BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH THỊ THU TRANG
CÁC YẾU TỐ GIẢI THÍCH TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT
NGOÀI KỲ VỌNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỔ PHIẾU THEO
NGÀNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH THỊ THU TRANG
CÁC YẾU TỐ GIẢI THÍCH TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT
NGOÀI KỲ VỌNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỔ PHIẾU THEO
NGÀNH TRÊN THI TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – ngân hàng
Mã số
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VŨ VIỆT QUẢNG
2.1.1. Lý thuyết Fisher ................................................................................................... 5
2.1.2. Các tranh luận khác về vai trò của lạm phát đối với cổ phiếu ............................. 5
2.2. Thực tiễn nghiên cứu ở nước ngoài ................................................................................ 8
2.3. Thực tiễn nghiên cứu ở Việt Nam ................................................................................ 12
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................ 16
3.1. Dữ liệu nghiên cứu ....................................................................................................... 16
3.2. Mô tả các biến............................................................................................................... 17
3.3. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................. 18
3.3.1. Lạm phát ngoài kỳ vọng .................................................................................... 18
3.3.2. Trạng thái nền kinh tế ........................................................................................ 19
3.4. Mô hình nghiên cứu ...................................................................................................... 20
3.4.1. Ước lượng yếu tố lạm phát ngoài kỳ vọng ........................................................ 21
3.4.2. Giới thiệu sơ lược mô hình ARIMA .................................................................. 22
3.4.3. Phản ứng của suất sinh lợi bất thường theo ngành đối với lạm phát ngoài
kỳ vọng .............................................................................................................................
3.4.4. Các yếu tố giải thích phản ứng của suất sinh lợi bất thường đối với lạm
phát ngoài kỳ vọng ....................................................................................................... 26
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU........................................................................ 30
4.1. Ước lượng yếu tố lạm phát ngoài kỳ vọng bằng mô hình ARIMA .............................. 30
4.2.Kết quả hồi quy ............................................................................................................ 36
4.2.1. Tác động của lạm phát ngoài kỳ vọng đến suất sinh lợi bất thường ................. 36
4.2.2. Phản ứng của lãi suất phi rủi ro ......................................................................... 52
4.2.3. Phản ứng của của phần bù rủi ro cổ phiếu ......................................................... 53
4.2.4. Phản ứng của kỳ vọng tăng trưởng .................................................................... 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ................................................................................................ 57
5.1. Các kết quả nghiên cứu chính....................................................................................... 57
5.2. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu ..................................................................... 58
-
CAPM: Mô hình định giá tài sản vốn
-
GARCH: Generalized Autoregressive Conditional Heteroscedasticity
-
BFH: Lý thuyết tài chính hành vi
-
DDM: Mô hình chiết khấu cổ tức
-
IP: Chỉ số sản xuất công nghiệp
-
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
-
GSO: Tổng cục Thống kê Việt Nam
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Hình 4.1 – Phân loại trạng thái nền kinh tế theo phương pháp của McQueen và
Roley (1993) ....................................................................................................trang 35
Hình 4.2 – Đồ thị suất sinh lợi bất thường theo ngành ....................................trang 39
1
Tóm tắt đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu này phân tích tác động của yếu tố lạm phát ngoài kỳ vọng lên tỷ
suất sinh lợi cổ phiếu theo ngành trong ngắn hạn trên thị trường chứng khoán Việt
Nam và đi sâu hơn nữa là nghiên cứu các nhân tố giải thích tác động đó (lãi suất phi
rủi ro, phần bù rủi ro và kỳ vọng tăng trưởng). Với dữ liệu được thu thập trong
khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 7 năm 2015 và sử dụng mô hình
hồi quy OLS, kết quả cho thấy trong trường hợp kinh tế suy thoái và lạm phát thực
tế cao hơn lạm phát kỳ vọng (tin xấu) thì lạm phát ngoài kỳ vọng có tác động
dương đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu nhưng trong trường hợp nền kinh tế không suy
thoái và lạm phát thực tế cao hơn lạm phát kỳ vọng thì tác động là âm.
