1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới là một bước đi chiến
lược tất yếu và cũng là con đường mà tất cả các nước muốn xây dựng một nền
kinh tế công nghiệp hiện đại đều phải hướng tới. Việc hội nhập kinh tế quốc
tế đã và đang mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều cơ hội phát
triển nhưng song hành với nó cũng là hàng loạt các thách thức to lớn, tiềm ẩn
nhiều rủi ro như rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.
Đòn bẩy như là công cụ để khuếch đại lực, biến một lực nhỏ thành một
lực lớn hơn tác động vào vật thể cần dịch chuyển. Trong vật lý, người ta dựa
vào điểm tựa cố định để khuếch đại lực nhằm mục tiêu di chuyển một vật thể
nào đó. Thuật ngữ “đòn bẩy” trong tài chính ám chỉ việc sử dụng chi phí cố
định để gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Tuy nhiên đòn bẩy trong
tài chính là con dao hai lưỡi. Nếu hoạt động của doanh nghiệp tốt, đòn bẩy sẽ
khuếch đại lợi nhuận lên gấp bội lần. Ngược lại, nếu hoạt động doanh nghiệp
không tốt thì đòn bẩy cũng khuếch đại làm cho doanh nghiệp thua lỗ gấp bội
lần.
Phân tích đòn bẩy hoạt động, đòn bẩy tài chính tác động như thế nào tới
lợi nhuận và rủi ro, nên thay đổi tác động của chúng ra sao để doanh nghiệp
kiểm soát được rủi ro tổng thể mà vẫn sử dụng chúng như công cụ tích cực để
đạt được lợi nhuận kỳ vọng mong muốn, hoạch định chính xác hay đưa ra các
biện pháp phù hợp đó là vấn đề mà các doanh nghiệp rất quan tâm. Chính vì
vậy mà nhóm 7 đã thực hiện tìm hiểu đề tài “Tác động của đòn bẩy lên rủi
ro và tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp”. Bố cục đề tài bao gồm:
1. Rủi ro kinh doanh
2. Rủi ro tài chính
3. Tác động của đòn bẩy kinh doanh
4. Tác động của đòn bẩy tài chính
5. EPS, tính khả biến của doanh thu, rủi ro và tài sản cổ đông
3
tác động của tất cả các yếu tố quan trọng khác đều giữ nguyên không đổi, thì
sẽ có 8 yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể:
a. Sự biến đổi nhu cầu thị trường (tính biến đổi của doanh số theo
chu kỳ kinh doanh)
Khi nhu cầu thị trường ổn định và số lượng sản phẩm tiêu thụ của
doanh nghiệp ổn định, tức doanh số ổn định trong điều kiện các yếu tố khác
không đổi thì rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp càng thấp. Ngược lại, doanh
số của doanh nghiệp nào có khuynh hướng dao động lớn theo chu kỳ kinh
doanh thì thường sẽ có nhiều rủi ro kinh doanh hơn.
Chẳng hạn, những sản phẩm có chu kỳ kinh doanh ngắn, thời vụ (áo
mưa, đồ dùng học tập…) sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro kinh doanh hơn.
Ngược lại, những sản phẩm độc quyền (điện, nước, xăng…); những sản phẩm
đang trong giai đoạn tăng trưởng sẽ tạo ra doanh số ổn định cho doanh nghiệp
nên rủi ro kinh doanh sẽ thấp.
Tóm lại nhân tố nhu cầu thị trường cho thấy rủi ro kinh doanh giữa các
ngành và giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành là hoàn toàn khác
nhau. Đây là nhân tố gây ra rủi ro hệ thống.
b. Sự biến đổi của giá bán
Giá cả trong một ngành công nghiệp càng cạnh tranh nhiều, rủi ro kinh
doanh của doanh nghiệp trong ngành đó càng lớn. Bởi nhân tố giá bán gắn
liền với nhân tố doanh thu nêu trên. Khi giá bán thay đổi sẽ dẫn đến sự thay
đổi của khách hàng về quyết định tiêu thụ sản phẩm, nếu sự thay đổi giá bán
không hợp lý sẽ tạo ra rủi ro kinh doanh cho doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định và có khả năng tăng
giá theo thời gian (như: thuốc lá, bia, sản phẩm tiêu dùng hàng ngày…)
thường mang rủi ro kinh doanh thấp hơn những doanh nghiệp có giá bán bất
ổn định (như các công ty dầu Exxon Mobil, Shell Oil).
Nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của giá bán có thể là do giá cả các yếu
d. Sự tồn tại của sức mạnh thị trường
5
Các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường lớn, chẳng hạn như EVN –
Tập đoàn điện lực Việt Nam, nhờ quy mô của họ hay do cấu trúc của ngành
công nghiệp trong đó họ cạnh tranh, thường có nhiều khả năng để kiểm soát
chi phí và giá cả sản phẩm của họ hơn các doanh nghiệp hoạt động trong một
môi trường cạnh tranh hơn. Vì vậy sức mạnh thị trường càng lớn, rủi ro kinh
doanh của doanh nghiệp càng nhỏ. Khi đánh giá sức mạnh thị trường của một
doanh nghiệp, nên xem xét không chỉ yếu tố cạnh tranh hiện tại doanh nghiệp
đang phải đối phó mà nên xem xét các tiềm năng cạnh tranh trong tương lai,
nhất là cạnh tranh có thể phát sinh từ nước ngoài. Đây là nhân tố gây ra rủi ro
không hệ thống.
e. Phạm vi đa dạng hóa sản phẩm
Nếu tất cả các yếu tố khác không đổi, các chủng loại sản phẩm của một
doanh nghiệp càng được đa dạng hóa, EBIT của doanh nghiệp càng ít biến
động, tức rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thấp. Ví dụ, tập đoàn
Unilever có một mạng lưới các chủng loại sản phẩm rộng, từ sản xuất các sản
phẩm làm đẹp cho tóc, da , đến các sản phẩm phục vụ gia đình như bột giặt,
nước rửa chén Khi nhu cầu cho một trong những sản phẩm này thay đổi,
doanh số của sản phẩm này có thể được bù trừ phần nào bằng bằng doanh số
các sản phẩm còn lại. Ngược lại, tập đoàn Beiersdorf chỉ sản xuất các sản
phẩm về chăm sóc da. Công ty sẽ phải chịu các biến đổi lớn trong EBIT theo
thời gian khi nhu cầu cho tuyến sản phẩm giới hạn của họ dao động. Đây là
nhân tố gây ra rủi ro không hệ thống.
f. Tăng trưởng
Các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh, EBIT của doanh nghiệp càng
biến động, chẳng hạn như Unilever. Bởi tăng trưởng nhanh tạo nên nhiều
căng thẳng trong hoạt động của một doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, xây dựng thêm các cơ sở mới; từ đó,
rủi ro mất khả năng chi trả phát sinh do công ty sử dụng các nguồn tài trợ có
chi phí tài chính cố định như nợ và cổ phần ưu đãi trong cấu trúc vốn của
mình.
7
14.2.2. Rủi ro tài chính: Rủi ro có hệ thống hay không hệ thống?
Giống như rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính phải chịu ảnh hưởng của rất
nhiều yếu tố, cụ thể:
a. Tỷ trọng nợ trong cơ cấu vốn
Tỷ lệ nợ doanh nghiệp sử dụng ảnh hưởng tỷ lệ thuận đối với rủi ro tài
chính. Một doanh nghiệp có tỷ trọng nợ vay trong cơ cấu vốn càng lớn sẽ đòi
hỏi khả năng sinh lời càng cao, do đó rủi ro tài chính của doanh nghiệp cũng
tăng cao.
b. Lãi suất đi vay trên thị trường
Tỷ lệ nợ càng cao thì doanh nghiệp phải chịu lãi suất đi vay càng cao.
Lãi suất cao sẽ ảnh hưởng lớn đến chi phí vay, làm doanh nghiệp có thể bị
giảm lợi nhuận hoặc mất khả năng thanh toán; từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả
sử dụng vốn, tức là ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
Chẳng hạn, khi lạm phát xảy ra và tồn tại lâu, lãi suất tiền vay tăng đột
biến sẽ làm thay đổi chi phí; những tính toán, dự kiến trong kế hoạch kinh
doanh đầu tư sẽ bị đảo lộn, từ đó nguy cơ doanh nghiệp phải đối mặt với rủi
ro tài chính là rất cao.
c. Tỷ giá
Một doanh nghiệp xuất hàng đi ra nước ngoài hay là nhập hàng từ nước
ngoài về, thì bắt buộc phải có sự chuyển đổi ngoại tệ. Mỗi lần có sự chuyển
đổi ngoại tệ là có tìm ẩn rủi ro về biến động tỷ giá. Các doanh nghiệp thường
không phản ứng kịp với những bất ổn của tỷ giá khi tỷ giá thay đổi theo chiều
hướng bất lợi làm tăng chi phí, giảm doanh thu do đó sẽ làm lợi nhuận giảm.
