Hát XoanThen trong đời sống văn hóa của dân tộc Nùng tại Huyện Yên Thế - Pdf 41

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục tiêu
3. Mục đích
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Bố cục của đề tài
Chương 1. PHÁC THẢO DIỆN MẠO VĂN HÓA HUYỆN YÊN
THẾ TỈNH BẮC GIANG
1.1.Đặc điểm vị trí tự nhiên
1.2. Cư dân sinh sống
1.3. Kinh tế xã hội
1.4.1. Nguồn gốc lịch sử của hát Then cua người dân tộc Tày- Nùng
1.4.2. Phong tục tập quán
1.5.1. Cơ cấu tổ chức và thành viên trong sinh hoạt hát Then
1.5.3 Mục đích ca hát và trang phục
Chương 2. PHƯƠNG THỨC TRÌNH DIỄN VÀ TÍNH THỰC HÀNH
XÃ HỘI CỦA HÁT THEN TẠI HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG
2.1.1. Hát then trong nghi lễ phong tục
2.1.2. Nội dung chính cua Hát Then của dân tộc Tày - nùng
2.1.3. Hát Then trong tôn giáo tín ngưỡng
Chương 3. KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN HÁT THEN CỦA DÂN
TỘC TÀY NÙNG HIỆN NAY.
3.1. Một số giải pháp bảo tồn và phát triển hát xoan trong giai đoạn
hiện nay
3.1.1. Những đề xuất kiến nghị
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài sẽ tập chung đi sâu vào nghiên cứu Hát Then– một di sản văn
hóa đặc sắc của dân tộc Nùng tại Huyện Yên Thế được tồn tại và phát triển
trong sinh hoạt văn hóa của dân chúng xưa và nay
Khảo sát thực trạng về hát Then–ở Huyện Yên Thế trong giai đoạn gần
đây
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu khoa học sử dụng những phương pháp sau:
Căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Hệ thống, tổng hợp, phân tích, so sánh, điều tra thu thập tài liệu. Xâm
nhập thực tế.
5. Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài có
cấu trúc gồm 3 chương:
Chương I: Hát XoanThen trong đời sống văn hóa của dân tộc Nùng tại
Huyện Yên Thế
Chương II: Phương thức trình diễn và tính thực hành xã hội
của hát Then
Chương III: Một số giải pháp bảo tồn và phát triển hát Then trong giai
đoạn hiện nay

3


Chương 1
PHÁC THẢO DIỆN MẠO HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG
1.1.

Đặc điểm vị trí tự nhiên


Kinh tế - xã hội

Trải qua bao thế kỉ bao sự đổi thay, Huyện Yên Thế ngày nay với trên
0,6 triệu lao động, hang năm bổ sung gần 5000 lao động có trình độ đại học,
trung học chuyên nghiệp, công nhân kĩ thuật và tốt nghiệp phổ thông trung
học
Yên Thế có hệ thống giao thông đồng bộ gồm cả đường bộ, đường
thủy, chạy suốt chiều dài của tỉnh. Mạng lưới điện phủ gần khắp tỉnh, đủ đáp
ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế -xã hội hiện tại và tương lai. Thông tin liên
lạc đã và đang được hiện đại hóa, thuận tiện cho việc giao lưu thông tin trong
nước và quốc tế.
Bên cạnh những mục tiêu phát triển kinh tế, Huyện Yên thế còn ưu tiên
phát triển văn hóa giáo dục nâng cao trình độ đội ngũ tri thức, nâng cao dân
trí, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, đặc biệt là ở các vùng
nông thôn, miền núi, vùng xa đô thị đưa khoa học kỹ thuật, thông tin vào
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đương nhiên, do nhu cầu
cuộc sống, sẽ nảy sinh đòi hỏi văn hóa cũng phải có bước phát triển đồng bộ
hòa nhập với sự phát triển kinh tế
2.2. Nguồn gốc lịch sử của hát then người dân tộc Tày - Nùng
Hát Then là loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp gồm: ca, nhạc, múa
và diễn trò. Theo người Tày, Then được hiểu là Thiên, chỉ trời. Về nguồn gốc
có nhiều ý kiến khác nhau song đa phần có cùng nhận định: hát Then có xuất
xứ từ Cao Bằng, khi nhà Mạc bị thất sủng. Hầu hết trong các lễ cúng của
người Tày đều có hát Then, hát Then không chỉ đơn thuần là một loại hình âm
nhạc hay diễn xướng dân gian mà có sự gắn kết chặt chẽ với tín
5


gưỡng. Trong cộng đồng Tày, các ông Then, Tào, Pụt, Mo là những
người có khả năng liên hệ với thần linh, tiếp cận với thế giới siêu nhiên, là