Từ khóa: lạm phát ngoài kỳ vọng, tỷ suất sinh lợi cổ phiếu, suất sinh lợi bất
thường
2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ kinh tế bất ổn, lạm phát biến động lớn, các nhà đầu tư có xu
hướng tìm kiếm các tài sản đầu tư trú ẩn an toàn trước lạm phát. Cổ phiếu thường
được cho là một trong những tài sản phục vụ cho mục tiêu này, khi đó nhà đầu tư
Trong phân tích thứ nhất, tác giả xem xét chiều hướng của lạm phát ngoài kỳ
vọng (“tin tốt” hay “tin xấu”) và tình trạng của nền kinh tế (“suy thoái” hay “không
suy thoái”). Trong phân tích thứ hai, mô hình chiết khấu cổ tức (Dividend Discount
Model - DDM) được sử dụng như khung lý thuyết để kiểm soát các thành phần
chính của giá cổ phiếu: lãi suất phi rủi ro, phần bù rủi ro cổ phiếu và kỳ vọng tăng
trưởng lợi nhuận của công ty.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, cho thấy câu hỏi nghiên cứu của luận văn như
sau:
- Yếu tố lạm phát ngoài kỳ vọng tác động đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu theo
ngành trong ngắn hạn như thế nào trong từng trường hợp (tin tốt hay tin xấu, kinh tế
suy thoái hay không suy thoái)?
- Nếu có sự tác động của lạm phát ngoài kỳ vọng tác động đến tỷ suất sinh
lợi cổ phiếu theo ngành thì yếu tố nào giải thích cho sự tác động đó (lãi suất phi rủi
ro, phần bù rủi ro hay kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận của công ty)?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Bài nghiên cứu sẽ tiến hành quan sát, đo lường những phản ứng của tỷ suất
sinh lợi cổ phiếu theo ngành (được thể hiện thông qua chỉ số giá cổ phiếu của từng
ngành trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh), lãi suất phi rủi ro,
phần bù rủi ro, kỳ vọng tăng trưởng đối với thông tin lạm phát ngoài kỳ vọng (được
tính toán thông qua chỉ số giá tiêu dùng CPI).
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, khung thời gian được lựa chọn để thực hiện nghiên cứu bắt đầu từ
tháng 8 năm 2008 đến tháng 7 năm 2015.
4
Thứ hai, trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu giới hạn đối tượng là
một hàng rào chắn chống lại lạm phát. Điều này ngụ ý rằng các nhà đầu tư được bồi
thường đầy đủ bằng sự gia tăng của mức giá chung thông qua sự gia tăng tương ứng
suất sinh lợi danh nghĩa từ cổ phiếu đủ lớn để bao gồm tỷ lệ lạm phát và suất sinh
lợi thực mà nhà đầu tư yêu cầu và do đó suất sinh lợi thực sự vẫn không bị ảnh
hưởng. Theo lý thuyết Fisher, khi nghiên cứu nên sử dụng suất sinh lợi cổ phiếu
thực tế hơn là suất sinh lợi cổ phiếu danh nghĩa, và ông cho rằng suất sinh lợi cổ
phiếu thực sự phải độc lập với lạm phát.
Để kiểm chứng điều này, các nghiên cứu thường sử dụng mô hình hồi quy suất
sinh lợi cổ phiếu với tỉ lệ lạm phát như sau:
R = + .E ( / t-1) + t
(1)
Trong công thức trên, hệ số đại diện cho suất sinh lợi thực, lạm phát kì vọng
được xây dựng dựa vào thông tin trong quá khứ t-1 và hệ số là hệ số đo lường sự
tác động của lạm phát kì vọng lên suất sinh lợi danh nghĩa. Nếu lý thuyết Fisher
được ủng hộ, thì kết quả hồi qui sẽ có một giá trị và dương và có giá trị về mặt
thống kê. Nếu hệ số không có giá trị về mặt thống kê thì có nghĩa là biến động của
lạm phát không tác động lên suất sinh lợi cổ phiếu hay nói cách khác đầu tư vào cổ
phiếu không đảm bảo sẽ nhận được suất sinh lợi bù đắp được biến động trong lạm
phát.
