Đề bài: Tìm hiểu văn hoá gia đình truyền thống người Tày ở xã Mậu Duệ,
huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang?
BÀI LÀM:
I.
GIỚI THIỆU TỘC NGƯỜI
Dân tộc Tày là cư dân bản địa sống lâu đời trên đất nước Việt Nam. Họ
cùng với cư dân Tày – Thái khác là một trong những chủ nhân đầu tiên lập nên
nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, nhà nước Âu Lạc của Thục Phán An
Dương Vương trên cơ sở hợp nhất hai bộ lạc chủ yếu của thời bấy giờ là Âu Lạc
và Lạc Việt. Theo đó ngay từ thời bình minh của lịch sử dân tộc, dân tộc Tày đã
là một thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là trong những dân
tộc hình thành sớm. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử họ luôn phải thường xuyên
đấu tranh với thiên nhiên và chống lại sự xâm lược, đồng hoá của phong kiến
phương bắc để tồn tại đến ngày nay(1).
Ở Hà Giang theo các tài liệu lịch sử, khảo cổ học từ trước năm 1945 đến
nay đã phát hiện những vật từ thời đồ đá cũ cho tới thời đại đồ đồng, đồ sắt, báo
hiệu từ xa xưa con người đã sinh sống trên đất Hà Giang. Các cư dân cổ mà hậu
duệ của họ là đồng bào các dân tộc Hà Giang, trong đó có cư dân Tày. Theo đó
người Tày đã ở đây 700 – 800 năm(2).
II. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA VĂN HOÁ GIA ĐÌNH TRUYỀN
THỐNG
Nhận thấy việc tìm hiểu văn hoá gia đình truyền thống của một tộc người là
một chủ đề lớn, người viết đã chọn một nét văn hoá trong truyền thống trong gia
đình người Tày ở xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang, đó là “tết cá”
của người Tày. Để thông qua đó có thể giới thiệu một phần nào về gia đình
truyền thống của người Tày nơi đây.
Người viết chọn đề bài này là vì đây là địa bàn mà người viết sinh sống, và
nhận thấy “tết cá” là một nét văn hoá đặc trưng của người Tày.
cư dân Tày nhà nào cũng có đủ cơm để ăn, không phải lên rừng đào những củ
sắn, củ mài. “Tết cá” được tổ chức cũng là để tưởng nhớ đến công lao người đã
mang tới cho cư dân Tày nơi đây nghề trồng lúa nước. Bên cạnh nhu cầu thoả
mãn nhu cầu về đời sống tâm linh, đây cũng là dịp trẻ con trong làng, bản được
bố mẹ sắm cho những bộ quần áo mới để đi chơi với chúng bạn; là dịp để thanh
niên trai gái có cơ hội tìm hiểu nhau. Đồng thời cũng là dịp để anh em dòng họ
có cơ hội gặp nhau, uống với nhau chén rượu, ăn các món cá và kể cho nhau
nghe những chuyện làng nước, những kinh nghiệm sản xuất, chuyện đi săn…
những khó khăn vất vả trong cuộc sống từ đó hiểu nhau hơn, đoàn kết giúp đỡ
nhau cùng tiến bộ.
2. Miêu tả “tết cá’’
a. Khâu chuẩn bị các món
Hàng năm cứ đến ngày 9 / 9 những gia đình người Tày ở xã Mậu Duệ,
huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang dù giàu hay nghèo cũng phải có một bưa cơm,
cá tươm tất để mời anh em dòng họ.
Cá được người dân tháo và bắt ở ruộng về từ ngày mùng 7 hoặc muộn nhất
là sang mùng 8. Không khí ngày tết bắt đầu khi cá được bắt về. Trẻ con được bố
mẹ chuận bị đồ chơi tết rất đặc biệt, họ bắt những con cá nhỏ, xâu dây vào
miệng, làm những bè nhỏ bằng cây chít rồi buộc cá vào. Sau đó được lũ trẻ
mang xuống thả ở những dòng suối nhỏ quanh bản làng, chúng thi xem con nào
kéo khoẻ hơn, sau khi chơi xong chúng lại mang những con cá này về đưa bố
mẹ nướng cho ăn, theo quan niệm của họ những con cá kéo bè khoẻ mang
nướng cho trẻ con ăn nó sẽ khoẻ người và hay ăn chóng lớn.
Các món được chế biến xong chiều mùng 8 bắt buộc phải nấu chín vài món
vào buổi chiều hôm đó để cúng. Trưa mùng 9 cúng lại lần nữa rồi mới mời
khách, những người đàn ông chỉ có nhiệm vụ là mang cá từ ruộng về, công việc
mổ cá bắt buộc phải là mẹ chồng hoặc con dâu, cá phải được mổ dưới bàn thờ tổ
tiên, trong khi mổ cá tuyệt đối không được nói chuyện, không cho ai được nhòm
b. Tiến hành
Ngày mùng 9 là ngày chính của “tết cá”, hầu như tất cả các gia đình người
Tày thường ăn tết bắt đầu từ trưa. Sau khi các món ăn được chế biến xong,
trước bữa ăn bao giờ cũng phải làm lễ cúng, người cúng là người đàn ông trụ cột
trong gia đình, các món cúng bao giờ cũng có 2 món chính là cá nướng lá gừng
(pẻ pình) và cá nấu canh măng chua (pẻ moọc). Trong khi người đàn ông cúng
thì người phụ nữ lớn tuổi, có vai vế trong gia đình đi mời khách, khách được
mời là anh em họ hàng xung quanh. Người Tày ngày tết có phong tục là mỗi gia
đình khi được mời phải cử một thành viên đi ăn, người Tày gọi là ăn “đổi công”,
người đi thường là người đàn ông biết uống rượu. Nếu gia đình được mời không
có thành viên đi, sẽ bị xem là coi thường gia đình người mời và tuyệt nhiên họ
cũng không đến gia đình đó chơi trong ngày tết.