2.3. Cơ cấu tổ chức và thành viên trong sinh hoạt hát Then
Khi vui người ta mời then, khi nhà có chuyện mời Then, người có bệnh
mời Then, người hiếm muộn mời Then, Then không thể thiếu trong đời sống
tinh thần và tâm linh của người Tày, nó đã trở thành một trong số tín ngưỡng
đặc thù của cộng đồng tộc người này. Theo quan niệm của người Tày có ba
tầng trời, mỗi Mường đều có người sinh sống, trần sao âm vậy và họ tin khi
tiếng đàn tính cùng lời Then cất lên là lúc các ông Then đang bắt đầu cuộc
hành trình với từng đường Then dẫn quan quân đi khắp ba tầng trời. Trong
tàng Then Thống Đẳm (đưa đười chết về Mường trời), hay Pang Khoăn, Cấp
Sắc, Cầu Hoa…đều thể hiện rất rõ quan niệm ấy. Qua lời Then người nghe có
thể biết được quan quân của Then đã đến đâu trên Mường trời. Lời then cũng
chỉ rõ đặc điểm của từng bản ở Mường Trời nơi quan quân Then đang qua.
Điệu then khi trầm khi bổng, đôi lúc sôi động gấp gáp kết hợp với động tác
mô phỏng cùng tiếng hò reo tạo khí thế quyết tâm của quan quân Then đồng
thời xuất hiện yếu tố thiêng. Đặc biệt là trong Thống Đẳm, điệu hát cùng
động tác lên ngựa hay đánh nhau với thủy quái, vượt Khái… khiến người xem
hồi hộp, nín thở. Khi lên ngựa Then hát rằng: Phạt cờ khửn bưởng lăng tứn
mạ/ Phạt cờ khửn bưởng nả tứn loan (phất cờ về phía sau lên ngựa/ phất cờ
về phía trước xuất quân) đồng thời tay Then mô phỏng theo câu hát. Tiếng
kèn mạy loi, tiếng trống mạy tảng reo lên, rồi cứ thế đoàn quan quân Then đi
hết từ pá nhả khâm thai đét (bãi trà may chết nắng), rồi pá nhả lẹp thai
mươi (bãi rau hẹ chết sương), đến ruộng rồi đến các bản trong Mường trời.
Lời then cứ thế thủ thỉ, sôi động rồi lại trầm buồn, ngẫm ngợi. Mỗi bản một
tâm trạng, một sắc thái, không khí. Có khi căng thẳng lo lắng, có lúc hồ hởi
vui tươi, tiếng đàn tiếng hát quyện với nhau hư ảo, tiếng xáu mạ rộn vang đưa
7


Then dần vào trạng thái tự thôi miên kiểu Shaman giáo của người Tungus ở
vùng Sibiri của Nga. Toàn bộ cuộc hành trình đưa linh hồn người chết về

