Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và phát triển bền vững là mục tiêu phấn đấu mọi quốc gia. Có
bốn yếu tố chính tạo nên tăng trưởng và phát triển đó là: lao động, tài nguyên,
vốn và khoa học công nghệ. Bên cạnh đó phải kể đến ngoại thương, ngoại thương
có vai trò nh mét chiếc cầu nối liên kết hoạt động kinh tế của các quốc gia, biến
nền kinh tế thế giới thành một guồng máy hoạt động có hiệu quả hơn.
Ngày nay sản xuất đã được quốc tế hoá. Không một quốc gia nào có thể tồn
tại và phát triển kinh tế mà lại không tham gia vào phân công lao động quốc tế và
trao đổi hàng hoá với bên ngoài. Đồng thời ngày nay ngoại thương không chỉ
mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán với bên ngoài , mà thực chất là cùng với các
quan hệ kinh tế đối ngoại khác tham gia vào phân công lao động quốc tế.
Việt Nam còng không nằm ngoài xu thế đó, hoạt động ngoại thương đã tồn
tại và phát triển từ rất lâu. Xong chỉ từ sau khi đổi mới, mở cửa đất nước, ngoại
thương mới thực sự cho thấy vai trò quan trọng của nó. Trước xu hướng khu vực
hoá, toàn cầu hoá, Việt Nam đã không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều
nước và tham gia vào các tổ chức của khu vực và thế giới. Điều đó cũng đặt ra
cho ngoại thương những cơ hội và thách thức lớn. Để tận dụng được những cơ
hội và đương đầu với thách thức, Đảng và Nhà nước cần phải có những chủ
trương, đường lối, chính sách đúng đắn để nâng cao vai trò của ngoại thương đối
với tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam .
Vì những lý do trên em đã chọn đề tài “Vai trò của ngoại thương với phát
triển kinh tế Việt Nam” để làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Do
trình độ còn hạn chế, đề tài không khỏi những thiếu sót, mong các thầy cô bổ
sung để đề tài thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
Đề án môn học
PHẦN I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGOẠI THƯƠNG
I. NGOẠI THƯƠNG VÀ CƠ SỞ KINH TẾ CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG:
1. Khái niệm, chức năng của ngoại thương:
và cơ cấu nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng. Tuy vậy trước khi được thực hiện
với tư cách là giá trị sử dụng, thì hàng hoá đã được thưc hiện với tư cách là giá
trị. Việc thay đổi hình thái giá trị hàng hoá thông qua mua bán không những là
phương tiện và điều kiện để thực hiện giá trị sử dụng hàng hoá mà còn tạo khả
năng tái sản xuất mở rộng các giá trị sử dụng, nhờ vào tăng nhanh tốc độ chu
chuyển hàng hoá, rut ngắn thời gian lưu thông, góp phần tăng tốc độ của toàn bộ
quá trình tái sản xuất xã hội.
2. Cơ sở kinh tế của hoạt động ngoại thương:
2.1. Những điều kiện tiền đề của hoạt động ngoại thương:
Ngoại thương là hoạt động kinh tế đã có từ lâu đời và ngày nay giữ một vị trí
vô cùng quan trọng không thể thiếu trong nền kinh tế của mọi quốc gia. Tuy
nhiên để có một nền ngoại thương phát triển nh ngày nay là cả một quá trình lâu
dài và có nhiều yếu tố tác động, trong đó có hai điều kiện cơ bản.
Thứ nhất, có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hoá- tiền tệ, kèm theo
đó là sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp. Khi sản xuất phát triển, con người
sản xuất ra không những đủ phục vụ bản thân mà còn dư thừa để trao đổi. Ban
đầu trao đổi chỉ dưới hình thức đơn hình là hàng đổi hàng. Hình thức này có điểm
nhiều hạn chế và khó thực hiện khi mà khoảng cách xa, khối lượng cồng kềnh và
khó xác định đúng giá trị. Nhưng từ khi tiền tệ ra đời, trao đổi hàng hoá thuận
tiện hơn rất nhiều và ngày càng phát triển. Đặc biệt là sự xuất hiện của tư bản
thương nghiệp- một bộ phận của tư bản công nghiệp tách rời ra, phục vụ quá
trình lưu thông hàng hoá của tư bản công nghiệp. Lúc này đã có một bộ phận
chuyên sản xuất và một bộ phận khác( tư bản thương nghiệp) chuyên phụ trách
việc tiêu thụ hàng hoá- tức lưu thông hàng hoá. Nhờ vậy tư bản công nghiệp có
điều kiện tập trung sản xuất, năng suất lao động sẽ tăng lên, quá trình sản xuất
được rút ngắn,rút ngắn thời gian lưu thông tăng nhanh tốc độ chu chuyển tư bản.
