Nghiên cứu lễ hội đền Gióng gắn với phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Sóc Sơn - Pdf 41

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................
3
1. Lí do chọn đề tài:.............................................................................................
3
2.Muc đích nghiên cứu:.......................................................................................
6
3. Đối tượng nghiên cứu: ....................................................................................
6
4.Phạm vi nghiên cứu:.........................................................................................
6
5.Phương pháp nghiên cứu:.................................................................................
6
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ LỄ
HỘI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH.................................................................
8
1.1. Một số vấn đề về du lịch văn hoá.................................................................
8
1.1.1. Khái niệm du lịch văn hoá.........................................................................
8
1.1.2. Nguồn tài nguyên và đặc điểm của du lịch văn hoá..................................
9
1.2. Một số vấn đề về phát triển du lịch văn hoá hiện nay..................................
10
1.3. Lễ hội trong phát triển du lịch......................................................................
11

1


1.3.1. Lễ hội với phát triển kinh tế - xã hội địa phương......................................

30
3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển du lịch Hà Nội .......................................
30
3.2. Một số giải pháp nhằm quản lý lễ hội đền Gióng với phát triển du lịch địa
phương.................................................................................................................
31
KẾT LUẬN.........................................................................................................
35
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................
37
HÌNH ẢNH.........................................................................................................
38

3


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, ở bất kỳ nơi đâu
trên đất Việt, chúng ta đều bắt gặp những di tích lịch sử – văn hoá như đình,
chùa, đền, miếu, lăng tẩm. … Đây là những tài sản vô cùng quý giá của dân
tộc mà cha ông ta đã để lại cho hậu thế.
Di tích lịch sử - văn hoá là những trang sử. Có sức thuyết phục lớn đối
với mọi thế hệ vì ở đó mang dấu ấn của lịch sử, hơi thở của lịch sử truyền lại
cho muôn đời sau. Những di tích lịch sử ấy được coi như những bảo tàng về
nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc, trang trí, và những giá trị văn hoá phi vật
thể. Gìn giữ những di tích lịch sử - văn hoá không chỉ đơn thuần là giữ những
thành quả vật chất của ông cha để lại, mà hơn thế là biết tiếp tục kế thừa và
phát huy sáng tạo những giá trị văn hoá mới, phù hợp với xu thế phát triển
của thời đại.

bảo vệ, nghiên cứu những viên ngọc quí giá của cha ông để lại. Gìn giữ cho
hiện tại và tương lai, kế thừa những tinh hoa, những truyền thống tốt đẹp của
tổ tiên, phù hợp với đường lối của Đảng và nhà nước là xây dựng một nền
văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Du lịch ngay từ xa xưa đã được ghi nhận như là một sở thích,một
hoạt động của con người.ngày nay trên phạm vi toàn thế giới,du lịch trở thành
nhu cầu thiết yếu không thể thiếu trong đời sống văn hóa xã hội của con
người.Du lịch không chỉ đáp ứng nhu cầu giải chí đơn thuần mà còn giúp con
người nâng cao hiểu biết, giao lưu văn hóa giữa tộc người,các dân tộc các
quốc gia, góp phần làm phong phú tinh thần,không những thế nó còn hỗ trợ
sự phát triển nhiều mặt của quốc gia nơi đón khách.
Ở việt nam những năm gần đây,du lịch trở thành một nghành kinh tế mũi
nhọn và được quan tâm hàng đầu.thực tế năm 2007 ,việt nam đã đón được 4,2

5


triệu lượt khách quốc tế,19,2 triệu lượt khách du lịch nội địa.Tổng thu nhập
toàn xã hội về du lịch ước tính đạt 56 nghìn tỉ đồng.Năm 2009,theo số liệu
của tổng cục Du Lịch ,trong tháng một lượng khách du lịch quốc tế đến việt
nam là trên 370.000 lượt,tăng 3,3% so với tháng 12/2008.Dự kiến đến năm
2010 lượng khách quốc tế đạt 5,5 – 6 triệu lượt và 25 triệu lượt khách nội địa.
Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch có xu hướng phát triển ở
việt nam. Ngày nay do sự biến động quá nhiều, cuộc sống của con người ngày
được hiện đại hóa hơn, thì nhu cầu trở về với nguồn cội, tìm hiểu những nét
đẹp văn hóa truyền thống , lễ hội truyền thống , làng nghề truyền thống, của
mỗi quốc gia dân tộc khác nhau trên thế giới ngày càng tăng. Đến các điểm di
tích lịch sử văn hóa,du khách được thỏa mãm nhu cầu hiểu biết về những nét
đẹp văn hóa, những giá trị lịch sử lâu đời, những danh nhân văn hóa của mọi
thời đại tại mỗi quốc gia, dân tộc nơi du khách đặt chân đến.

