thấp có thể đạt được tính
thanh khoản cao hơn. Các công ty có thể làm tăng tính thanh khoản bằng cách áp
dụng cách thức chi trả cho các nhà quản lý theo thành tích đạt được, điều này sẽ
đảm bảo tính thanh khoản đạt được mức tối đa. Thêm vào đó, các công ty ở các
quốc gia có luật bảo vệ cổ đông tốt hơn và các quy định công bố thông tin có hiệu
quả hơn thì tính thanh khoản thị trường cao hơn và do đó chi phí vốn sẽ thấp hơn.
Tuy nhiên, các quy định công bố thông tin tương tác phù hợp với cơ chế quản trị
công ty và việc công bố thông tin tốt hơn dẫn đến tính thanh khoản thị trường cao
hơn chỉ trong điều kiện là các cơ chế quản trị công ty khác hiệu quả. Tương tự như
vậy, mối quan hệ giữa quản trị công ty và thành quả công ty được Sanjai Bhagat
(2007) nghiên cứu cho các công ty ở Mỹ. Bài nghiên cứu này đã đóng góp cho lý
thuyết ba vấn đề, thứ nhất thay vì chỉ xem xét một phương pháp đơn lẻ để đo lường
quản trị công ty, tác giả xem xét bảy phương pháp đo lường quản trị khác nhau, tác
giả đã nhận ra rằng quản trị công ty được đo lường tốt hơn bởi các chỉ số GIM và
BCF, quyền sở hữu cổ phiếu của các thành viên hội đồng quản trị, sự tách biệt giữa
CEO và chủ tịch hội đồng có tương quan dương và có ý nghĩa với thành quả hiện tại
và thời gian tiếp theo đó; thứ hai, không có phương pháp đo lường quản trị nào có
tương quan với thành quả thị trường chứng khoán trong tương lai; thứ ba, nếu thành
quả của công ty kém, khả năng quản lý doanh thu có tương quan dương với quyền
sở hữu cổ phiếu của các thành viên trong hội đồng quản trị và với sự độc lập của hội
đồng. Các kết quả của bài nghiên cứu đưa ra một số hàm ý cho các nhà nghiên cứu,
các nhà làm chính sách và hội đồng quản trị công ty: các nỗ lực để cải thiện quản trị
công ty nên tập trung vào quyền sở hữu của các thành viên hội đồng quản trị, vì nó
có tương quan dương với cả thành quả hoạt động trong tương lai và khả năng quản

sách cổ tức. Sự quản trị công ty yếu kém thường bị cho là nguyên nhân chính dẫn
đến sự sụp đổ của một vài nền kinh tế trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á
năm 1997 – 1998, tác giả đã nghiên cứu sự phát triển của quản trị công ty trong
khoảng thời gian từ năm 1994 đến năm 2003 của năm quốc gia Nam Á bị tác động
bởi cuộc khủng hoảng tài chính này. Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu chính
sách cổ tức, tập trung vào ảnh hưởng của quản trị và thể chế luật pháp lên tỷ lệ chi
trả cổ tức theo thời kỳ. Bài nghiên cứu này đã khám phá các khía cạnh của quản trị
công ty trong cả cấp độ công ty và quốc gia, cung cấp sự hiểu biết duy nhất về ảnh


15

hưởng của cú sốc kinh tế Nam Á năm 1997. Tác giả đã xem xét một thời kỳ 10
năm, cung cấp một bức tranh thực tiễn trước và sau khủng hoảng, cũng như so sánh
sự khác biệt giữa phân tích chéo (cross-sectional) và chuỗi thời gian (time series).
Thêm vào đó để chứng minh những thay đổi trong thực tiễn quản trị theo thời gian,
tác giả đặc biệt khám phá tỷ lệ chi trả cổ tức và vai trò của nó như một cơ chế để
bảo vệ các cổ đông thiểu số.
Hayong Yun (2005) cung cấp một bằng chứng về tác động của quản trị công ty lên
sự lựa chọn của công ty giữa tiền mặt và các cam kết vay để đáp ứng nhu cầu thanh
khoản của công ty như thế nào. Các cam kết cho vay là hình thức phổ biến của các
ngân hàng thương mại và cho vay. Theo thống kê phát hành của Cục dự trữ liên
bang (tháng 12 năm 2004), gần 80% các khoản vay thương mại và công nghiệp
được thực hiện dưới các hợp đồng cam kết. Cùng với việc nắm giữ tiền mặt, các
cam kết vay tạo thành phương tiện chính để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của các
công ty. Mặc dù được sử dụng phổ biến như vậy, nhưng những người bên trong
công ty thường bất đồng về cách làm thế nào để bảo vệ nhu cầu thanh khoản của
công ty giữa hai phương tiện thay thế là tiền mặt và các cam kết vay. Tiền mặt đem
lại cho các nhà quản lý sự tự do làm theo ý muốn nhiều hơn và sự linh hoạt trong
hoạt động, nhưng đem lại cho công ty rủi ro chủ nghĩa quản lý cơ hội. Mặt khác,