Đây chính là mầm mèng ban đầu của ngoại thương. Đồng thời mục đích trao đổi
Đề án môn học
không còn là để thoả mãn nhu cầu ngày càng phong phú nữa mà là để kiếm lợi
nhuận.
vàng, bạc). Muốn vậy phải vậy phải phát triển thương nghiệp mà cốt lõi là tạo ra
được một cán cân thương mại thặng dư. Các nước chỉ chú ý đến xuất khẩu, tìm
mọi cách để tăng được xuất khẩu cả số lượng và giá trị, còn nhập khẩu thì hạn
chế đặc biệt là các sản phẩm đã hoàn chế và hàng hoá xa xỉ phẩm. Các hoạt động
kinh tế có sự can thiệp sâu của chính phủ đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương.
Nhà nước thực hiện độc quyền mậu dịch. Cán cân thương mại được cải thiện
bằng cách mỗi quốc gia mua ở những nơi thuộc quyền kiểm soát của họ với giá
rẻ và bán đắt ở những nơi nào cần thiết. Nh vậy họ coi viêc buôn bán với nước
ngoài không phải xuất phát từ lợi Ých chung của cả hai phía mà chỉ có thu vén
cho lợi Ých của quốc gia mình. Vì thế người ta còn gọi các học giả trọng thương
là những nhà kinh tế độc quyền chủ nghĩa. Họ tin rằng một quốc gia chỉ có thể
được lợi nhờ mậu dịch trên sự hy sinh của một quốc gia khác (nghĩa là mậu dịch
quốc tế là một trò chơi có tổng bằng không). Tuy còn nhiều hạn chế xong những
lý thuyết này đã cho thấy vai trò quan trọng của ngoại thương đối với phát triển
kinh tế, từ đó tạo cơ sở cho các học thuyết khác ra đời.
2.2.2. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith:
Bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 18 nền kinh tế ở các nước Tây Âu đã có những
thay đổi đáng kể. Công nghiệp phát triển, mậu dịch từ nội bộ địa phương đã được
mở rộng ra toàn quốc và toàn cầu, hệ thống ngân hàng phát triển, hệ thống
thương phiếu ra đời và bắt đầu phát hành tiền tệ. Nhà nước không còn kiểm soát
chặt chẽ hoạt động kinh tế nữa mà để tư nhân tự quyết. Trong bối cảnh đó đã xuất
hiện một quan điểm mới có tính hệ thống hơn về nguồn gốc của thương mại quốc
tế. Đó là quan điểm của nhà kinh tế học người Anh Adam Smith.
Ông đã xây dựng mô hình thương mại dùa trên ý tưởng về lợi thế tuyệt đối để
giải thích thương mại quốc tế có lợi như thế nào đối với các quốc gia. Nếu quốc
gia A có thể sản xuất mặt hàng X rẻ hơn so với nước B và nước B có thể sản xuất
mặt hàng Y rẻ hơn so với nước A, thì lúc đó mỗi quốc gia nên tập trung vào sản
xuất mặt hàng mà mình có hiệu quả hơn và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc
gia kia. Trong trương hợp này mỗi quốc gia được coi là có lợi thế tuyệt đối về sản
ỏn mụn hc
ỏn mụn hc
Ricardo dựa trên lý thuyết về giá trị- lao động còn Harberler lại dựa vào lý
thuyết chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội của một hàng hoá là số lợng các hàng hoá
khác phải cắt giảm để có đợc thêm các nguồn tài nguyên để sản xuất thêm một
đơn vị hàng hoá thứ nhất. Nh vy, quc gia no cú chi phớ c hi thp trong
vic sn xut mt loi hng hoỏ no ú thỡ h cú li th tng i trong vic sn
xut hng hoỏ th hai. Trờn thc t chi phớ c hi rt ít khi l mt hng s m
thng l tng dn. Vi chi phớ c hi tng dn thỡ cung c biu th bng
ng gii hn kh nng sn xut l mt ng cong li ra phớa ngoi. V khi
cỏc quc gia tin hnh trao i hng hoỏ thỡ quc gia ú s sn xut vt ra ngoi
ng gii hn kh nng sn xut.