2.1.2. Các tranh luận khác về tác động của lạm phát đối với cổ phiếu
Các nghiên cứu kiểm chứng lý thuyết Fisher đã liên tục được thực hiện từ khi
lý thuyết này ra đời. Mặc dù sức thuyết phục của lý thuyết Fisher rất cao nhưng các
nghiên cứu số liệu thực tế về đầu tư chứng khoán lại không ủng hộ lý thuyết này
6
một cách mạnh mẽ và thống nhất. Cụ thể nghiên cứu của Fama và Schwert (1977)
7
quả đầu tư vốn có ý nghĩa rằng sự bất ổn của lạm phát sẽ được kết hợp với biến
động của lợi nhuận biên, nó phản ánh những hậu quả có hại của lạm phát đối với
hoạt động kinh tế thực sự. Theo Fama, mối quan hệ thống kê giữa lạm phát và suất
sinh lợi chứng khoán sẽ biến mất một khi ảnh hưởng của tăng trưởng sản lượng
thực tế được kiểm soát.
Ủng hộ giả thuyết này có Geske và Roll (1983) cho là có mối quan hệ ngược
chiều giữa lạm phát và giá cổ phiếu. Theo đó, hoạt động kinh tế giảm không chỉ tác
động bất lợi đến giá cổ phiếu, mà còn dẫn đến giảm nguồn thu của Chính phủ và gia
tăng sự thâm hụt tài chính.
Giả thuyết cung tiền:
Các cơ hội đầu tư trong nền kinh tế cạnh tranh với nhau về nguồn lực vốn, nổi
bật là sự cạnh tranh vốn giữa các thị trường, bao gồm thị trường tiền gửi, thị trường
chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường ngoại tệ. Khác biệt cơ bản của thị
trường tiền gửi và các thị trường đầu tư khác là mức độ rủi ro trong đầu tư của thị
trường này thấp. Chính vì vậy lãi suất tiền gửi là thước đo khả năng sinh lợi cơ bản
của các cơ hội đầu tư phi tiền gửi. Vốn sẽ chạy từ cơ hội đầu tư sinh lợi thấp sang
cơ hội đầu tư sinh lợi cao. Vì vậy, một sự thay đổi lượng cung vốn trên thị trường
tiền gửi do lãi suất sẽ trực tiếp ảnh hưởng lên cung vốn trên thị trường đầu tư phi
tiền gửi nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng (bao gồm trái phiếu, cổ
phiếu) vì thế ảnh hưởng lên cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán.
Cụ thể, một sự gia tăng cung tiền gửi thường đi kèm một sự giảm cầu chứng
khoán. Do vậy, cung và cầu trên thị trường chứng khoán là bức tranh phản ánh hình
ảnh ngược của cầu và cung trên thị trường tiền gửi. Nếu lãi suất ngân hàng tăng lên,
trong khi tỷ suất sinh lợi của các công ty phát hành chứng khoán không tăng lên kịp,
sẽ thu hút nhà đầu tư gửi tiền tại ngân hàng và sẽ làm tăng cung vốn trên thị trường
tiền gửi, từ đó hút vốn ra khỏi thị trường chứng khoán, do vậy làm giá chứng khoán
cũng như suất sinh lợi đầu tư giảm sút. Một trong các nguyên nhân chủ yếu làm
tăng cung tiền gửi và giảm cung vốn trên thị trường chứng khoán là các chính sách
nhuận cổ phiếu. Nhưng trong ngắn hạn, ngoại trừ Trung Quốc, thì không có mối
quan hệ nào đối với Malaysia và Hoa Kỳ.