định mới về ảnh hưởng của tính thanh khoản theo thời gian cho thấy rằng tính kém
thanh khoản mong đợi của thị trường tác động tích cực và có ý nghĩa lên lợi nhuận
vượt trội dự đoán của cổ phiếu, và tính kém thanh khoản không mong đợi có ảnh
hưởng ngược chiều, có ý nghĩa lên lợi nhuận cổ phiếu. Tác động theo thời gian của
tính kém thanh khoản lên lợi nhuận vượt trội của cổ phiếu khác nhau giữa các cổ
phiếu bởi tính thanh khoản hay quy mô cũng chúng.
Nhìn chung, lý thuyết cho rằng các cơ chế quản trị có thể cải thiện được tính thanh
khoản thị trường của cổ phiếu các công ty. Các bài nghiên cứu gần đây thường dựa
vào các lý thuyết nền tảng như lý thuyết đại diện (Jensen & Meckling, 1976), lý
thuyết ngăn chặn (theory of entrenchment) (Sheleifer & Vishny, 1989) và lý thuyết
quản lý (stewardship theory) (Davis và cộng sự, 1976). Những lý thuyết này chỉ ra
mối quan hệ giữa các hình thức quản trị và vấn đề bất cân xứng thông tin. Các bài


17

nghiên cứu trước cho rằng quản trị công ty tốt hơn có mối quan hệ với việc công bố
thông tin thường xuyên và tự nguyện hơn (Ajinkya và cộng sự, 2005; Donnelly &
Mulcahy, 2008). Việc tự nguyện công bố thông tin làm giảm vấn đề bất cân xứng
thông tin và làm giảm sự lựa chọn đối nghịch cho các nhà đầu tư (Coller & Yohn,
1997). Tác động của các cơ chế quản trị công ty lên tính thanh khoản thị trường
chứng khoán nói chung được giải thích bởi rủi ro sự lựa chọn đối nghịch mà một
nhà đầu tư có thể đối mặt trong bối cảnh bất cân xứng thông tin (Glosten & Yohn,
1997). Thêm vào đó, mức độ bất cân xứng thông tin thấp và mâu thuẫn đại diện ít
hơn sẽ cải thiện tính thanh khoản của chứng khoán (Brenan & Subrahmanyam,
1995; Kyle, 1985).
Một số nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ giữa quản trị công ty và tính thanh khoản
giữa các nước trong sự khác biệt về môi trường pháp lý và quy định. Bacidore và
Sofianos (2002) đã thực hiện một nghiên cứu cho các cổ phiếu được niêm yết trên
sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE) và cho rằng cổ phiếu của các công ty

bạch tài chính và thực tiễn công bố thông tin kém, các nhà quản lý thường sử dụng
các thông tin có lợi của họ để theo đuổi lợi ích các nhân, điều đó sẽ dẫn đến sự gia
tăng trong chi phí đại diện giữa các nhà quản lý và các cổ đông. Khi vấn đề đại diện
trở nên tồi tệ, những người bên trong (như các giám đốc điều hành hay những người
nắm quyền kiểm soát) có thể dễ dàng chiếm đoạt tài sản và quyền của các cổ đông
nhỏ; lý do là quản trị công ty kém có mối quan hệ với việc công bố thông tin kém.
Việc cải thiện tính minh bạch và công bố thông tin sẽ làm cho việc quản trị công ty
tốt hơn, phần lớn là vì việc công bố thông tin của một công ty có thể được xem như
là một cơ chế hiệu quả để bảo vệ quyền cho những cổ đông. Tính minh bạch và
công bố thông tin tốt hơn có thể giúp các cổ đông có sự hiểu biết tốt hơn về thực
tiễn quản trị của các công ty, từ đó giúp giảm vấn đề bất cân xứng thông tin mà các
nhà đầu tư phải đối mặt. Các tác giả kết luận rằng việc một công ty công bố thông
tin kém thì đi kèm với quản trị công ty kém và mức độ rủi ro bất cân xứng thông tin
cao. Các nhà quản lý nên cố gắng làm theo các quy định công bố thông tin khác
nhau và các luật bảo vệ nhà đầu tư bằng cách công bố thông tin với khả năng tốt
nhất cũng như với tất cả các thông tin họ có về công ty. Khi một công ty có tính
minh bạch và công bố thông tin tốt hơn, vấn đề bất cân xứng thông tin và vấn đề đại



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status