C hai mụ hỡnh ca Ricardo v Haberler u cú chung kt lun rng thng
mi quc t lm li cho cỏc quc gia ngay c khi cú hay khụng cú li th tuyt
i v vic sn xut mt hng hoỏ no ú. Nhng Haberler cú cỏch gii thớch rừ
rng v chớnh xỏc hn.
2.2.4. Lý thuyt hm lng cỏc yu t ca Heckcher- Ohlin:
Vo u th k XX, hai nh kinh t hc ngi Thu in l Eli Heckcher v
Bertil Ohlin ó nhn thy rng chớnh mc sn cú ca cỏc yu t sn xut cỏc
quc gia khỏc nhau v mc s dng cỏc yu t lm ra cỏc mt hng khỏc
nhau mi l nhng nhõn t quan trng quy nh thng mi. Theo ú mt quc
gia s xut khu nhng mt hng m vic sn xut ũi hi s dng mt cỏch
tng i yu t sn xut di do ca quc gia ú. Chi phớ v cỏc yu t sn xut
s l c s cho mi quc gia tp trung vo vic sn xut v xut khu nhng sn
phm s dng nhiu hn nhng yu t m nc ú sn cú giỏ r hn v s xut
khu nhng sn phm s dng nhiu hn cỏc yu t nc ú khan him cú giỏ
t hn.
2.2.5. Mt s lý thuyt hin i:
Cỏc lý thuyt mi ny cú th phõn thnh ba nhúm cn c vo cỏch tip cn
ca chỳng.
Th nht, thng mi dựa trờn hiu sut tng dn theo quy mụ. Mt trong
những khu vực thị trường có chi phí bộ phận thấp để chuyển những khâu nhất
định trong quá trình sản xuất hoặc toàn bộ quá trình sản xuất đến những quốc gia
Đề án môn học
có lợi thế hơn để sản xuất nhằm giảm chi phí. Trong giai đoạn cuối, cạnh tranh
khốc liệt hơn đã gây ra sự chuyển dịch của sản xuất tới những nơi có chi phí sản
xuất thấp và sản phẩm sản xuất ra sẽ được tái xuất khẩu về nước chủ nhà và các
thị trường khác. Với sự vận động của quá trình sản xuất từ nước này sang nước
kia khi sản phẩm phát triển trong các giai đoạn của chu kỳ sống quá trình quốc tế
hoá sản xuất đã được hình thành và ứng dụng rộng rãi.
II. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGOẠI
THƯƠNG:
1. Các nhân tố tác động đến ngoại thương:
1.1. Các yếu tố lợi thế và nhu cầu tiêu dùng trong nước:
Lợi thế là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hoạt động xuất
khẩu của một nước. Lợi thế có thể là tài nguyên, lao động, vốn hay công nghệ…
và căn cứ vào đó một quốc gia sẽ xem nên tập trung sản xuất những sản phẩm
nào để xuất khẩu.
Đối với những nước có lợi thế về tài nguyên như than đá, dầu mỏ, quặng kim
loại, vật liệu xây dựng…hơn nữa họ không có điều kiện để tinh chế hay sản xuất
trong nước chưa phát triển thì họ sẽ lùa chọn xuất khẩu những tài nguyên đó dưới
dạng thô và sơ chế. Đây là sự lùa chọn đúng đắn, vì trong giai đoạn đầu xuất
khẩu sản phẩm thô sẽ là nguồn quan trọng cung cấp vốn cho phát triển sản xuất
trong nước. Tuy nhiên về lâu dài sẽ không tốt và phần lớn các nước sẽ chuyển
hướng xuất khẩu sang sản phẩm khác.
Cũng tương tự với lao động hay vốn. Những quốc gia đông dân, lao động dồi
dào họ sẽ tập trung vào những ngành sử dụng nhiều lao động nh: dệt may, da
giầy, thủ công mỹ nghệ. Còn khi vốn lớn, công nghệ cao họ sẽ phát triển công
nghiệp nặng và xuất khẩu những sản phẩm này sang những nước kém phát triển
hơn đồng thời nhập khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều lao động của nước đó.