với ca từ và âm nhạc rất hấp dẫn. Hát Then không phải chỉ là diễn xướng dân
gian đơn thuần, mà hoàn toàn mang phong cách bác học. Hát Then bao giờ
cũng được hát với đầy đủ nghi lễ và tổ chức ở nơi trang trọng nhất trong gia
đình, đó là gian nhà ở trước bàn thờ tổ tiên. Người hát Then bao giờ cũng hát
từng chương, từng khúc theo một trình tự và bài bản nhất định như trong sách.
Một cuộc hát Then có thể chỉ dài một đêm nhưng cũng có thể dài tới mấy
ngày đêm, thời gian dài hay ngắn tuỳ theo mục đích của đêm hát Then và yêu
cầu của gia chủ.
Có thể ví hát Then như là một bộ trường ca khổng lồ, trong bộ trường
ca khổng lồ ấy bao gồm có nhiều trường ca nhỏ. Trong mỗi trường ca nhỏ lại
được chia ra thành các chương, các đoạn và mỗi chương đoạn đều có cách hát
khác nhau, sự hấp dẫn cũng khác nhau.
Hát Then thực sự đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố nghệ thuật
diễn xướng dân gian và nghệ thuật bác học. Qua Then, cho thấy sinh hoạt văn
hoá tâm linh của người Tày đã đạt đến đỉnh cao.
Phần lời của hát Then mang đậm chất văn học. Nếu tách phần lời ra
khỏi nhạc thì đó sẽ là những trường ca dài khác nhau.
Hát Then đã từng có thời kỳ bị nhà nước coi là mê tín dị đoan, còn
những người hát Then bị cho là những kẻ gieo rắc u mê cho dân chúng, nên
họ bị cưỡng ép đến các "trại cải tạo" (thực tế là nhà tù) để học tập cho tiến bộ.
Sau đó từng người còn phải viết cam kết với chính quyền từ nay trở đi sẽ
không bao giờ hát Then nữa. Những đợt giam giữ và cải tạo có khi đến một
vài tháng nhưng sau khi được thả trở về nhà người ta vẫn lại cứ hát Then.

9


Hát Then rất nhân văn, phần ca từ của hát Then có giá trị về mặt văn
học rất cao. Ví dụ, như trường ca Khảm hải (Vượt biển) dài 650 câu đã được
đưa vào giảng dạy ở trong nhà trường.

Pác Bó của Nguyễn Tài Tuệ; Việt Bắc nhớ Bác Hồ, Suối Lê - nin của Phạm
Tuyên; Ca ngợi đảng cộng sản Việt Nam của Đỗ Minh...
Hát Then của người Tày- Nùng trong những năm qua đã phải trải biết
bao thăng trầm. Còn hôm nay, hát Then đang trên đường dần khôi phục và
tiếp tục phát triển. Các cuộc liên hoan hát Then đã góp phần tiếp sức cho
Then đi vào quần chúng và phát triển mạnh mẽ hơn.

11


CHƯƠNG 2
PHƯƠNG THỨC TRÌNH DIỄN VÀ TÍNH THỰC HÀNH XÃ HỘI
CỦA HÁT THEN TẠI HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG
2.1. Hát then trong nghi lễ phong tục
Mùa xuân gắn với những làn điệu dân ca mượt mà đằm thắm, dân ca,
dân vũ của đồng bào dân tộc Tày, Nùng tỉnh Bắc Giang cũng mang trong
mình những nét văn hoá độc đáo, mang bản sắc riêng. So với các dân tộc ít
người ở Bắc Giang, người Tày và người Nùng có dân số đông hơn, người
Nùng khoảng 67.000 người, người Tày xấp xỉ 38.000 người. Vào những năm
đầu của thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, người Tày, Nùng di cư từ Bắc Kạn, Thái
Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh đến Bắc Giang, tập trung ở 5 huyện: Yên
Thế, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động. Họ sống và định cư độc
lập ở các làng bản riêng và có truyền thống văn hóa, phong tục tập quán riêng.
Bản sắc văn hoá âý trải qua nhiều bước thăng trầm vẫn tồn tại trong đời sống
văn hoá tinh thần của người Tày, người Nùng đến ngày nay. Đặc biệt những
làn điệu dân ca được bảo tồn và phát huy rất tốt như Soong hao, Sli, Lượn,
Then...
Then là hình thức sinh hoạt văn hoá tâm linh có từ lâu đời, và đã trở
thành nét đẹp văn hoá truyền thống của người Tày, Nùng.Với những nét độc
đáo riêng đó là sự kết hợp hài hoà giữa chất thiêng và chất văn nghệ. Có thể