Rủi ro tỷ giá ở các doanh nghiệp càng cao thì rủi ro tài chính càng lớn.
Ví dụ 1: Một doanh nghiệp xuất khẩu gỗ sang EU sẽ nhận thanh toán
Điểm hòa vốn (Break Even Point) là mức sản lượng hay doanh thu mà tại
đó doanh nghiệp có lợi nhuận hoạt động bằng 0 hay doanh thu bằng chi phí
hoạt động, tức TR = TC.
9
Phân tích điểm hòa vốn là một kỹ thuật phân tích mối quan hệ giữa chi phí
cố định, chi phí biến đổi, lợi nhuận và số lượng tiêu thụ.
Các giả định khi áp dụng phương pháp phân tích điểm hòa vốn:
- Trường hợp phân tích ngắn hạn.
- Tổng định phí không đổi, bao gồm: các loại chi phí khấu hao, bảo hiểm,
một bộ phận chi phí điện nước và một bộ phận chi phí quản lý.
- Giá bán của một đơn vị sản phẩm không đổi.
- Biến phí của một đơn vị sản phẩm cố định và tăng tỉ lệ theo khối lượng
sản phẩm sản xuất hoặc tiêu thụ, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, lao động
trực tiếp, một phần chi phí quản lý hành chính.
- Tất cả các chi phí có thể phân loại thành chi phí cố định và chi phí biến
đổi.
- Sản lượng tiêu thụ bằng sản lượng sản xuất.
- Khi doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, cơ cấu sản phẩm không
thay đổi.
Ý nghĩa của phân tích điểm hòa vốn:
- Giúp doanh nghiệp lựa chọn quy mô đầu tư phù hợp với quy mô thị
trường, đồng thời lựa chọn hình thức đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro do sự biến
động sản lượng tiêu thụ sản phẩm.
- Dự báo khả năng sinh lời của một doanh nghiệp, một phân xưởng hay
một mặt hàng khi biết cấu trúc chi phí và các mức doanh thu mong đợi.
- Phân tích tác động của các thay đổi trong định phí, biến phí và giá bán
đối với EBIT.
- Phân tích tác động của các định phí thay thế (chủ yếu là các thiết bị vốn)
cho biến phí (nhân công) trong một quy trình sản xuất.
Việc xác định điểm hòa vốn của doanh nghiệp trên đồ thị bao gồm bốn
bước:
Bước 1: Vẽ trục tọa độ xOy, với trục Oy phản ánh doanh thu (hay tổng
chi phí); trục ox phản ánh sản lượng tiêu thụ.
EBIT âm
F
11
Bước 2: Vẽ trục một đường thẳng đi qua gốc tọa độ O với hệ số góc P để
biểu diễn hàm doanh thu TR = P.Q.
Bước 3: Vẽ một đường thẳng cắt trục tung tại F và có hệ số góc V để
biểu diễn hàm tổng chi phí hoạt động TC = F + v.Q.
Bước 4: Xác định giao điểm của hai đường doanh thu TR và chi phí TC,
sau đó vẽ một đường thẳng xuống trục hoành để xác định mức sản lượng hòa
vốn.
Các giả định giá bán đơn vị P và biến phí đơn vị v không đổi cho ta các
mối liên hệ tuyến tính giữa các hàm tổng doanh thu và tổng chi phí. Điểm hòa
vốn xảy ra ở điểm
trong hình 1, đó là mức sản lượng mà đường biểu diễn
tổng doanh thu và chi phí cắt nhau (TR = TC).
Nếu mức sản lượng của một doanh nghiệp thấp hơn sản lượng hòa vốn,
tức là nếu TR < TC thì doanh nghiệp chịu lỗ hoạt động, được xác định tại
điểm EBIT âm. Nếu mức sản lượng của doanh nghiệp cao hơn điểm hòa vốn,
tức là TR>TC thì doanh nghiệp có EBIT, được xác định tại điểm EBIT
dương.
Ví dụ 3: Một doanh nghiệp có F = 100.000$, v = 25$/sp, P = 50$/sp.
Hình 2: Phân tích điểm hòa vốn bằng biểu đồ
Doanh thu, chi phí ($)
TR = 50.Q
lượng hòa vốn được xác định như sau:
TR = TC
F + V.Q
hv
= P.Q
hv
=> Q
hv
=
Với Q
hv
là sản lượng hòa vốn.