nghiên cứu du lịch có một lương thông tin cung cấp cho bài viết về đề tài khai
thác di tích lịch sử văn hóa đền Gióng xã Phù Ninh, huyện Sóc Sơn, Hà
Nội.để phục cụ cho du lịch. Người viết phải thu thập các tư liệu, thông tin từ
nhiều nguồn khác nhau, sau đó sử lý chúng để hoàn thành bài viết của mình.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực địa:
Đây là phương pháp hết sức quan trọng được sử dụng để làm tăng tính
thuyết phục cho bài viết co nhiều thông tin ghi nhận chân thực, xuất phát
trong quá trình người viết đi thu thập số liệu, thông tin. Từ đó có thể cảm
nhận được giá trị cua di tích, hiểu được khía cạnh khác nhau của thực tế. Và
cũng có thể đối chiếu, bổ xung những thông tin cần thiết mà các phương pháp
khác không cung cấp hoặc chua cung cấp đầy đủ.

7


5.3. Phương pháp phỏng vấn :
Trong quá trình thực hiện bài viết, người viết đã tìm hiểu và khai thác
nguồn thông tin từ chính những cư dân địa phương, những người có sự hiểu
biết chuyên sâu hay trực tiếp quản lý các di tích … để bổ sung thông tin trực
tiếp cho bài viết. Thông qua phương pháp phỏng vấn trần tục cũng có thể đi
sâu vào tìm hiểu.
5.4. Phương pháp tổng hợp và phân tích :
Là phương pháp sử dụng để phân tích, đánh giá tổng hợp và đua ra nhận
xét trên tư liệu đã thu thập được từ những phương pháp trên. Từ đó có cái
nhìn tổng quát hơn về vấn đề nghiên cứu.

8


Chương 1

+ Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hoá: Khách đi tìm hiểu các nền văn hoá là
chủ yếu. Mục đích đi tìm hiểu, nghiên cứu đối tượng khách chủ yếu là các
nhà nghiên cứu khoa học, học sinh, sinh viên đó là những chương trình du
lịch dã ngoại đến các dãy phố cổ kính, các khu di tích của thủ đô Hà Nội để
khách tìm hiểu phong tục tập quán, lối sống văn hoá của người dân nơi đó.
Khách sẽ đi bộ khi tham quan các công trình kiến trúc, nghệ thuật tập quán
sinh hoạt của người dân và nghỉ qua đêm tại nơi đó.
+ Du lịch tham quan văn hoá: Đây là loại hình du lịch kết hợp giữa tham
quan với nghiên cứu tìm hiểu văn hoá trong một chuyến đi. Đối tượng tham
gia phong phú gồm cả khách đi vừa để tham quan, vừa để nghiên cứu và
những khách chỉ đi để chiêm ngưỡng, để biết và thoả mãn sự tò mò có thể
theo trào lưu. Do vậy, trong một chuyến đi du khách thường đi đến những
điểm du lịch trong đó vừa có những điểm du lịch văn hóa vừa có những điểm
du lịch như vui chơi giải trí, các trò tiêu khiển mới lạ . Đối tượng khách là
những người vừa phiêu lưu mạo hiểm thích tìm cảm giác mới và chủ yếu là
những người tuổi trẻ.
1.1.2. Nguồn tài nguyên và đặc điểm của du lịch văn hoá
Tài nguyên du lịch văn hoá là các di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc; các
lễ hội; các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học và các gía trị nhân văn khác
có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình
thành các khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch.
Du lịch văn hoá khác với du lịch tự nhiên, đặc điểm du lịch dựa vào bản
sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa truyền thống. Du lịch văn hóa chủ yếu là những sản phẩm
văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín
ngưỡng... để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế
giới. Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và