Hát then phải có đàn tính, nếu không "nó như bát cơm thiếu muối",
tiếng hát không có hồn, không bay cao, vang xa. Khi kết hợp giữa đàn tính
với chùm xóc nhạc đeo vào ngón chân cái, phối hợp nhịp nhàng cùng giai
điệu trầm bổng sẽ tạo nên một không gian đầy sức mê hoặc.
Phải xem và nghe then mới thấy phục những người hát then làm lễ.
Giống như một diễn viên phải thể hiện nhiều vai cùng lúc, người được gọi là
ông then, bà then miệng vừa hát theo những giai điệu biến chuyển linh hoạt,
13


mặt vừa diễn theo những cung bậc cảm xúc, tay múa lúc chậm lúc nhanh,
chân đi nhạc ngựa lúc khoan lúc nhặt, thỉnh thoảng lại diễn tả những động tác
cưỡi ngựa, phất quạt, nhai chén…
Vì thế, những thầy then, đặc biệt là những thầy đã đạt đủ 13 quai thang bậc cao nhất của những người biết hát then làm lễ luôn được dân làng
tin tưởng, kính trọng. NSƯT người Nùng - Triệu Thủy Tiên (nguyên Trưởng
đoàn Văn công Băc Giang ), chia sẻ: "Thầy then là những người hát hay, đàn
giỏi, lịch lãm, am hiểu văn hóa bản địa".
Nếu then Tày có hai dòng nam và nữ, thầy then vừa gảy đàn vừa hát kết
hợp chùm xóc nhạc đeo ở ngón chân cái đệm thì then Nùng lại do phụ nữ đảm
nhận không phân biệt hai dòng. Then của người Thái trắng tương tự then
Nùng, khi hành lễ, bà then tự đàn hát có người phụ giúp xóc nhạc đi cùng.
Như cây đa nhiều cành, nhiều rễ lan tỏa khắp nơi, ở đâu có dân tộc Tày,
Nùng, Thái thì ở đó có hát then. Khi tiếng hát cất lên, người ta nhận ra đó là
then ở tỉnh nào, huyện nào. Ở mỗi vùng, làn điệu then lại có những nét độc
đáo riêng: Then Lạng Sơn tha thiết, đằm thắm; then Tuyên Quang dồn dập,
mạnh mẽ như thúc quân ra trận; then Hà Giang nhấn nhá từng tiếng một, dìu
dặt, ân tình; then Bắc Kạn thì thủ thỉ, tâm tình...
Là loại hình diễn xướng tổng hợp được thể hiện trong không gian nghi
lễ nhuốm màu sắc tâm linh, thần thoại nhưng kỳ thực, những lời ca then lại sử
dụng ngôn từ tượng hình, tượng thanh, lối so sánh, ví von phong phú, vô cùng

đêm là tuỳ vào việc xem ngày tốt, giờ tốt.
Để tiếp tục bảo tồn và phát huy những nét đẹp văn hóa của các dân tộc
ít người, tỉnh Bắc Giang đã xây dựng đề án phát triển phong trào hát Then.
Theo đó, toàn bộ những xã có bà con dân tộc Tày, Nùng sinh sống đều được
chọn để thành lập một đội văn nghệ quần chúng. Sở Văn hóa - Thể thao và
Du lịch đã mở các lớp học hát Then, góp phần khơi dậy phong trào hát Then
15


trong thế hệ trẻ. Hiện nay, phong trào hát then, đàn tính cũng đang được phục
hồi và phát huy, nhất là loại hình đặt lời mới cho hát Then như ở Tân Sơn
(Lục Ngạn), Hữu Sản, Vĩnh Khương (Sơn Động), Hương Sơn (Lạng Giang),
Vô Tranh (Lục Nam), Canh Nâụ (Yên Thế)... Với giá trị nghệ thuật độc đáo,
hát Then, đàn tính đã ngày càng khẳng định sức sống, sức truyền cảm của
mình, góp phần vào tinh hoa của di sản văn hoá dân tộc.
Hiện nay, sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Giang đang tiếp tục
nghiên cứu về hát Then- đàn tính ở các làng bản, tăng cường công tác tuyên
truyền làm cho mọi người hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về loại hình di sản văn
hoá phi vật thể này. Làm tốt công tác nghiên cứu, chúng ta sẽ có cách nhìn
nhận đánh giá đúng thực trạng về quy trình hình thành, giữ gìn, trao truyền,
tiếp tục sáng tạo kho tàng then ở mỗi làng, mối bản. Từ đó có ứng xử đúng
đắn với loại hình di sản văn hoá này.Và mới đây, UBND tỉnh Bắc Giang đã ra
Quyết định ( số 364/QĐ-UBND) thành lập Hội đồng thẩm định Hồ sơ khoa
học di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Bắc Giang đề nghị Bộ VHTT&DL đưa vào
danh mục các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trong đó có nghi lễ hát
Then. Và nhằm mục đích tiến tới quá trình lập hồ sơ trình Unesco công nhận
hát Then, đàn tính là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
2.3. Hát Then trong tôn giáo và tín ngưỡng
Ở khía cạnh tôn giáo, tín ngưỡng, Then là nghi lễ có khả năng chữa
bệnh, gắn chặt với đời sống tâm linh của cộng đồng. Ở khía cạnh nghệ thuật,