Như vậy vô hình chung những lợi thế của mỗi quốc gia đã quy định cơ cấu hàng
cùng là chuyển sang các sản phẩm cần nhiều vốn và công nghệ cao như cơ khí
chính xác, tự động hoá, tin học… Mỗi một giai đoạn khác nhau đòi hỏi quốc gia
đó phải có những lùa chọn chiến lược phát triển cho phù hợp, tận dụng hết nguồn
lực trong nước và đem lại hiệu quả cao nhất.
Đề án môn học
1.3. Yếu tố cạnh tranh:
Đây là yếu tố gây sức Ðp lớn đến việc tìm thị trường và danh mục hàng xuất
khẩu. Trước khi xuất khẩu sản phẩm gì, xuất khẩu ra đâu bao giê một quốc gia
hay doanh nghiệp xuất khẩu cũng xem xét kỹ khả năng cạnh tranh của sản phẩm,
những thị trường tiềm năng, thị trường đã bão hoà để việc kinh doanh có hiệu
quả. Xu hướng thông qua tăng trưởng xuất khẩu để đi lên đã trở thành con đường
đi chung cho tất cả các nước đang phát triển ngày nay, trong khi đó thị trường thế
giới và nhất là thị trường các khu vực, các quốc gia dù có lớn, có nhiều thì sức
chứa chỉ có giới hạn và khi đó một thách thức lớn đối với tất cả các nước lùa
chọn con đường tăng trưởng xuất khẩu, nhất là các nước nghèo sẽ là làm thế nào
để không bị thua thiệt trong cuộc đua tranh xuất khẩu. Vấn đề đặt ra cho các quốc
gia đã lao vào cuộc cạnh tranh đó là phải “mở cửa” thực hiện tự do hoá thương
mại, chấp nhận “luật chơi”, và do đó trong cuộc cạnh tranh này, việc thực thi
những chính sách kinh tế trong một loạt các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, cơ cấu
kinh tế, cơ chế quản lý đương nhiên cần có sự thể hiện một cách khéo léo sự kết
hợp đồng bộ khuyến khích phát triển “tự do hoá thương mai” với “bảo hộ mậu
dịch” đúng đắn, tích cực. Vì vậy mà việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá
xuất nhập khẩu là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trong chiến lước phát
triển ngoại thương của mình.
1.4. Môi trường văn hoá - xã hội:
Mỗi một quốc gia, một dân téc đều có một nền văn hoá riêng tiêu biểu cho
quốc gia Êy. Bởi vậy mà con người sống trong mỗi quốc gia chịu ảnh hưởng bởi
nền văn hoá truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đó hình thành các niềm tin
cơ bản, các giá trị và những tiêu chuẩn của họ. Khi tiến hành kinh doanh đặc biệt
xuất khẩu hàng hoá sang một quốc gia nào bao giê cũng phải tính đến nhu cầu
phức tạp hơn và rất khó có thể lường trước chính xác tất cả những xu hướng phát
triển của nó trong các thập niên tới của thế kỷ 21. Tuy nhiên có thể dự báo tương
đối về một số xu hướng chính sau.
Một là việc cấu trúc lại các nền kinh tế quốc gia sẽ tác động sâu sắc đến quá
trình chuyển dịch cơ cấu của thương mai thế giới theo hướng: đồng thời với sự
Đề án môn học
gia tăng mạnh mẽ của các hoạt động xuất nhập khẩu hữu hình, các hoạt động xuất
nhập khẩu dịch vụ, chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ
sẽ không ngừng tăng về tốc độ phát triển, quy mô giá trị; các sản phẩm có hàm
lượng chất xám, có giá trị gia tăng lớn cũng không ngừng tăng về tốc độ phát
triển, quy mô và tỷ trọng; cánh kéo giá cả giữa sản phẩm nông nghiệp và sản
phẩm công nghiệp vẫn có xu hướng mở rộng.