Fatma (2007) sử dụng mô hình GARCH dự báo biến động thị trường chứng
khoán có điều kiện, sử dụng dữ liệu hàng tháng từ Thổ Nhĩ Kỳ và Canada. Thổ Nhĩ
9
Kỳ là một quốc gia thị trường mới nổi với tỉ lệ lạm phát cao và Canada là một nước
phát triển với tốc độ lạm phát thấp. Ông thấy rằng tỉ lệ lạm phát có tác động cao
đến độ bất ổn thị trường chứng khoán ở Thổ Nhĩ Kỳ, trong khi ở Canada thì yếu
hơn, nhưng vẫn đáng kể. Các kết quả cho thấy rằng tỉ lệ lạm phát cao hơn, độ bất
ổn suất sinh lợi thị trường chứng khoán lớn hơn.
Ferrer (2000), Gracia và Cunado (2001) khi nghiên cứu tại Tây Ban Nha đã sử
dụng kỹ thuật đồng liên kết để nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ
suất sinh lợi cổ phiếu trong dài hạn và trong điều kiện tổng hợp. Cả hai nghiên cứu
này đều kết luận rằng mối quan hệ này là luôn luôn nghịch biến. Jareno (2005)
phân tích thị trường Tây Ban Nha và quan sát thấy rằng các ngành có khả năng
vượt qua các cú sốc lạm phát (flow-through) khác nhau. Khả năng này ảnh hưởng
đến độ nhạy cảm của từng ngành đối với những thay đổi trong lạm phát. Sau đó,
Jareno và Navarro (2006) tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa khả năng “flowthrough” của các công ty trong mỗi ngành và độ nhạy cảm của suất sinh lợi cổ
phiếu đối với cú sốc lạm phát.
Floros (2004) kiểm tra mối quan hệ giữa lợi nhuận cổ phiếu và lạm phát. Sử
dụng dữ liệu giá trị hàng tháng của chỉ số giá thị trường chứng khoán Athens và chỉ
số giá tiêu dùng của Hy Lạp trong khoảng thời gian từ năm 1988 đến năm 2002
bằng nhiều phương pháp khác nhau. Với phương pháp OLS, kết quả cho thấy rằng
có mối quan hệ cùng chiều nhưng mối quan hệ này không đáng kể. Trong khi đó
tác giả xem xét một hệ thống các phương trình bao gồm giá trị trễ của lạm phát thì
phát hiện ra rằng có một sự ảnh hưởng ngược chiều nhưng không đáng kể của lạm
phát có độ trễ đối với lợi nhuận cổ phiếu. Khi sử dụng kiểm tra đồng liên kết
khoán cao hơn dài hạn.
Roohi (2012) đã sử dụng dữ liệu hàng tháng và hàng năm, từ năm 1972 đến
năm 2002 và phương pháp The Full Information Maximum Likelihood (FIML) để
kiểm tra mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và lợi nhuận cổ phiếu thực ở Pakistan. Kết
quả thực nghiệm cho thấy rằng, khi tỷ lệ tăng trưởng sản lượng thực được kiểm
soát thì mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận cổ phiếu thực và tỷ lệ lạm phát
không xuất hiện.
S.U.R Aliyu (2010) áp dụng mô hình GARCH đánh giá tác động của lạm phát
lên tỷ suất sinh lợi và biến động của thị trường chứng khoán và sử dụng dữ liệu
11
chuỗi thời gian hàng tháng từ hai quốc gia Tây Phi là Nigeria và Ghana. Ngoài ra,
tác động của những cú sốc không đối xứng được điều tra bằng cách sử dụng mô
hình QGARCH phát triển bởi Sentana (1995) ở cả hai nước. Kết quả ở Nigeria cho
thấy tin tức xấu có tác động đến biến động của thị trường chứng khoán lớn hơn so
với mức độ tin tốt tác động lên thị trường, trong khi ở Ghana thì ngược lại. Hơn
nữa, kết quả cho thấy rằng lạm phát là một trong những yếu tố quyết định cơ bản
đến biến động thị trường chứng khoán tại hai thị trường. Những kết quả này sẽ là
hữu ích cho các nhà đầu tư. Các biện pháp hướng tới việc làm kiềm chế lạm phát ở
hai nước, do đó, chắc chắn sẽ làm giảm biến động thị trường chứng khoán và tăng
cường lòng tin của nhà đầu tư.
