1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kiểm soát nội bộ là một quy trình chịu ảnh hƣởng bởi hội đồng quản trị, các nhà
quản lý và các nhân viên khác của một tổ chức, đƣợc thiết kế để cung cấp mọi sự
bảo đảm hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu mà hội đồng quản trị mong muốn:
Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động; Tính chất đáng tin cậy của báo cáo tài
chính; Sự tuân thủ, các luật lệ và quy định hiện hành.
Kiểm soát nội bộ phải đảm bảo tuân thủ pháp luật, đảm bảo hiệu quả hoạt động
và hiệu năng quản lý nhằm duy trì các hoạt động kiểm soát nội bộ trong đơn vị để
đạt đƣợc các mục tiêu tổ chức, nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các
nghiệp vụ gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn
lực trong đơn vị.
Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Phát triển thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) với
chức năng thực hiện hai hoạt động chính là huy động vốn và cho vay. Bên cạnh đó,
HDBank còn đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nƣớc thông quan việc thực hiện
nghĩa vụ thuế và lợi nhuận cho ngân sách Nhà nƣớc mỗi năm và tham gia đóng góp
nhiều hoạt động xã hội nhƣ: ủng hộ quỹ từ thiện, khắc phục hậu quả thiên tai, …
HDBank CN SGD Đồng Nai là một trong những chi nhánh lớn thuộc hệ thống
HDBank, chi nhánh thu hút vốn tạm thời nhàn rỗi của các chu thể trong nền kinh tế
trên cơ sở đó cho vay để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Đồng
thời, chi nhánh còn cung cấp các hoạt động dịch vụ ngân hàng hiện đại nhƣ: mua
bán ngoại tệ, dịch vụ tiện ích trên internet, …
Hiện nay, trong quá trình huy động vốn của các HDBank nói chung và HDBank
CN SGD Đồng Nai nói riêng vẫn tồn tại nhiều nhƣợc điểm và yếu kém, nhất là
trong giai đoạn môi trƣờng cạnh tranh khốc liệt thì hoạt động huy động vốn lại trở
nên khó khăn hơn đòi hỏi ngân hàng có chế độ kiểm soát hoạt động huy động vốn
tốt phù hợp với xu thế phát triển của thị trƣờng. Vì vậy, kiểm soát nội bộ đối với
hoạt động huy động vốn là một phần của hệ thống kiểm soát nội bộ và đóng vai trò
rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại
các ngân hàng Thƣơng Mại trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng.
-
Nguyễn Thị Bích Ngọc (2011), “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thành phố Đà Nẵng”, Luận văn
thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trƣờng Đại học Đà Nẵng.
Tác giả hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về ngân hàng thƣơng mại, về tín
dụng, về vấn đề kiểm soát trong quản lý nói chung và kiểm soát nội bộ hoạt động
tín dụng nói riêng của các ngân hàng thƣơng mại. Nghiên cứu toàn diện hoạt động
tín dụng, mô tả và đánh giá đúng thực trạng kiểm soát thôn Thành phố Đà nẵng.
Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lƣợng kiểm soát
3
nội bộ hoạt động tín dụng, góp phần nâng cao chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng.
-
Trần Dũng Khôi Nguyên (2013), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
ngân hàng Thương Mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín”, Luận văn thạc sĩ kinh tế,
Trƣờng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả hệ thống hóa đƣợc những vấn đề chung về hệ thống kiểm soát nội bộ
và dựa trên cơ sở lý luận, tác giả đi sâu tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng hệ
thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng Thƣơng Mại Cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín và
đề ra các giải pháp nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội
bộ tại ngân hàng Thƣơng Mại Cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín.
-
Lê Thị Ngọc (2011), “Hoàn thiện quy trình kiểm soát nội bộ hoạt động cho
vay tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Đồng Nai – chi nhánh Tân
Biên”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trƣờng Đại học Lạc Hồng.
Tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ; kết hợp với quá trình
tìm hiểu, nghiên cứu thực tế về quy trình kiểm soát nội bộ trong hoạt động cho vay
tại chi nhánh Tân Biên và từ đó rút ra những mặt còn hạn chế còn tồn tại trong quy
trình kiểm soát. Từ những hạn chế đó, tác giả đƣa ra các giải pháp để hoàn thiện
quy trình kiểm soát hoạt động cho vay tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn Đồng Nai – chi nhánh Tân Biên nhằm đảm bảo cho chi nhánh hoạt động
an toàn và có hiệu quả.
-
Trần Thị Ngọc Thái (2011), “Một số giải pháp tăng cường kiểm soát quy
trình cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam– Chi nhánh Đồng Nai
đến năm 2015”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trƣờng Đại học Lạc Hồng.
Tác giả đã đƣa ra và phân tích về quy trình cho vay cũng nhƣ công tác kiểm
soát quy trình cho vay tại ngân hàng. Từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cƣờng
kiểm soát quy trình cho vay nhằm góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lƣợng hoạt
động cho vay của VCB Đồng Nai đến năm 2015.
Mặc dù hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại ngân hàng là đề tài đƣợc nhiều tác giả
nghiên cứu, tuy nhiên xét về không gian và thời gian thì đề tài “Hoàn thiện kiểm
soát nội bộ đối với hoạt động huy động vốn tại HDBank CN SGD Đồng Nai”
một đề tài hoàn toàn mới so với các đề tài nghiên cứu trƣớc đây.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa lý thuyết về kiểm soát nội bộ.
thiện về hệ thống kiểm soát nội bộ tại HDBank CN SGD Đồng Nai và kiểm soát nội
bộ đối với hoạt động huy động vốn.
6. Đóng góp mới của đề tài
Về lý thuyết: luận văn hệ thống hóa những lý luận về kiểm soát nội bộ trong
việc vận dụng kiểm soát nội bộ đối với hoạt động huy động vốn tại HDBank CN
SGD Đồng Nai.
Về thực tiễn:
-
Đánh giá thực trạng về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động huy động vốn
tại HDBank CN SGD Đồng Nai.
-
Đƣa ra những giải pháp hoàn thiện về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động
huy động vốn tại HDBank CN SGD Đồng Nai.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chƣơng:
-
Chƣơng 1: Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thƣơng mại.
-
Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ đối với hoạt động huy động vốn tại
HDBank CN SGD Đồng Nai.
cách mạng công nghiệp. Thuật ngữ kiểm soát nội bộ bắt đầu xuất hiện từ sự quan
tâm của kiểm toán độc lập về kiểm soát nội bộ mà hình thức ban đầu là kiểm soát
tiền.
Năm 1905, Robert Montgimery sáng lập công ty kiểm toán Lybrand, Ross
Bro & Montgomery, đã đƣa ra ý kiến về một số vấn đề liên quan đến kiểm soát nội
bộ trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán”.
Năm 1929, kiểm soát nội bộ chính thức đƣợc đề cập trong Federal Seserve
Bulletin. Thông qua đó, khái niệm kiểm soát nội bộ và vai trò của hệ thống KSNB
trong công ty chính thức đƣợc công nhận nhƣ là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy
mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên. Khi thực hiện chức năng nhận xét báo cáo tài
chính, kiểm toán viên nhận thức rằng không cần thiết kiểm tra tất cả các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh mà chỉ cần chọn mẫu để kiểm tra dựa vào sự hiểu biết về hệ thống
KSNB mà doanh nghiệp đƣợc kiểm toán đã thiết lập, vận hành và tập hợp thông tin
7
để lập báo cáo tài chính. Công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) lần đầu
đƣa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản
khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động.
Năm 1936, công bố của hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA)
đã định nghĩa về KSNB là: “...các biện pháp và thách thức đƣợc chấp nhận và thực
hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và tài sản, cũng nhƣ kiểm tra việc ghi chép
chính xác số liệu”. Khi này, việc nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB ngày càng
đƣợc chú trọng.
-
Giai đoạn hình thành:
Năm 1949, một báo cáo đặc biệt của AICPA, định nghĩa KSNB là: “...cơ cấu
kiểm soát kế toán.
+ SAS 55 (1988) “Xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính”, đã
đƣa ba yếu tố của KSNB là môi trƣờng kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục
kiểm toán.