Hai là cùng với xu hướng quốc tế hoá lực lượng sản xuất, toàn cầu hoá và
khu vực hoá, quá trình tự do hoá thương mại ngày càng gia tăng là yêu cầu phát
triển khách quan của thương mại quốc tế. Tuy nhiên quá trình này sẽ nảy sinh
nhiều phức tạp, vừa có lợi vừa bất lợi cho sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới và
khu vực của các nước đang phát triển. Đi đôi với tự do hoá thương mại là chính
sách bảo hộ mậu dịch hợp lý. Không một quốc gia nào, kể cả các quốc gia phát
triển có tiềm lực hùng hậu về kinh tế lại dám lãng quên chính sách bảo hộ mậu
dịch. Thực tế đã cho thấy tư do hoá thương mại tuy có lợi cho tất cả các quốc gia,
nhưng thông thường các quốc gia phát triển bao giê cũng thu được lợi hơn so với
các quốc gia chưa phát triển. Trong nhiều trường hợp các nước nghèo có khi còn
phải gánh chịu những bất lợi lớn hơn không chỉ về kinh tế mà cả các vấn đề chính
trị – xã hội khác. Tự do hoá thương mai đã góp phần làm cho nền kinh tế thế giới
không ngừng thay đổi với những hậu quả rất nghiêm trọng như tăng khoảng cách
trình độ phát triển giữa các nước, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, gây cạn
kiệt tài nguyên…
III.VAI TRÒ CỦA NGOẠI THƯƠNG VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN:
1. Một số khái niệm:
hàng xuất khẩu là hàng sơ chế nên giá thấp hơn so với hàng nhập khẩu là máy
móc thiết bị, những sản phẩm đã tinh chế.
3. Vai trò của ngoại thương với phát triển kinh tế:
Trong tác phẩm “của cải của các dân tộc” A.Smith đã chỉ rõ thương mại quốc
tế là một trong những hình thức đem lại sự giàu có thịnh vượng cho mỗi dân téc,
là nhân tố quan trọng góp phần đáng kể cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Ngày nay, thương mại quốc tế còn là công cụ để hội nhập nền kinh tế các nước
Đề án môn học
và hình thành kinh tế toàn cầu với một không gian rộng lớn, nhờ đó hiệu quả kinh
tế xã hội không ngừng tăng lên làm tăng chất lượng cuộc sống trên toàn thế giới
cũng như ở mỗi quốc gia.
3.1. Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế:
Xuất khẩu liên quan đến thu ngoại tệ còn nhập khẩu liên quan đến chi ngoại
tệ. Vì vậy hoạt động xuất nhập khẩu tác động đến quỹ tiền tệ của đất nước từ đó
tác động đến tổng cầu của toàn nền kinh tế. Nếu xuất khẩu thuần dương tổng cầu
sẽ tăng, còn xuất khẩu thuần âm tổng cầu sẽ giảm. Tổng cầu tăng làm nền kinh tế
tăng . Ngoại thương phát triển, thị trường được mở rộng, cho phép tăng chuyên
môn hoá sản xuất, tiếp nhận công nghệ mới, khuyến khích phát minh sáng chế
nâng cao năng suất lao động dẫn tới tăng tổng sản phẩm quốc dân. Đồng thời cho
phép các quốc gia mở rộng sản xuất trên cơ sở chuyên môn hoá một cách sâu sắc.
Từ đó ngoại thương tạo điều kiện cho các quốc gia mở rộng đường giới hạn khả
năng sản xuất dịch chuyển ra xa hơn so với đường giới hạn khả năng sản xuất cũ.
Để đánh giá tác động của ngoại thương vào tăng trưởng tổng sản phẩm quốc
dân người sử dụng mối quan hệ tương quan giữa kim ngạch xuất nhập khẩu với
GDP, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu so với GDP và tương quan xuất khẩu so
với nhập khẩu. Ngoài ra ảnh hưởng đó còn được tính toán bởi chỉ tiêu tăng
trưởng xuất nhập khẩu và tăng trưởng xuất khẩu vào 1% tăng trưởng GDP, nghĩa
là để đạt được 1% tăng trưởng GDP thì kim ngạch xuất nhập khẩu hay kim ngạch
xuất khẩu phải tăng trưởng bao nhiêu phần trăm nếu chúng ta cố định các nhân tố
khác.
của sự tăng trưởng là vì con người, hướng tới con người. Đối với các nước đang
phát triển, dân số đông nên nhà nước thường hướng sản xuất hàng hoá xuất khẩu
vào những ngành sử dụng nhiều lao động. Khi xuất khẩu tăng trưởng thường kéo
theo sù gia tăng sản xuất trong nước. Cầu lao động tăng nhanh dẫn tới giải quyết
công ăn việc làm cho phần lớn lao động dư thừa. Người lao động có việc làm tức
là có thu nhập, bởi vậy mức sống được cải thiện đáng kể.
Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu không chỉ đáp ứng cho sản xuất mà con
cho cả tiêu dùng. Hàng nội vì phải cạnh tranh với hàng ngoại nên không ngừng
nâng cao chất lượng và hạ giá bán. Người được lợi ở đây chính là người tiêu
dùng ngày càng được sử dụng những hàng hoá đa chủng loại và chất lượng cao.
Đề án môn học
Xuất nhập khẩu quyết định cán cân thanh toán của một nước. Nếu hoạt động
xuất nhập khẩu ổn định, cán cân thanh toán giữ ở mức an toàn thì sẽ giúp ổn định
kinh tế vĩ mô. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp, tâm lý yên
tâm làm ăn, sinh sống cho người dân.
Đề án môn học
PHẦN 2: TÁC ĐỘNG CỦA NGOẠI THƯƠNG ĐẾN PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VIỆT Nam THỜI KỲ ĐỔI MỚI
I. KHÁI QUÁT SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGOẠI THƯƠNG VIỆT Nam:
1. Ngoại thương Việt Nam trước Cách mạng tháng tám năm1945:
1.1. Dưới chế độ phong kiến:
Thời phong kiến, nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế nông nghiệp tự
cấp, tù túc, lại thường xuyên xáo trộn bởi nạn ngoại xâm nên không sao có khả
năng chuyển mình lên một sự phân công xã hội cao hơn trong nông nghiệp và
thúc đẩy công nghiệp phát triển một cách mạnh mẽ.
Sản xuất hàng hoá giản đơn và một thị trường trong nước chật hẹp, chia cắt là
đặc điểm nổi bật của ngoại thương Việt Nam thời kỳ này. Do vậy ngoại thương
không có cơ sở kinh tế bên trong thúc đẩy. Ngoại thương hầu như có tính chất bị
động, trao đổi diễn ra giữa một số nước muốn bán sản phẩm công nghiệp của
mình cho Việt Nam và mua hàng hoá thủ công nghiệp cùng sản vật thiên nhiên
không nhỏ và đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu.
2.2. Ngoại thương thời kỳ 1955 – 1975:
Đây là thời kỳ cải tạo và xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá theo CNXH ở
miền Bắc, vừa phải tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Trong thời
kỳ này sự phát triển ngoại thương có thể chia làm hai giai đoạn.
Giai đoạn một là sự mở rộng và phát triển ngoại thương phục vụ công cuộc
khôi phục kinh tế miền Bắc, xây dựng hậu phương vững mạnh bảo đảm cho cuộc
đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Xuất khẩu thời kỳ này tăng
chậm và chỉ dừng lại ở con sè 70- 80 triệu Rúp/năm. Trong kim ngạch nhập khẩu,
tỷ trọng viện trợ không hoàn lại tiếp tục giảm từ 1,3% kim ngạch nhập khẩu năm
1960 xuống còn 0,7% năm 1964. Và cơ cấu hàng xuất khẩu năm 1965 hàng công
nghiệp nặng chiếm 37,5%, công nghiệp nhẹ 32,4%, hàng nông sản 30%. Việc
nhập khẩu tư liệu sản xuất cũng được tăng cường.