Summers (1981a) sử dụng mô hình dự báo ARIMA để tạo ra một loạt lạm
phát kỳ vọng. Ông thu được một hệ số âm hỗ trợ lập luận của ông là nguyên nhân
gia tăng trong lạm phát gây ra sự sụt giảm trong giá trị cổ phiếu.
Tobias và Kenedy (2011) kiểm chứng các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến
biến động suất sinh lợi chứng khoán của Sở giao dịch chứng khoán Nairobi ở
Kenya bằng các mô hình EGARCH, TGARCH. Nghiên cứu tập trung vào ảnh
hưởng của tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngắn hạn và tỷ giá hối đoái lên suất sinh lợi
công ty. Theo những nghiên cứu này, thông tin về các biến kinh tế vĩ mô ảnh hưởng
đến giá cổ phiếu bởi vì chúng chứa đựng thông tin về một hoặc nhiều trong ba yếu
tố cơ bản trên.
2.3. Thực tiễn nghiên cứu ở Việt Nam
Nguyễn Thị Uyên Uyên và Nguyễn Thị Tuyết Hường (2013) đã kiểm định ảnh
hưởng của các nhân tố vĩ mô lên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu tại các thị trường chứng
khoán mới nổi, kết quả thực nghiệm cho thấy, sự gia tăng lạm phát làm giảm đáng
kể tỷ suất sinh lợi cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nguyễn Ngọc Định và Phan Thanh Phong (2014) kiểm định ảnh hưởng của
các nhân tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam, với việc sử dụng mô hình VECM, kết quả cho thấy,
chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có ảnh hưởng cùng chiều với chỉ số giá chứng khoán
VNIndex.
Nguyễn Thu Hiền và Đinh Thị Hồng Loan (2009) kiểm chứng tác động của
lạm phát lên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2005 – 2008 bằng mô hình
13
hồi qui lạm phát và suất sinh lợi thị trường, mô hình hồi qui lạm phát và phần dư
của mô hình CAPM, mô hình hồi qui lạm phát và phần dư mô hình ba nhân tố Fama
và French. Kết quả nghiên cứu cho thấy các hệ số hồi qui của nhân tố lạm phát đều
mang dấu âm thể hiện một sự gia tăng trong tỉ lệ lạm phát sẽ làm giảm suất sinh lợi
cổ phiếu.
Trương Hồng Quang và các cộng sự (2011) dùng mô hình hồi qui dự báo
chuỗi thời gian để nghiên cứu tác động của lạm phát đến thị trường chứng khoán
Việt Nam. Qua kết quả nghiên cứu, nếu lạm phát thông thường thì 1% lạm phát sẽ
khiến VN-Index tăng 4.36%, với mức lạm phát quá cao và tồi tệ như năm 2008,
trung bình 1% gia tăng của lạm phát khiến VN-Index giảm tới 8.68%.
Nguyễn Thị Ngọc Trang và Võ Thị Thanh Loan (2012) đã sử dụng mô hình
trường Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu tác động của
lạm phát nói chung đến suất sinh lợi cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Bên
cạnh đó, Lê Long Hậu (2014) sử dụng mô hình ARIMA ước lượng lạm phát kỳ
vọng và không kỳ vọng, phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) ước lượng ảnh
hưởng của lạm phát suất sinh lợi cổ phiếu. Nhìn chung, các nghiên cứu này không
kiểm tra sự bất cân xứng đối với những thông tin lạm phát, sự ổn định sau đó theo
sau tình trạng của nền kinh tế hoặc chiều hướng của các thông tin, phân biệt giữa tin
tốt và tin xấu, và sự phản ứng theo ngành đối với thông tin lạm phát.