Vào thập niên 1970 - 1980, nền kinh tế Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ kéo theo
các vụ gian lận ngày càng tăng về số lƣợng lẫn quy mô, gây ra những tổn thất đáng
kể cho nền kinh tế. Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate, quốc hội Hoa Kỳ đã ban
hành Luật chống hối lộ ở nƣớc ngoài. Điều luật này nhằm nhấn mạnh đến vai trò
của KSNB trong việc ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp và dẫn đến
nhu cầu ghi chép đầy đủ trong mọi hoạt động.
Năm 1985, với sự sụp đổ của các công ty cổ phần có niêm yết làm cho các
nhà ban hành luật càng quan tâm đến hoạt động KSNB của công ty. Nhiều quy định
hƣớng dẫn về KSNB của các cơ quan chức năng Hoa Kỳ đƣợc ban hành trong giai
đoạn này nhƣ: Ủy ban chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ năm 1988, Ủy ban chứng
khoán Hoa Kỳ năm 1998, Tổ chức nghiên cứu kiểm toán nội bộ năm 1991.
Trƣớc tình hình này, năm 1985 Ủy Ban COSO đã đƣợc thành lập. Đây là
một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài
chính (thƣờng gọi tắt là Ủy ban Treedway). Ủy ban này đƣợc sự bảo trợ của 5 tổ
chức: Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA), Hội kế toán Mỹ (American
Accounting Association), Hiệp hội quản trị viên tài chính (The Financial Executives
Institute - FEI), Hiệp hội kế toán viên quản trị (Institute of Management
Accountants - IMA), Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (The Institute of Internal
Auditors - IIA).
Trƣớc tiên, COSO đã sử dụng chính thức từ KSNB thay vì từ kiểm soát nội
bộ về kế toán. Đến năm 1992, Ủy ban COSO đã chính thức ban hành Báo cáo 1992.
Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đƣa ra khuôn mẫu lý
thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Trong báo cáo này nêu rõ KSNB
không chỉ dừng lại ở vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà đƣợc mở rộng ra
1.1.2 Khái niệm kiểm soát nội bộ
1.1.2.1 Theo COSO 1992
Theo COSO (1992): “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi ngƣời quản lý,
hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự
đảm bảo hợp lý nhằm đạt đƣợc các mục tiêu sau đây:
- Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động;
- Sự tin cậy của báo cáo tài chính;
10
- Sự tuân thủ pháp luật và các quy định”.
Theo định nghĩa trên, có 4 khái niệm quan trọng cần lƣu ý, đó là: KSNB là
một quá trình; con ngƣời; đảm bảo hợp lý và các mục tiêu.
- Về KSNB là một quá trình: Các hoạt động của đơn vị đƣợc thực hiện
thông qua lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. Để đạt đƣợc mục tiêu mong muốn,
đơn vị cần kiểm soát các hoạt động của mình, KSNB chính là quá trình này;
- Về con ngƣời: KSNB đƣợc thiết kế và vận hành bởi các nhà quản lý,
HĐQT, các nhân viên trong đơn vị, nó là công cụ phục vụ cho nhà quản lý;
- Về tính đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho
các nhà quản lý trong việc đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức chứ không thể đảm
bảo tuyệt đối;
- Các mục tiêu: Có thể chia các mục tiêu kiểm soát đơn vị cần thiết lập
thành 03 nhóm sau:
+ Nhóm mục tiêu về hoạt động: Nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả
của việc sử dụng các nguồn nhân lực.
+ Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: Nhấn mạnh đến tính trung thực và
đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà tổ chức cung cấp.
+ Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: Nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật
và các quy định.
quản trị rủi ro hỗ trợ cho các cấp quản lý xem xét các rủi ro liên quan đến việc lựa
chọn các chiến lƣợc thay thế khác nhau.