đang đứng trước nguy cơ mai một. Để bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật
của hát Then, các nhà nghiên cứu, các tỉnh có đồng bào dân tộc Tày, Nùng,
Thái sinh sống đã có những hành động tích cực và cụ thể góp phần bảo tồn
nghệ thuật này. Được biết đến là một di sản văn hóa – nghệ thuật truyền thống
độc đáo của các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở các tỉnh miền núi phía bắc như
Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, Lạng Sơn BẮc Giang… then được lưu giữ,
phát triển thành một không gian văn hóa hát then – đàn tính hết sức đồ sộ về
khối lượng, phong phú về thể loại, đa dạng về hình thức biểu diễn. Trải qua
nhiều năm, một số đồng bào người dân tộc ở phía bắc đã di cư đến phía Nam
sinh sống và mang theo loại hình này vì vậy hiện nay ở một số tỉnh phía nam
cũng thấy xuất hiện nghệ thuật hát then.
Vốn không chỉ đơn thuần là một loại hình nghệ thuật diễn xướng, hát
then còn là một hình thức tín ngưỡng lâu đời của người đồng bào dân tộc.
Truyền thuyết kể rằng: Nhà Mường Then có 22 vạn gian nhà, nhà Then rộng
mở khang trang, tha hồ cho đôi con Rồng đùa nhau bay lượn khắp các gian
nhà Then, đàn voi, đàn ngựa có thể chạy nước đại trên sân nhà Then. Nhà
Mường Then cái gì cũng đẹp vì vậy người trần muốn đến được nhà Mường
Then để ngắm phong cảnh và cầu xin cho con người ai ai cũng được khỏe
mạnh, xinh đẹp, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt...

18


Chính vì hát then gắn với tín ngưỡng của đồng bào dân tộc nên loại
hình nghệ thuật này đươc lưu giữ và truyền lại cho biết bao thế hệ. Tuy nhiên
trên thực tế hiện nay, cũng như nhiều loại hình văn hóa phi vật thể khác, hát
then đang đứng trước nguy cơ mại một trong xã hội phát triển. Lý do là bởi
lớp nghệ nhân đã quá già, thiếu những thế hệ kế cận, bên cạnh đó không gian
diễn xướng cho loại hình nghệ thuật này cũng đang mất dần trong cơn lốc đô
thị hóa. Để bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật của hát Then những năm

điệu Then cho thế hệ trẻ và đào tạo người kế nghiệp. Không ai có thể thay các
nghệ nhân đào tạo người kế nghiệp mà phải do chính các nghệ nhân đảm
nhiệm. Đồng thời, hàng năm các địa phương cần tổ chức hội nghị tôn vinh
các nghệ nhân, hạt nhân văn hóa dân gian để động viên, cổ vũ những người
có đóng góp tích cực đối với đời sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Nhạc sĩ
Lương Nguyên, người từng làm Tổng đạo diễn Liên hoan hát Then – đàn
Tính thì lại cho rằng: Muốn bảo tồn hát Then phải để cho nó được sống trong
cộng đồng. Cơ quan quản lý nhà nước chỉ giữ vai trò định hướng chứ không
thể làm thay…
Sắp tới đây, Liên hoan nghệ thuật Hát Then, đàn Tính toàn quốc lần thứ
IV tại tỉnh Lạng Sơn, năm 2012 sẽ được tổ chức từ ngày 02 tháng 11 đến
ngày 06 tháng 11. Liên hoan không chỉ là cơ hội giao lưu giữa các tỉnh có
nghệ thuật hát then, đàn tính, giới thiệu loại hình nghệ thuật đến với đông đảo
công chúng mà còn là một hành động thiết thực trong công tác bảo tồn, phát
huy giá trị nghệ thuật của di sản văn hóa này
3.1.1. Để hát Then còn lưu truyền mãi muôn đời
Có lẽ chính vì thế mà Hội thảo “Bảo tồn và phát huy hát Then, đàn
Tính trong giai đoạn hiện nay” đã trở thành một trong những điểm nhấn quan
trọng của Liên hoan hát Then, đàn Tính lần thứ 4, diễn ra tại Lạng Sơn từ
ngày 2-6/11/2012. Tại Hội thảo này, các chuyên gia, nhà quản lý về văn hóa
20