10




Nhất là dịp xuân về, hàng nghìn lễ hội diễn ra trên cả nước chính là cơ hội để
hút khách du lịch. Tuy vậy, sức thu hút của lễ hội ở Việt Nam chưa lớn. Theo
thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cả nước có khoảng 8.000 lễ
hội, từ quy mô làng, xã đến quốc gia. Trong đó, có khoảng 70% lễ hội do cấp
xã quản lý, những lễ hội này chỉ thu hút sự tham gia cộng đồng dân cư quanh
vùng ở phạm vi hẹp. Thực tế cho thấy ngành du lịch càng phát triển, càng gắn
kết với lễ hội truyền thống. Tự thân ngành du lịch trong bước đường phát
triển của mình tự tìm đến với loại sản phẩm văn hoá đặc biệt này. Đưa khách
đến với lễ hôi truyền thống là nhằm để giới thiệu đất nước, con người Việt
Nam hôm qua, hôm nay là giới thiệu các giá trị về văn hoá, tín ngưỡng của lễ
hội, tính dân tộc và tính phổ quát của lễ hội. Vì thế ngành du lịch đứng trước
một khó khăn, đồng thời cũng là một yêu cầu phải khai thác di sản văn hoá
này sao cho khoa học, đúng với đặc trưng lễ hội. Trong di sản văn hoá của các
thế hệ trước để lại, lễ hội dân tộc có tác dụng hữu hiệu với ngành du lịch
không chỉ hôm nay mà cả ngày mai ở cả hai mặt: giới thiệu đất nước, con
người và kinh doanh. Khai thác, giới thiệu những lễ hội dân tộc biến nó thành
người bạn đồng hành trong cuộc sống hôm nay là công việc của ngành du
lịch. Về cả phương diện giới thiệu bản sắc văn hoá dân tộc lẫn phương diện
kinh doanh, Ngành rất cần một thái độ khoa học, đúng hướng, sự hỗ trợ của
các nhà văn hoá.
1.3. Lễ hội trong phát triển du lịch
Lễ hội là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại :
ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống hoặc để giải quyết những nỗi lo âu,
những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được. Song
không chỉ thoả mãn nhu cầu nhiều mặt của nhân dân, lễ hội còn là một trong
những tài nguyên nhân văn quan trọng cho phát triển du lịch. ẩ hiều lễ hội đã
và đang được khai thác cho hoạt động du lịch và các công ty du lịch đã không



13


mới thấy trách nhiệm lớn lao của bản thân mình trong việc gìn giữ, bảo vệ và
phát huy các giá trị đẹp đẽ ấy để truyền lại cho các thế hệ mai sau.
Khi lễ hội được tổ chức, đặc biệt với những lễ hội có quy mô lớn sẽ thu
hút được một lượng khách du lịch đông đảo về tham dự. Khách từ khắp nơi
đổ về sẽ có tác động nhiều mặt đến đời sống xã hội địa phương làm cho đời
sống của nhân dân địa phương trở nên sôi động, nhộn nhịp hẳn lên. Mặt khác
quá trình tiếp xúc của khách với người địa phương là điều kiện để các nền văn
hóa hòa nhập với nhau làm cho mọi người hiểu nhau hơn, tăng thêm tình hữu
nghị, tương thân, tương ái giữa cộng đồng.
Xét trên bình diện kinh tế việc tập trung lượng khách du lịch đông đảo
trong thời gian nhất định sẽ có tác động lớn đến kinh tế địa phương. Để phục
vụ được một lượng khách du lịch đông đảo tất yếu phải đòi hỏi một số lượng
lớn các vật tư, hàng hoá các loại. Điều này khích thích mạnh mẽ đến các
ngành kinh tế có liên quan như nông nghiệp, công nghiệp chế biến, gioa thông
vận tải, dịch vụ...Từ đó tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân và giảm
bớt nạn thất nghiệp, góp phần ổn định trật tự xã hội địa phương.
Như vậy tài nguyên du lịch lễ hội nếu biết cách khai thác phục vụ cho
hoạt động du lịch sẽ mang lại những tác động to lớn trong việc làm thay đổi
bộ mặt kinh tế - xã hội của khu vực cả về nhận thức cũng như đời sống tinh
thần của nhân dân.
1.3.2. Tầm quan trọng của lễ hội đối với việc phát triển du lịch địa
phương
Lễ hội là biểu hiện tập trung của văn hoá. Văn hoá là một nội dung đặc
trưng của sản pham du lịch. ẩ hư vậy có thể thấy lễ hội là một thành tố cơ bản,
quan trọng tạo nên sản pham du lịch và tạo nên sức hấp dẫn trong du lịch. Lễ
hội đã trở thành dịp để mọi người cởi bỏ những lo toan thường nhật để hoà