- Áp dụng cho toàn đơn vị: quản trị rủi ro không xem xét rủi ro trong một
sự kiện riêng biệt hoặc cấp độ riêng rẽ mà xem xét các hoạt động trên tất cả các cấp
độ của đơn vị, từ cấp độ toàn đơn vị nhƣ kế hoạch, chiến lƣợc và phân bổ nguồn lực
đến các mảng hoạt động cụ thể nhƣ hoạt động marketing, nguồn nhân lực và đến
các chu trình nghiệp vụ nhƣ xem xét hạn mức tín dụng của khách hàng.
- Quản trị rủi ro đƣợc thiết kế để nhận diện các sự kiện: các sự kiện tiềm
tàng tác động đến đơn vị phải đƣợc nhận dạng thông qua quản trị rủi ro. Khi sự kiện
tiềm tàng đƣợc nhận dạng, đơn vị đánh giá đƣợc rủi ro và cơ hội liên quan đến các
sự kiện, từ đó xây dựng các cách thức quản lý.
- Mức rủi ro có thể chấp nhận là mức độ rủi ro mà đơn vị sẵn sàng chấp
nhận để thực hiện việc làm tăng giá trị xét trên bình diện toàn đơn vị. Nó phản ánh
triết lý về rủi ro và phong cách văn hóa của đơn vị, rủi ro có thể chấp nhận có thể
đƣợc xem xét một cách định lƣợng hoặc định tính. Theo phƣơng thức định tính, rủi
ro đƣợc chia thành các cấp độ nhƣ cao, trung bình và thấp, … còn phƣơng thức định
lƣợng thì rủi ro đƣợc xem xét trong sự tƣơng quan với các mức độ tăng trƣởng và
lợi nhuận.
12
- Rủi ro bộ phận: là mức rủi ro liên quan đến từng mục tiêu cụ thể. Rủi ro
bộ phận là mức rủi ro chấp nhận đƣợc trong việc thực hiện những mục tiêu cụ thể.
Việc xác định mức rủi ro có thể chấp nhận giúp định hƣớng phân bổ các nguồn lực
trong đơn vị dựa trên tƣơng quan giữa kết quả kỳ vọng và nguồn lực đã đầu tƣ. Các
nhà quản lý xem xét mức rủi ro có thể chấp nhận trong sự phù hợp với cơ cấu tổ
chức con ngƣời, quá trình thực hiện và qua đó thiết lập các yếu tố cần thiết phản
ứng và giám sát rủi ro một cách hữu hiệu.
Quản trị rủi ro đem lại một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải là đảm bảo
-
Giám sát.
COSO 2013 đã triển khai 5 bộ phận trên và cho ra 17 nguyên tắc diễn giải cho
những khái niệm cơ bản liên quan đến mỗi yếu tố cấu thành đó. Tất cả 17 nguyên
tắc áp dụng cho mỗi phạm trù mục tiêu chung và cho cả những mục tiêu riêng rẽ
13
bên trong mỗi 1 phạm trù. Bởi vì 17 nguyên tắc này đƣợc lấy trực tiếp ra từ những
yếu tố cấu thành. Trong đó:
-
Môi trƣờng kiểm soát: gồm 5 nguyên tắc.
-
Đánh giá rủi ro: 4 nguyên tắc
-
Hoạt động kiểm soát: 3 nguyên tắc.
-
Thông tin truyền thông: 3 nguyên tắc.
14
+ Xây dựng giá trị đạo đức thƣờng rất khó khăn bởi vì cần dung hòa lợi ích
của các bên nhƣ: lợi ích của nhà quản lý cấp cao với lợi ích của doanh nghiệp, của
nhân viên, của nhà cung cấp, khách hàng. Khi xây dựng giá trị đạo đức cần chú ý
vấn đề sau:
Áp lực và cơ hội: Cần giảm thiểu cơ hội và áp lực dẫn tới phát sinh
các gian lận điều này giúp hạn chế những áp lực và cơ hội kèm theo các biện pháp
kiểm soát thích hợp có thể giúp giảm các hành vi gian lận.
Xây dựng và truyền đạt các hƣớng dẫn về đạo đức: Ngoài áp lực và cơ
hội thì nguyên nhân dẫn tới sai phạm là do thiếu hiểu biết. Trong rất nhiều doanh
nghiệp có phát sinh sai phạm trong lập báo cáo tài chính, nhƣng ngƣời thực hiện
không ý thức đƣợc sai phạm của họ. Vì thế phải thiết lập quy tắc ứng xử đúng đắn
và các vấn đề khác nhau đồng thời truyền đạt quy tắc này tới toàn thể nhân viên
trong đơn vị họ biết đƣợc cái gì đúng, cái gì sai.