đã đóng góp rất nhiều ý kiến nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu để bảo tồn
và phát triển môn nghệ thuật đặc sắc này.
Bàn về thực trạng của hát Then trong giai đoạn hiện nay, hầu hết các
chuyên gia đều khẳng định: Hát Then là một di sản văn hóa – nghệ thuật
truyền thống độc đáo của các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở các tỉnh miền núi
phía Bắc như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, Lạng Sơn… Then được lưu giữ,
phát triển thành một không gian văn hóa hát Then, đàn Tính hết sức đồ sộ về

Tính, thì hiện các nghệ nhân còn nắm giữ bí quyết Then cổ cũng vẻn vẹn chỉ
có hai cụ cao tuổi. Một cụ năm nay đã 90 tuổi, có thể ra đi bất cứ lúc nào và
một cụ thì cũng đã ở tuổi 73. Không những thế, hiện nay hát Then hầu hết
được đặt lời mới cho phù hợp với giới trẻ. Vì vậy, Then cổ đã được cải biên
đi rất nhiều...
Để việc bảo tồn và phát triển hát Then đạt hiệu quả, các chuyên gia
là những giáo sư nghiên cứu về văn hóa dân tộc và các nhà quản lý là giám
đốc các Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch các tỉnh đều cho rằng, vấn đề tiên
quyết là phải cần có chính sách đãi ngộ nghệ nhân hát Then hợp lý, không chỉ
mang tính chất khuyến khích mà còn phải xem đó như là yếu tố chính để
“hút” giới trẻ tham gia vào việc lưu giữ, bảo tồn và phát triển loại hình nghệ
thuật này.
Theo TS.Trần Hữu Sơn - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Lào Cai, với chính sách hiện nay, các nghệ nhân - những “báu vật sống” - mới
chỉ được quan tâm, coi trọng về mặt tinh thần mang tính chất động viên, cổ vũ
chứ chúng ta chưa quan tâm, đầu tư vật chất, dành một phần kinh phí thỏa
đáng để hỗ trợ cho các nghệ nhân truyền dạy làn điệu Then cho thế hệ trẻ và
đào tạo người kế nghiệp.
Ở một góc nhìn khác, theo PGS.TS Lê Văn Toàn, Viện trưởng Viện
Âm nhạc Việt Nam, để bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát Then, bên cạnh
22


việc cần phải xây dựng cơ chế chính sách, chế độ đãi ngộ hợp lý đối với các
nghệ nhân - "báu vật sống” đang lưu giữ kho tàng nghệ thuật cổ quý giá thì
các cơ quan cũng phải tiến hành kiểm kê, thống kê tư liệu, tài liệu một cách
nghiêm túc, tỉ mỉ di sản văn hóa hát Then từ quá khứ đến hiện tại ở các địa
phương, từ đó mới đưa ra được các biện pháp bảo tồn cụ thể và hữu hiệu. Và,
một trong những vấn đề quan trọng không kém khi bảo tồn và phát triển nghệ
thuật hát Then là phải phát huy được ý thức tự giác và sự trân trọng với di sản

với chùm xóc nhạc đeo vào ngón chân cái, phối hợp nhịp nhàng cùng giai
điệu trầm bổng sẽ tạo nên một không gian đầy sức mê hoặc.
Phải xem và nghe then mới thấy phục những người hát then làm lễ.
Giống như một diễn viên phải thể hiện nhiều vai cùng lúc, người được gọi là
ông then, bà then miệng vừa hát theo những giai điệu biến chuyển linh hoạt,
mặt vừa diễn theo những cung bậc cảm xúc, tay múa lúc chậm lúc nhanh,

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status