đây là cách tưởng nhớ các vị anh hùng, những vị có công với dân, với nước.
Đó là truyền thống quý báu nối quá khứ, hiện tại và tương lai. Chính vì thế

15


mà Việt Nam cũng được du khách quốc tế biết đến là một đất nước của lễ hội.
Văn hoá tín ngưỡng Việt Nam muôn hình, muôn vẻ không chỉ hấp dẫn du
khách nội địa mà còn là mảnh đất màu mỡ để cho khách quốc tế tham quan.
Lễ hội không chỉ đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhân dân về tâm linh, tín
ngưỡng, thư giãn... mà còn là nguồn tài nguyên du lịch có thể khai thác để tạo
nên những sản pham du lịch độc đáo, hấp dẫn, giàu bản sắc văn hoá. Song
trong quá trình phát triển du lịch, hoạt động du lịch vừa có tác động tích cực
và tiêu cực đến du lịch, đến cộng đồng dân cư địa phương.
Tác động tích cực.
Một trong những ý nghĩa của du lịch là góp phần giáo dục con người ý
thức bảo vệ môi trường, bảo vệ các di tích, danh lam thắng cảnh, gìn giữ các
giá trị văn hoá truyền thống. ẩ hu cầu về nâng cao nhận thức văn hoá trong
chuyến đi của du khách thúc đay nhà cung ứng sản pham du lịch quan tâm,
yểm trợ cho việc khôi phục các di tích lịch sử, lễ hội, sản pham các làng nghề
truyền thống... để thu hút du khách. Từ đó góp phần cho việc bảo vệ các di
tích lịch sử, phát huy bản sắc văn hoá trong lễ hội, khôi phục các làng nghề
truyền thống. Về phía du khách khi được hoá mình vào không gian văn hoá
của môi trường lễ hội linh thiêng, họ sẽ càng thấm thía sâu sắc những giá trị
văn hoá truyền thống tốt đẹp, giá trị lịch sử, ý nghĩa nhân văn cao đẹp mà các
di tích lịch sử, lễ hội chứa đựng. Từ đó họ sẽ thêm yêu, thêm trân trọng hơn
nữa những di tích lịch sử, nét đẹp văn hoá lễ hội ấy.
Hoạt động du lịch phát triển đã tạo ra nguồn thu để tu bổ các di tích, đầu
tư cho lễ hội, nâng cấp cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du
lịch ở địa phương. Thông qua hoạt động du lịch, việc khai thác có hiệu quả

khách xem. ẩ hiều trường hợp do thiếu hiểu biết về nguồn gốc, ý nghĩa và các
hành vi của lễ hội, người ta đã giải thích một cách sai lệch, thậm chí bậy bạ
các giá trị đó. ẩ hư vậy những giá trị văn hoá đích thực của cộng đồng đáng lý

17


phải được tôn trọng thì lại đem ra làm trò tiêu khiển, mua vui cho du khách.
Giá trị truyền thống dần bị lu mờ do bị lạm dụng về mục đích kinh tế.
Xu hướng ngày nay là tình trạng mê tín dị đoan ngày càng phát triển dẫn
đến nạn chùa giả, di tích giả. làm mất đi lòng tin của du khách.
Đạo đức của con người bị suy giảm gắn với nhiều hiện tượng tiêu cực.
Du lịch còn là môi trường tốt để những kẻ ham hưởng lạc và trục lợi gặp
nhau, làm gia tăng các tệ nạn xã hôi như tình trạng bán hàng rong, hàng giả,
chèo kéo khách, bắt chẹt khách để kiếm lợi; tình trạng nghiện hút, ăn xin, mại
dâm... Lợi dụng môi trường lễ hội linh thiêng, chứa đựng những giá trị tâm
linh sâu sắc, một số kẻ đã lợi dụng lễ hội để hành nghề mê tín dị đoan, bói
toán. khiến nhiều lễ hội mất đi nét đẹp văn hoá truyền thống.
Quan hệ gia đình, dòng họ, làng bản lỏng lẻo dần do nhu

cầu phục vụ

du lịch, do lối sống, mức sống thay đổi khi tiếp xúc nhiều loại khách du lịch
và có các nguồn thu khác nhau từ du lịch. Bên cạnh đó giáo dục gia đình cũng
bị suy giảm do cả người lớn và trẻ em đều mải kiếm tiền từ việc phục vụ du
lịch.
Quá trình giao lưu giữa người tiêu dùng và cộng đồng dân cư tại nơi du
lịch là môi trường để các ảnh hưởng tiêu cực thâm nhập vào xã hội một cách
nhanh chóng. ẩ hững khác biệt về tôn giáo, văn hoá, chính trị giữa du khách
và công đồng dân cư có thể dẫn đến những hiểu lầm, thậm chí hiềm khích tạo