- Đảm bảo về năng lực: là đảm bảo nhân viên có đƣợc kỹ năng và kiến thức
để hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân trong tổ chức. Vì thế, nhà quản lý chỉ nên
tuyển dụng các nhân viên có năng lực, trình độ và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm
vụ đƣợc giao.
Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán: Đây là một nhân tố có ảnh hƣởng
đáng kể đến môi trƣờng kiểm soát. Tính hữu hiệu của môi trƣờng kiểm soát phụ
thuộc vào sự độc lập của Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán với Ban điều hành.
Hệ thống KSNB sẽ trở nên hữu hiệu khi:
+ Hội đồng quản trị năng động và tận tâm, hƣớng dẫn và giám sát việc
thực hiện của ngƣời quản lý.
+ Hội đồng quản trị cần có thêm những ngƣời nằm ngoài Ban điều hành vì
Hội đồng quản trị phải chất vấn, giám sát các hoạt động quản lý, đƣa ra quan điểm
phản biện và có dũng khí đấu tranh với những hành vi sai trái nghiêm trọng của
ngƣời quản lý.
đơn vị luôn phải đối phó với hàng loạt rủi ro từ bên trong lẫn bên ngoài. Một quy
trình đánh giá rủi ro bao gồm: thiết lập mục tiêu và nhận dạng phân tích các rủi ro
đe dọa đến mục tiêu của đơn vị, trên cơ sở đó giúp nhà quản lý xác định rủi ro và
đƣa ra phƣơng án.
-
Xác định mục tiêu của đơn vị: Mục tiêu là điều kiện tiên quyết để đánh
giá rủi ro. Rủi ro ở đây đƣợc xác định là rủi ro tác động khiến cho mục tiêu đó có
khả năng không thực hiện đƣợc.
- Nhận dạng rủi ro: Đƣợc thực hiện thông qua việc xem xét các nhân tố bên
ngoài và bên trong doanh nghiệp ảnh hƣởng trực tiếp đến các hoạt động của doanh
nghiệp.
16
- Phân tích và đánh giá rủi ro: Phân tích rủi ro bao gồm việc xem xét tầm
quan trọng và khả năng xãy ra rủi ro, từ đó cân nhắc việc đối phó rủi ro, quản lý và
giảm thiểu tác hại của chúng. Phƣơng pháp phân tích rủi ro rất đa dạng và phong
phú bởi vì có nhiều loại rủi ro rất khó định lƣợng.
Tất cả các đơn vị, bất kể quy mô, cấu trúc... đều phát sinh rủi ro ở tất cả các
mức độ. Rủi ro ảnh hƣởng đến sự tồn tại của mỗi đơn vị, đến sự thành công, tình
hình tài chính, hình ảnh của đơn vị. Không có cách nào để triệt tiêu rủi ro vì vậy nhà
quản lý phải quyết định một cách thận trọng mức rủi ro nhƣ thế nào là có thể chấp
nhận đƣợc và cố gắng duy trì rủi ro ở mức cho phép.
1.1.3.3 Hoạt động kiểm soát
Theo COSO (1992): “Hoạt động kiểm soát là tập hợp các chính sách và thủ tục
đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý đƣợc thực hiện, là các hành động cần thiết
thực hiện để đối phó với rủi ro đe dọa đến việc đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Hoạt
chức, thông điệp từ quản lý phải đƣợc cung cấp một cách kịp thời tới mọi nhân
viên.
Truyền thông là một phần của hệ thống thông tin nhƣng đƣợc nêu ra để nhấn
mạnh vai trò của việc truyền đạt thông tin. Liên quan đến vấn đề này cần lƣu ý
những khía cạnh sau:
-
Trách nhiệm của mỗi cá nhân rõ ràng, tiếp nhận đầy đủ và chính xác chỉ thị
của cấp trên. Truyền thông giúp cho mỗi cá nhân trong doanh nghiệp hiểu rõ công
việc của mình cũng nhƣ ảnh hƣởng của nó đến cá nhân khác.