Nếu sản lượng tiêu thu vượt qua điểm hòa vốn Q
hv
thì công ty sẽ có lợi
nhuận, ngược lại nếu số lượng tiêu thụ dưới mức hòa vốn thì công ty sẽ bị lỗ.
Phân tích điểm hòa vốn theo sản lượng chỉ áp dụng đối với những doanh
nghiệp nào có sản phẩm sản xuất và tiêu thụ mang tính đơn chiếc, có thể xác
định được thành từng đơn vị sản phẩm, chẳng hạn như xe đạp, máy vi tính, bộ
bàn ghế,…
b. Phân tích hòa vốn theo doanh thu
13
Phân tích điểm hòa vốn theo doanh thu được áp dụng cho các doanh
nghiệp có hoạt động phức tạp và không thể phân chia thành đơn vị sản phẩm
chẳng hạn như hoạt động thương mại, bao gồm dịch vụ, bán buôn, bán lẻ…
=
Với:
là sản lượng tiêu thụ của sản phẩm loạn i
v
i
là biến phí sản phẩm loại i
p
i
là giá bán sản phẩm loại i
n là số loại sản phẩm
=
-
= $
Giả sử sản lượng sản xuất và tiêu thụ đạt được là 7.000 sản phẩm
Tổng chi phí:= + . =100.000 + (25x 7.000) = 275.000$
Tổng doanh thu: =. = 50 x 7.000 =350.000$
Lợi nhuận hoạt động là:
EBIT = = 350.000 – 275.000 = 75.000$
14.3.1.3. Phân tích hòa vốn và đánh giá rủi ro
Chúng ta có thể sử dụng thông tin phát sinh từ một phân tích hòa vốn để
đánh giá rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp bằng cách thêm vào các thông tin
cần thiết:
- Mức sản lượng mong đợi cho một thời kì tương lai
- Độ lệch chuẩn của phân phối doanh số
- Giả định rằng phân phối doanh số thực tế là xấp xỉ phân phối chuẩn
thì chúng ta có thể tính được xác suất mà doanh nghiệp có thể chịu lỗ hoạt
15
động (tức là mức doanh số thực tế thấp hơn mức hòa vốn), hoặc xác suất
doanh nghiệp có EBIT dương. Để dễ dàng hiểu hơn, ta xem xét một ví dụ.
Ví dụ 5: Giả thiết, định phí là 1.000.000$, giá bán 150$/sp, sản lượng
hòa vốn được xác định là 10.000sp. Giả định đã xác định được mức sản lượng
mong đợi là 15.000sp và độ lệch chuẩn là 4.000sp.
Có thể tính được xác suất chịu lỗ hoạt động, tức là xác suất bán ít hơn
10.000sp.
biến phí lúc đầu giảm rồi sau đó lại tăng. Chẳng hạn, để đáp ứng nhu cầu tăng
cao của thị trường công ty phải tuyển thêm lao động, lúc đầu do việc tăng
thêm lao động làm sản lượng tăng đáp ứng kịp thời như cầu thị trường, kết
quả làm cho doanh thu công ty tăng lên, biến phí trên mỗi sản phẩm giảm đi.
Nhưng nếu công ty tiếp tục tăng thêm sản lượng, ngoài tăng số công nhân,
công ty còn phải tăng định phí đề đầu tư thêm dây chuyền máy móc, cuối
cùng sẽ làm cho năng suất tạo ra không còn cao như trước nữa, kết quả là
tổng chi phí hoạt động lại tăng lên.
b. Thành phần các chi phí hoạt động có thể phân biệt rõ ràng chi phí
cố định và chi phí biến đổi
Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều loại chi phí mà ta không thể xác
định được một cách rõ ràng đâu là định phí, đâu là biến phí. Chẳng hạn, tiền
17
điện, nước vì nó bao gồm cả phần điện, nước trong sinh hoạt và trong phần
sản xuất.
c. Doanh nghiệp chỉ sản xuất và bán một sản phẩm độc nhất hoặc
một hỗn hợp không đổi nhiều sản phẩm
Đây là một giả định không phù hợp với thực tế, vì nhu cầu thị trường thì
luôn thay đổi, công ty không thể chỉ sản xuất cố định một hoặc một số sản
phẩm cố định được bởi công ty luôn cố gắng đa dạng sản phẩm để giảm thiểu
rủi ro kinh doanh.
d. Biết trước các yếu tố: giá bán, biến phí trên một sản phẩm, định
phí ở mỗi mức sản lượng
Giả định này đôi lúc không phù hợp, vì tính không chắc chắn, nó còn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà doanh nghiệp không thể biết trước được, như:
tình hình nền kinh tế, các thảm họa thiên nhiên, các đối thủ cạnh tranh…
e. Phân tích trong ngắn hạn
Chúng ta chỉ phân tích trong ngắn hạn do đó không thấy hết vai trò của
các chi phí doanh nghiệp bỏ ra. Chẳng hạn, chi phí nghiên cứu phát triển sản
biến đổi là thấp (ví dụ như ngành dịch vụ tư vấn, du lịch…).