Do đó, bài nghiên cứu này tập trung phân tích phản ứng ngắn hạn của suất
sinh lợi bất thường theo ngành đối với thông tin lạm phát ngoài kỳ vọng (phân biệt
giữa “tin tốt” và “tin xấu”) và xem xét các yếu tố giải thích phản ứng đó.
Nghiên cứu đã đưa ra hai kết luận chính. Thứ nhất, lạm phát thực tế cao hơn
lạm phát kỳ vọng (lạm phát ngoài kỳ vọng dương), được hiểu là “tin xấu”, sẽ có tác
động dương lên suất sinh lợi cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong
suốt thời kỳ kinh tế suy thoái. Thứ hai, trong trường hợp lạm phát thực tế thấp hơn
lạm phát kỳ vọng (lạm phát ngoài kỳ vọng âm), được hiểu là “tin tốt”, có tác động
không đáng kể lên suất sinh lợi cổ phiếu ở đa số các ngành.
Từ phân tích mối quan hệ giữa lạm phát ngoài kỳ vọng và mỗi yếu tố cơ bản
trong mô hình chiết khấu cổ tức DDM, nghiên cứu quan sát thấy, chỉ có yếu tố kỳ
vọng tăng trưởng lợi nhuận công ty có thể giải thích hầu hết các phản ứng của suất
sinh lợi cổ phiếu đối với lạm phát ngoài kỳ vọng.
15
Bảng 2.1 – Tóm tắt Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ
giữa tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và lạm phát
Mối quan hệ giữa suất sinh lợi
Tác giả
Floros (2004); Payne (2006); Jareno (2006);
Ahmed (2012).
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
16
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Dữ liệu nghiên cứu
Chỉ số giá tiêu dùng CPI (Customer Price Index) hàng tháng từ tháng 8/2008
đến tháng 7/2015 được lấy từ cơ sở dữ liệu của Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF
() và Tổng cục Thống kê (www.gso.gov.vn).
Chỉ số giá cổ phiếu theo ngành và chỉ số VNIndex đóng cửa cuối tháng từ
tháng 8/2008 đến tháng 7/2015 được lấy từ Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn
(www.ssi.com.vn), tác giả chỉ lấy những ngành có đầy đủ dữ liệu trong khoảng thời
gian nghiên cứu và có số lượng công ty trong ngành tương đối nhiều, bao gồm:
STT
Tên ngành
Số lượng công ty
1
Y tế (YT)
21
2
Dịch vụ vận tải (DVVT)
48
8
Dịch vụ tài chính (DVTC)
21
9
Bảo hiểm (BH)
8
10
Công nghệ (CN)
24
11
Mía đường (MĐ)
6
12
của
ngân
hàng
Phát
triển
Châu
Á
() và website của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
(www.hnx.vn)
Tốc độ tăng trưởng GDP (g) được thu thập từ trang web www.vietstock.vn, dữ
liệu thu thập sau đó được quy đổi từ tốc độ tăng trưởng theo quý sang tốc độ tăng
trưởng theo tháng theo công thức sau:
3
𝑔𝑡 (𝑡ℎá𝑛𝑔) = √(𝑔𝑡 (𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑞𝑢ý) + 1) − 1
(2)
3.2. Mô tả các biến
Tỷ lệ lạm phát tại thời điểm t: được tính toán từ chỉ số giá tiêu dùng CPI theo
công thức sau:
t = log (
)
(5)
Trong đó:
Rm,t là suất sinh lợi của chỉ số VNIndex tính cho toàn thị trường tại thời
điểm t