-
Các thông tin từ bên ngoài (khách hàng, nhà cung cấp,...) cũng phải đƣợc
ghi nhận một cách trung thực và đầy đủ nhờ đó đơn vị mới có thể phản ứng kịp
thời. Các thông tin bên ngoài (nhà nƣớc, cổ đông) cũng cần đƣợc truyền đạt kịp
thời, đảm bảo thực hiện đúng yêu cầu của pháp luật.
Trong hệ thống thông tin, hệ thống thông tin kế toán là một phân hệ rất quan
trọng, đầu vào của hệ thống là các sự kiện kinh tế đƣợc biểu hiện dƣới dạng nghiệp
vụ kế toán, đầu ra của hệ thống là các báo cáo kế toán, những báo cáo này có tính
chất quan trọng trong việc tuân thủ quy định của pháp luật cũng nhƣ việc ra quyết
định của nhà quản trị doanh nghiệp.
Nhằm đáp ứng yêu cầu của các đối tƣợng sử dụng, các mục tiêu của hệ thống
thông tin cần đạt đƣợc nhƣ sau:
-
Xác định và ghi chép tất cả các nghiệp vụ có thật.
-
chủ yếu vào việc đánh giá rủi ro và sự hữu hiệu của các hoạt động giám sát thƣờng
xuyên.
Qua giám sát, các khiếm khuyết của hệ thống KSNB cần đƣợc báo cáo lên cấp
trên và nếu là những vấn đề quan trọng hơn sẽ báo cáo cho ban giám đốc hay hội
đồng quản trị.
Mục tiêu chính của việc giám sát là nhằm đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ
luôn hoạt động hữu hiệu do vậy cần giám sát tất cả các hoạt động trong đơn vị và
đôi khi còn áp dụng cho các đối tƣợng bên ngoài đơn vị nhƣ nhà cung cấp, khách
hàng ....
Nếu hoạt động giám sát thƣờng xuyên càng hữu hiệu thì giám sát định kỳ sẽ
giảm đi. Việc tổ chức giám sát định kỳ hoàn toàn là do xét đoán của ngƣời quản lý
dựa trên các nhân tố: bản chất và mức độ của các thay đổi và những rủi ro, năng lực
và kinh nghiệm của ngƣời thực hiện kiểm soát, kết quả của các hoạt động giám sát
thƣờng xuyên. Giám sát thƣờng xuyên đƣợc thực hiện ngay trong các hoạt động
thƣờng ngày và đƣợc lặp đi lặp lại, do vậy sẽ hiệu quả hơn so với giám sát định kỳ.
Giám sát thƣờng xuyên, định kỳ hoặc kết hợp cả hai đƣợc sử dụng để xác định
xem mỗi thành phần trong năm thành phần của kiểm soát nội bộ có đƣợc thực hiện
đầy đủ không.
Giám sát định kỳ đƣợc tiến hành định kỳ, sẽ thay đổi trong phạm vi và tần số
phụ thuộc vào đánh giá rủi ro, hiệu quả của việc đánh giá liên tục và sự cân nhắc
trong quản lý. Kết quả phát hiện đƣợc đánh giá theo tiêu chuẩn của nhà quản lý, và
những thiếu sót sẽ đƣợc truyền đạt đến ban quản lý và ban giám đốc.
19
1.2 HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI THEO BASEL
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ trong
Ngân hàng thƣơng mại
Trƣớc tình trạng nhiều ngân hàng trên thế giới bị những tổn thất đáng kể trong
hoạt động kinh doanh, Ủy ban Basel 12, cùng với các thanh tra ngân hàng từ nhiều
nơi trên thế giới đã tổ chức các cuộc nghiên cứu, khảo sát và kết quả đã chỉ ra rằng
những tổn thất này nguyên nhân là do ngân hàng đã không duy trì đƣợc một hệ
thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả – một hệ thống có thể ngăn chặn tổn thất hoặc
có thể phát hiện sớm những dấu hiệu có thể dẫn đến những tổn thất nhằm hạn chế
20
thiệt hại cho ngân hàng. Để phát triển những nguyên tắc này, Ủy ban đƣa ra những
bài học đƣợc rút ra từ những tình huống, những vấn đề của các quốc gia thành viên.