2.1.2. Công tác tổ chức lễ hội đền Gióng.
Ban tổ chức hội đền Gióng huyện Sóc Sơn đã xây dựng các phương án
bảo đảm an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, an toàn giao thông, làm tốt công
tác phòng chống cháy nổ trong toàn bộ khu vực diễn ra các hoạt động lễ hội.
Thực hiện quản lý chặt chẽ các hoạt động dịch vụ, đẩy mạnh công tác tuyên
truyền để du khách về dự lễ hội hiểu sâu sắc hơn giá trị và nét độc đáo của
đền Gióng Xuân. Ban tổ chức còn khuyến khích các doanh nghiệp quảng bá

19


thương hiệu và giới thiệu sản phẩm tới người tiêu dùng, đặc biệt là các sản
phẩm cây cảnh, cây thế có giá trị nghệ thuật cao. Để đảm bảo an ninh trật tự,
an toàn giao thông cho đền Gióng, huyện Sóc Sơn đã xây dựng các phương án
đảm bảo ANTT. Các xã gần Phù Ninh, đều thành lập Ban tổ chức để chỉ đạo
công tác quản lý các hoạt động diễn ra trong đền Gióng Xuân trên địa bàn.
Rút kinh nghiệm, để tránh tình trạng ùn tắc giao thông, Ban tổ chức cấm các
loại ô tô đi vào tuyến đường cắm 50 biển báo và biển chỉ dẫn giao thông, quy
hoạch 30 bãi gửi xe, giá dịch vụ tiếp tục thực hiện theo Nghị định của Chính
phủ (về phí và lệ phí thuộc ngân sách Nhà nước) và quyết định của UBND
thành phố Hà Nội (về mức thu phí giữ xe đạp, xe máy, ô tô…), phân luồng
đường một chiều tại các tuyến giao thông thuộc khu vực đền Gióng và các
điểm di tích; thành lập đoàn kiểm tra liên ngành phát hiện, xử lý kịp thời các
hành vi vi phạm quy chế lễ hội. Kiên quyết không để xảy ra tình trạng ùn tắc
giao thông, tập trung đẩy lùi các hiện tượng mê tín dị đoan, các tai, tệ nạn xã
hội, khắc phục nạn hành khất, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi phản
cảm, văn hoá phẩm thẩm lậu, hành vi trộm cắp, móc túi, cờ bạc, phải kịp thời
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; không bán các văn hóa phẩm thẩm lậu,
không tổ chức dịch vụ, kinh doanh trong khuôn viên Đền, Phủ, Chùa, Lăng;
không mang chất nổ, chất dễ cháy vào khu vực chợ. Cấm đốt pháp hoặc gây

bửu, ở giữa là một trích biển bầu dục có lọng che, người cầm biển mặc áo
thụng màu xanh.
- Biểu tượng ngựa Gióng : được làm bằng tre đan hoặc bằng gỗ dán có
vẻ hoa văn mây nước. ẩ gựa cao 4-5 m theo thế đang chồm bay. Đi trước và
đi sau kiệu ngựa chia làm hai hàng các võ sinh ăn mặc phỏng theo phục trang
chiến binh thời các vua Hùng, tay có mang theo binh khí và gậy tre ngà.
- Đội dâng hương.
- Đội đồng văn múa sinh tiền, múa bồng.
- Đội bát âm.