Đề án môn học
Giai đoạn hai, đấu tranh phá vỡ âm mưu bao vây và phong toả của kẻ địch
nhằm tranh thủ sự viện trợ của quốc tế duy trì các hoạt động xuất nhập khẩu phục
vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Kinh tế miền Bắc chuyển từ hoà bình
sang chiến tranh, ngoại thương và quan hệ kinh tế với nước ngoài cũng chuyển
theo hướng mới. Nhiệm vụ của ngoại thương khác hẳn giai đoạn trước: chủ yếu
là tranh thủ tối đa sự viện trợ quốc tế phục vụ cho công cuộc kháng chiến chống
Mỹ, kịp thời đưa hàng nhập khẩu về nước nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế,
quốc phòng. Trong giai đoạn này số nước có quan hệ kinh tế thương mại với
nước ta giảm nhiều từ 40 nước (1964) xuống 27 nước (1974). Quan hệ buôn bán
chủ yếu được duy trì với các nước XHCN, nhập khẩu tăng nhanh nhưng xuất
khẩu giảm nhiều, hàng nhập khẩu chủ yếu là thiết bị toàn bộ, máy móc, phương
tiện vận tải, nguyên liệu và hàng tiêu dùng thiết yếu cho quốc phòng.
2.3. Ngoại thương Việt Nam thời kỳ 1976 đến nay:
Giai đoạn từ 1975 – 1985, trong bối cảnh đất nước đã thống nhất, hoạt động
ngoại thương có những thuận lợi mới, đồng thời có những khó khăn mới và đã
đạt được nhiều thành quả bước đầu đáng khích lệ. Kim ngạch xuất khẩu tăng dần
ngạch
XNK
Cán cân
thanh toán
Xuất
khẩu
(TriệuUS
D)
Nhập
khẩu
(Triệu
USD)
Xuất
khẩu
(%)
Nhập
khẩu (%)
(Triệu
USD)
(Triệu
USD)
1986 789 2155 2944 - 1366
1987 854 2455 8,2% 13,9% 3309 - 1601
1988 1038 2756 21,5% 12,3% 3794 -1718
1989 1946 2565 87,5% - 6,9% 4511 - 619
1990 2420 2752 23,4% 7,3% 5154 -350
1991 2020 2274 -15,9% 17,4% 4267 - 254
1992 2475 2535 22,5% 12,8% 5010 40
1993 2985 3532 20,6% - 0,1% 6517 - 547
1994 4054 5250 35,8% 48,6% 9304 - 1196
so với cùng kỳ năm 2002. Năm 2004, tính riêng 9 tháng đầu năm xuất khẩu đạt
19084 triệu USD tăng 27,3% so với năm 2003.
Về nhập khẩu, một số năm có biến động bất thường nhưng nhìn chung liên
tục tăng với tốc độ khá nhanh. Năm 1986 kim ngạch nhập khẩu mới chỉ đạt 2155
triệu USD đến năm 2001 đã tăng lên tới 14300 triệu USD. Từ năm 1991 đến
2000 tốc độ tăng trung bình là 18,5%/năm trong đó có năm tăng cao lên tới
48,6% (năm 1994 so với năm 1993). Kim ngạch nhập khẩu 11 tháng đầu năm
2003 đạt khoảng 22648 triệu USD, vượt kế hoạch cả năm và tăng 28,8% so với
cùng kỳ năm 2002. Đến 9 tháng đầu năm 2004 kim ngạch nhập khẩu đã tăng lên
22472 triệu USD với tốc độ tăng là 21,3%.
Về cán cân thanh toán luôn ở trong tình trạng nhập siêu (trừ năm 1992) tuy
nhiên tốc độ tăng nhập siêu giảm đi nhiều so với giai đoạn 1986-1988 và 1994-
1997.
2. Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu:
Thời kỳ trước năm 1989, trong cơ cấu xuất khẩu chung, hàng nông lâm hải
sản có xu hướng giảm dần; hàng công nghiệp nặng và khoáng sản có xu hướng
tăng dần; hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp không thay đổi. Bắt đầu
từ năm 1989, kim ngạch xuất khẩu của ta đạt trên 1 tỷ USD do trong các mặt
hàng xuất khẩu của Việt Nam đã xuất hiện dầu thô, điều này làm tỷ trọng hàng
Đề án môn học
công nghiệp nặng và khoáng sản lại có chiều hướng tăng lên trong thời kỳ này từ
0,8% năm 1986 lên 15,6% năm 1990.
Đề án môn học
Bảng 2: Tỷ trọng nhóm hàng trong cơ cấu hàng xuất khẩu từ 1986 – 1990
Đơn vị: %
Năm Nhóm hàng
Nông-lâm-hải sản CN nhẹ & tiểu thủ CN CN nặng & khoáng
sản
1986 62,8 28,8 8,0
1987 63,3 30,9 5,8