Trong kinh doanh, chúng ta đầu tư chi phí cố định với hy vọng số lượng
tiêu thụ sẽ tạo ra doanh thu đủ lớn để trang trải chi phí cố định và chi phí biến
đổi. Giống như chiếc đòn bẩy trong cơ học, sự hiện diện của chi phí hoạt
động cố định gây ra sự thay đổi trong số lượng tiêu thụ để khuếch đại sự thay
đổi lợi nhuận (hoặc lỗ). Những công ty sử dụng đòn bẩy hoạt động cao sẽ có
khả năng gia tăng lợi nhuận rất nhanh khi doanh thu tăng, nhưng lợi nhuận
cũng sẽ sụt giảm nhanh hơn khi doanh thu giảm. Để minh họa điều này chúng
ta xem xét ví dụ cho ở bảng sau (Bảng 1). Trong ví dụ này, nhóm sẽ thực hiện
phân tích và so sánh ba công ty F, V và 2F. Sự khác biệt ở đây là công ty 2F
sử dụng đòn bẩy cao gấp đôi công ty F và cả 2 công ty này đều sử dụng đòn
bẩy hoạt động với mức độ lớn hơn công ty V.
19
Bảng 1: Ảnh hưởng của đòn bẩy hoạt động đến lợi nhuận
Đơn vị tính: Triệu đồng
Công ty F
Công ty V
Công ty 2F
Phần A : Trước khi thay đổi doanh thu
Doanh thu
10.000
11.000
19.500
Chi phí hoạt động
9.000
9.000
17.000
Chi phí cố định
7.000
2.000
14.000
Chi phí biến đổi
3.000
10.500
4.500
Lợi nhuận hoạt động (EBIT)
5.000
4.000
10.750
% thay đổi EBIT
400%
100%
330%
Kết quả phân tích ảnh hưởng của đòn bẩy hoạt động thể hiện ở phần B.
Đối với mỗi công ty đều có doanh thu và chi phí biến đổi tăng 50% trong khi
chi phí cố định không thay đổi. Tất cả các công ty đều cho thấy có sự ảnh
hưởng của đòn bẩy hoạt động thể hiện ở chỗ doanh thu chỉ tăng 50% nhưng
lợi nhuận tăng với tốc độ lớn hơn, cụ thể là 400%, 100% và 330% lần lượt với
các công ty F, V và 2F.
20
So sánh giữa công ty F, 2F và V ta thấy rằng tốc độ tăng EBIT của công
ty F, 2F lớn hơn của công ty V. Tuy nhiên, nếu so sánh giữa công ty F và 2F
chúng ta thấy rằng tốc độ tăng EBIT của công ty F lớn hơn của công ty 2F.
Điều này có nghĩa là, sử dụng đòn bẩy hợp lý có tác dụng khuyếch đại sự gia
tăng EBIT. Tuy nhiên, sự khuyếch đại này không phải tuyến tính mà theo quy
Công thức 2: Tính độ bẩy hoạt động theo sản lượng Q nên chỉ áp
dụng cho những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm.
Ta có, lợi nhuận hoạt động EBIT = p.Q – (v.Q +F) = Q(p – v) – F
CLV
Vì p, v và F cố định nên
, thay vào công thức
(1) ta được:
DOL =
=
=
(2)
22
Bảng 2: So sánh DOL của hai công ty có đòn bẩy hoạt động khác nhau -
Tình huống 1
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ số
Công ty A
Công ty B
Tổng chi phí cố định
20.000
50.000
Tỷ lệ chi phí biến đổi trên doanh thu
60%
50%
Doanh thu
120.000
240.000
Tổng chi phí
92.000
170.000
Lợi nhuận hoạt động (EBIT)
28.000
70.000
Doanh thu hòa vốn
50.000
100.000
Tỷ lệ doanh thu thực tế trên doanh thu hòa vốn
240%
240%
- Khi doanh thu của công ty A và B đều gấp 2,4 lần doanh thu hòa vốn
thì DOL của hai công ty đều bằng nhau. Khi doanh thu ở mức 120.000 của
công ty A và 240.000 của công ty B thì mức độ tác động của đòn bẩy hoạt
động là như nhau. Khi doanh thu tăng 1% thì EBIT tăng 1,743 lần.