21


- Lễ rước dò hoa tre : hoa tre gợi nhớ lại hình ảnh Thánh Gióng nhổ gốc
tre ngà vụt túi bụi, đánh tan giặc Ân. Hoa tre thường được nhuộm nhiều màu
sắc nhưng chủ yếu chỉ có màu đỏ và màu vàng. Về thứ bậc dâng hoa tre thì
cây giò hoa tre đầu tiên là cây giò của làng Vệ Linh, sau đó là các làng khác
có tục rước giò hoa tre đi sau. Mỗi cây giò là do 4 người cầm binh khí, mặc
áo nâu đỏ, thắt lưng bao xanh, đỏ khiêng. Hoa tre trước tiên được dâng vào
đền Thượng, đặt tại sân để các tế quan làm lễ bái tấu. Sau khi tấu xong ở đền
Thượng thì lại rước hoa tre xuống tấu ở đền Hạ. Bái tế xong, tế quan hô : “ Lễ
tất, tranh lộc !” thì từ phút đó mọi người tham dự lễ hội đều được phép đua
nhau giành cướp hoa tre người nào chen chúc cướp được chiếc hoa tre thì họ
nhảy cẫng lên reo hò và tỏ vẻ sung sướng lắm. Vì họ quan niệm hoa tre là vật
thiêng, là lộc của Thánh Gióng, giành được hoa tre cũng như giành được phúc
lành mà Thánh ban cho. Lễ bái tấu dâng hoa tre là lễ chính, mở đầu cho lễ hội
đền Gióng (đền Sóc). Bởi thế lễ được tiến hành rất trang nghiêm, trọng thể.
Đồng thời nó cũng mở màn cho các hình thức vui chơi khác kéo dài trong
suốt ba ngày.
- Ngà voi : được làm bằng gỗ màu trắng có hoa văn do hai người vác,

thời kỳ mở nước.
2.2. Lễ hội đền Gióng với phát triển du lịch Hà Nội hiện nay
Lễ hội đền Gióng cổ truyền chứa đựng những giá trị văn hoá độc đáo và
sinh động. Tổ chức lễ hội hàng năm sẽ góp phần giữ vững bản sắc văn hoá
dân tộc. Đây vừa là dịp sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá, vừa là môi
trường để truyền các “ mã” văn hoá cho các thế hệ sau.
Thông qua các hệ thống biểu tượng, lễ hội đã phát huy hết vai trò ưu việt
của mình. ẩ ó giúp cho con người xích lại gần nhau, tìm thấy những giá trị
truyền thống, giá trị của cả cộng đồng mà họ đang tồn tại. Giúp họ sáng tạo ra
những tác pham văn hoá mới, đó cũng là sự sản sinh ra con người lần thứ hai.
Không riêng chỉ với lễ hội đền Gióng mà đối với tất cả các lễ hội khác, khi

23


đến với lễ hội con người nâng cao sự hiểu biết, sự sáng tạo, khơi dậy những
năng lực tiềm an hoặc bị chìm sâu trong mỗi con người, giúp họ có thể hoàn
thiện nhân cách và tâm cách trong đời sống.
Đến với lễ hội đền Gióng - Sóc Sơn là thoả mãn nhu cầu tinh thần của
con người. Khi tham gia vào lễ hội con người được tắm mình trong một
không gian văn hoá thuần tuý. Họ có điều kiện để bứt mình ra khỏi những
mệt mỏi, những căng thẳng trong lao động, trong cuộc sống thường ngày. để
hoà mình vào không khí lễ hội, để thâm nhập vào các vai trò mới - “ vai trò
thiêng ” trong lễ hội.
Là môi trường văn hoá nên các giá trị văn hoá trong lễ hội sẽ giúp cho
con người nhận thức và kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Họ
thoả mãn được nhu cầu giải trí, vui chơi, tìm hiểu các giá trị văn hoá độc đáo
trong lễ hội, quên đi những lo âu, phiền muộn và có tinh thần phấn khởi để
bước vào một ngày mới với nhiều niềm vui mới.
Tục mở hội hàng năm cũng là dịp hoạt động văn hoá cho quần chúng

trong việc dựng nước và giữ nước”.
Giá trị văn hoá tinh thần của lễ hội còn thể hiện ở chỗ sau thời gian lao
động cực nhọc là dịp để nhân dân giải quyết những lo âu, những khao khát mà
cuộc sống thực tại chưa giải quyết được. Họ đến với lễ hội là để cầu cho sức
khoẻ, hạnh phúc, cầu cho “ Thiên thời - Địa lợi - ẩ hân hoà” và mùa màng
phong đăng, tươi tốt. Chính nghi lễ của hội đã tạo ra một yếu tố văn hoá
thiêng liêng, một giá trị tham mỹ đối với toàn thể cộng đồng giúp cho con
người hướng tới cái Chân - Thiện - Mỹ.
2.3. Đánh giá chung
2.3.1. Ưu điểm
Ban tổ chức lễ hội đền Gióng của hai huyện Sóc Sơn và Sóc Sơn đã triển
khai và thực hiện tốt công tác an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, đảm bảo
an toàn giao thông, tạo ấn tượng tốt đối với du khách và nhân dân về dự hội.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status