Để khắc phục những hạn chế của Basel I và có thêm tài liệu về vấn đề kiểm
soát hoạt động ngân hàng và tăng cƣờng kiểm soát thông qua việc hƣớng dẫn và
khuyến khích thực hành quản lý rủi ro, tháng 9/1998, Ủy ban Basel đã phát hành tài
liệu “Khuôn khổ cho hệ thống Kiểm soát nội bộ trong các Ngân hàng”. Khuôn khổ
kiểm soát nội bộ trong tài liệu này đƣợc thiết kế cho các ngân hàng quốc tế. Nội
dung hƣớng dẫn nhất quán với báo cáo của COSO về Kiểm soát nội bộ – Khuôn
khổ hợp nhất mà đã đƣợc áp dụng tại các ngân hàng lớn của Hoa Kỳ. Đến ngày
26/06/2004, bản Hiệp ƣớc quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức đƣợc
ban hành, năm 2007 có hiệu lực và cho phép thời gian chuyển đổi 3 năm, đến năm
2010 chấm dứt quá trình chuyển đổi.
Báo cáo của Basel về “Khuôn khổ cho hệ thống kiểm soát nội bộ trong các
ngân hàng” mô tả những yếu tố chủ yếu của một hệ thống kiểm soát nội bộ lành
mạnh, nêu ra những kinh nghiệm của những quốc gia thành viên và những nguyên
tắc đã đƣợc trình bày trong các tài liệu trƣớc đây của Ủy ban. Mục tiêu của báo cáo
này là nêu ra một số nguyên tắc mà cơ quan thanh tra sử dụng để đánh giá hệ thống
kiểm soát nội bộ của ngân hàng. Một hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả là một
thành phần quan trọng của quản trị ngân hàng và là nền tảng cho hoạt động lành
mạnh và an toàn của các Ngân hàng. Báo cáo này của Basel cũng không tập trung
(mục tiêu thông tin);
-
Tuân thủ các qui định và luật hiện hành (mục tiêu tuân thủ)”.
1.2.3 Các nguyên tắc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ theo BASEL
Từ năm yếu tố cơ bản của hệ thống KSNB: Môi trƣờng kiểm soát; Đánh giá
rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin, truyền thông; và Giám sát; đƣợc Ủy ban
Basel cụ thể hóa thành 13 nguyên tắc cơ bản nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
của KSNB tại các ngân hàng nhƣ sau:
1.2.3.1 Sự giám sát của nhà quản lý và văn hóa kiểm soát
Nguyên tắc 1:
Hội đồng quản trị có trách nhiệm xét duyệt và kiểm tra định kỳ toàn bộ chiến
lƣợc kinh doanh và những chính sách quan trọng của ngân hàng, hiểu rõ những rủi
ro trọng yếu của ngân hàng, xây dựng những mức độ có thể chấp nhận đƣợc đối với
các rủi ro này và đảm bảo rằng Ban điều hành đã thực hiện các công việc cần thiết
để xác định, đo lƣờng, theo dõi và kiểm tra những rủi ro này; xét duyệt cơ cấu tổ
chức; đảm bảo rằng Ban điều hành đang giám sát sự hiệu quả của hệ thống kiểm
soát nội bộ. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm sau cùng về việc thiết lập và duy trì
một hệ thống kiểm soát nội bộ đầy đủ và hiệu quả.
Nguyên tắc 2:
Ban điều hành chịu trách nhiệm thực hiện những chiến lƣợc và chính sách mà
Hội đồng quản trị phê duyệt; nâng cao việc xác định, đo lƣờng, theo dõi và kiểm
soát những rủi ro phát sinh trong hoạt động của ngân hàng; duy trì một cơ cấu tổ
chức trong đó có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn và các mối quan
hệ giữa các bộ phận; đảm bảo rằng đã thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả; thiết
22
ngày của ngân hàng.