Vì vậy khi chưa vượt qua khỏi sản lượng hòa vốn hoặc doanh thu hòa
vốn thì cùng một mức tăng doanh thu thì doanh nghiệp có định phí càng cao
(công ty B) thì lỗ càng nặng. Do đó, các doanh ngiệp luôn phấn đấu để đạt
được sản lượng hòa vốn hoặc doanh thu hòa vốn. Bởi vì khi vượt qua điểm
hòa vốn thì đòn bẩy kinh doanh luôn dương và có ảnh hưởng tích cực đến
việc gia tăng lợi nhuận.
Bảng 3: So sánh DOL của hai công ty có đòn bẩy hoạt động khác nhau -
Tình huống 2
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Công ty A
Công ty B
Tổng chi phí cố định
20.000
50.000
Tỷ lệ chi phí biến đổi trên doanh thu
60%
50%
Điểm hòa vốn
50.000
100.000
Doanh thu
80.000
200.000
Tổng chi phí
phí trên doanh thu cao hơn và điểm hòa vốn bằng ½ công ty B. Như vậy, công
ty B sử dụng đòn bẩy hoạt động cao hơn công ty A.
- DOL của công ty A là 2,6667 ở mức doanh thu bằng 80.000 (bằng
160% doanh thu hòa vốn). DOL của công ty B là 2 ở mức sản lượng là
200.000 (bằng 200% doanh thu hòa vốn).
Như vậy, ở mức doanh thu gần điểm hòa vốn hơn, công ty A có độ bẩy
hoạt động cao hơn công ty B mặc dù công ty B có đòn bẩy hoạt động cao hơn
công ty A.
Bảng 4 : So sánh DOL của 2 công ty có đòn bẩy hoạt động khác nhau -
Tình huống 3
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Công ty A
Công ty B
Tổng chi phí cố định
20.000
50.000
Tỷ lệ chi phí biến đổi trên doanh thu
60%
50%
Điểm hòa vốn
50.000
100.000
Doanh thu
80.000
140.000
Tổng chi phí
68.000
120.000
Lợi nhuận hoạt động (EBIT)
vốn) gần điểm hòa vốn hơn công ty A có mức doanh thu 80.000 (bằng 160%
doanh thu hòa vốn). DOL của công ty B là 3,5 ở mức doanh thu là 140.000
lớn hơn DOL của công ty A là 2,6667 ở mức doanh thu là 80.000
Như vậy ở mức doanh thu gần điểm hòa vốn hơn, công ty B đã có độ
bẩy hoạt động (DOL) cao hơn công ty A.
Nhận xét: Sau khi phân tích sự thay đổi của DOL của hai công ty có
đòn bẩy hoạt động khác nhau ở những mức doanh thu khác nhau từ bảng 2, 3
và 4 ta có thể rút ra nhận xét như sau:
- Doanh nghiệp có định phí cao, biến phí nhỏ thì doanh thu (sản
lượng) hòa vốn rất lớn.
- DOL phụ thuộc vào mức doanh thu thực tế công ty thực hiện được so
với doanh thu hòa vốn (nghĩa là mức doanh thu gần hay xa điểm hòa vốn) chứ
không hoàn toàn phụ thuộc vào đòn bẩy hoạt động.
- Doanh thu càng gần điểm hòa vốn thì DOL càng cao, nghĩa là mức
độ tác động của đòn bẩy hoạt động càng lớn, càng làm gia tăng rủi ro hoạt
động cho công ty.
- Công ty có đòn bẩy hoạt động càng cao nhưng hoạt động ở mức
doanh thu cao (càng xa điểm hòa vốn) thì tác động của đòn bẩy hoạt động
thấp – DOL thấp.
14.3.3. Quan hệ giữa đòn bẩy hoạt động và điểm hòa vốn
Để thấy được rõ mối quan hệ giữa đòn bẩy hoạt động và điểm hòa vốn
nhóm thực hiện xác định lợi nhuận và độ bẩy hoạt động ở nhiều mức sản
lượng khác nhau (bảng 5).