23
Ban lãnh đạo phải thƣờng xuyên đảm bảo rằng tất cả mọi lĩnh vực của ngân
hàng tuân thủ các chính sách và quy trình. Các chính sách và quy trình hiện có vẫn
còn phù hợp.
Nguyên tắc 6:
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi phân công hợp lý, các công
việc của một nhân viên không mâu thuẫn nhau. Những xung đột về quyền lợi phải
đƣợc nhận biết, giảm thiểu tối đa và tùy thuộc vào sự kiểm soát độc lập và thận
trọng.
Giao các nhiệm vụ mâu thuẫn cho một cá nhân sẽ cho phép cá nhân đó có thể
tiếp cận những tài sản có giá trị và tác động vào số liệu tài chính nhằm trục lợi cá
nhân.
Sự giám sát bên thứ ba độc lập.
Định kỳ phải rà soát lại trách nhiệm và chức năng của các các cá nhân chủ
chốt để đảm bảo rằng họ không có điều kiện để che dấu các hoạt động bất hợp pháp.
1.2.3.4 Thông tin và truyền thống
Nguyên tắc 7:
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi có dữ liệu đầy đủ và tổng hợp
về sự tuân thủ, về tình hình hoạt động và tình hình tài chính, cũng nhƣ là những
thông tin về thị trƣờng bên ngoài có thể ảnh hƣởng đến việc đƣa ra quyết định.
Thông tin phải đáng tin cậy, kịp thời, có thể sử dụng đƣợc và đƣợc trình bày theo
biểu mẫu.
Nguyên tắc 8:
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi một hệ thống thông tin đáng
tin cậy, có thể đáp ứng cho hầu hết các hoạt động chủ yếu của ngân hàng. Hệ thống
này phải đƣợc lƣu trữ và sử dụng dữ liệu bằng máy tính, an toàn, đƣợc theo dõi độc
hoạt động và đáp ứng những thay đổi trong môi trƣờng và điều kiện của ngân hàng.
Trong những trƣờng hợp này các cơ quan giám sát xác định hệ thống KSNB của
ngân hàng không đầy đủ hoặc không hiệu quả cho hồ sơ rủi ro cụ thể của ngân
hàng.
1.3
BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ NHỮNG THẤT BẠI CỦA HÊ THỐNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THEO ỦY BAN BASEL
Sự phát triển và trình độ của hệ thống KSNB gắn liền với yêu cầu giám sát các
rủi ro phát sinh trong quá trình phát triển của các NHTM. Có thể nói những tổn thất,
đổ vỡ mà các NHTM đã phải hứng chịu bắt nguồn chính từ những thất bại của hệ
thống KSNB trong việc đảm bảo sự an toàn và hiệu quả trong hoạt động. Những
vấn đề đƣợc xác định đã khẳng định tầm quan trọng của các thành viên Hội đồng
quản trị, các thành viên Ban điều hành, các kiểm toán viên nội bộ và kiểm toán viên
25
độc lập. Ủy ban Basel đã tổng hợp một số nguyên nhân do sự yếu kém trong hệ
thống KSNB dẫn đến những thất bại trong hoạt động của ngân hàng nhƣ sau:
-
Giám sát của Ban lãnh đạo và văn hóa doanh nghiệp: Thiếu hiệu quả trong
giám sát điều hành, phân định trách nhiệm không rõ ràng hay thiếu một môi trƣờng
kiểm soát lành mạnh. Các trƣờng hợp tổn thất lớn đều phản ánh việc điều hành
thiếu tập trung, buông lỏng trong kiểm soát, thiếu sự chỉ đạo và giám sát của Hội
đồng quản trị và Ban điều hành, hay thiếu việc phân định trách nhiệm và vai trò
thông báo tới Ban điều hành hay Hội đồng quản trị cho tới lúc đã trở nên nghiêm
trọng. Trong một số trƣờng hợp khác, các báo cáo quản lý đã không chính xác hay
không đƣợc hoàn chỉnh thậm chí bị xuyên tạc đã gây ra hậu quả nặng nề trong kinh
doanh.