Mỗi gia đình, dòng họ có cách xưng họ khi mời tổ tiên về ăn tết khác nhau.
Nhưng nội dung bài cúng trong “tết cá” hoàn toàn giống nhau.
Nội dung bài cúng:
Lấu khẩu pí hẩy chạ
Mạ tam thể hẩy na
Hắp xoỏng phải, hải long lụa
Hắp long lụa liệu chái
Hắp long phai liệu quạ.
Bươn chết khẩu khựn băng
Bươn bẹt khẩu rặng mán
Khẩu thúc khẩu lon khẩu dảo
Khẩu hạo bẩu lon khẩu sáng
Rẹp rủa củng rủa cảng bây tán.
Cán rủa kỉn rủa ngấn bây rọi
Rọi ma dam dúa, púa ma dăm giang
Thấng khoong lang bầu đả má
Lúa đều chín đầu xã
Lúa chín không tự vào nhà, thóc khô không chịu vào bồ
Cái nẹp đi hái lúa
Đòn đầu vàng, đầu bạc đi gánh về rong rong
Đỡ về nhà, đến đầu thang không đuổi chó
Đến đầu thang không chửi con
Để gác bếp cho khô, lấy xuống loỏng để giã
Giã thành hạt gạo, giã gạo cũng được trắng
Nẹp cây nứa xẩy chấu ra
Xẩy cái thóc cái vỏ nó đi, lấy gạo nó để
Cưỡi ngựa đi tìm ngày làng trên
Chèo thuyền đi tìm ngày lang dưới
Được mười ngày này tốt, được mười ngày này hay
Mới đi thả ruộng cá, mới đi thả ao to
Nướng cá cũng được khô, kho cá cũng được chín
Bầy ra mâm nhấc ra ngoài
Trai đẹp bầy mâm cỗ không chọn, con trai bầy mâm cỗ không chê
Chiếu ở trên mâm ở dưới
Người đưa về để dưới bàn thờ
Nước cháng miệng có người đưa
Ông làm thày về đến mời
Mời ông tổ tiên ăn sôi cúng
Mời ông ăn cá khô, mời ông ăn cá nấu măng chua
Mời ông bà ăn cá khô tôi làm ngon
Mời ông bà uống no, cho ông bà uống đủ
Ông bà đỡ con cháu
Đỡ con đường xa, dắt cháu đi đương vắng
Đỡ cả nhà tôi được bình an.
Xin cảm ơn gia chủ trong nhà
Quan lang tôi được về mừng quá
Mọi người mắt sáng quắc như sao
Người đến giúp biết bao vất vả
Vừa bưng mâm vừa lại chào mời
Lời ngọt mặt tươi cười trí lý
Giọng cao thấp hết ý thiết tha
Chào mời vui rượu chè thong thả
Bọn tôi mừng ơn quá bữa này
Chúc gia chủ gặp may khoái lạc
Cửa nhà có phượng hạc đến chầu
Đời nào có người hầu người hạ
Sung sướng như gia phả đế vương
Phú quý thêm chức luông quyền lớn
Quan làng có ý muốn lời hay
Chúc gia chủ gặp may mạnh khoẻ
Quan làng phiền gia chủ quá no.
Sau khi nhận được lời chúc của khách gia chủ cũng không quên chúc lại.
Có một điều rất đặc biệt,trong ngày tết khi ăn xong người Tày không bao giờ
dọn mâm, mà để nguyên vị trí, họ cho rằng người trần ăn no thì đứng dậy nhưng
họ có suy nghĩ người âm vẫn đang ngồi ăn nên họ không dọn.Vẫn mâm cơm đó
nếu có khách vào nhà chơi họ sẽ lấy bát đũa mới, bổ xung thêm thức ăn mới và
tiếp tục ngồi uống rượu.
c. Kết thúc
“Tết cá” bắt đầu từ trưa mùng 9 và kết thúc vào buổi tối cùng ngày.
“Tết cá” chỉ cúng một lần vào chiều ngày mùng 8 và buổi trưa ngày mùng
9. Người Tày chỉ thắp hương khi cúng tổ tiên chứ không thắp hương suốt cả
dâu; cá phải được mổ dưới bàn thờ, kín đáo thì ngày nay những nghi lễ đó đã
mất đi, việc mổ cá ai mổ cũng được, không có sự phân biệt về giới tính.
Việc thực hiện các nghi lễ tâm linh không bắt buộc phải là người đàn ông
trong gia đình, mà có thể là người phụ nữ. Điều này cũng thể hiện sự bình đẳng
trong đời sống tâm linh của đồng bào Tày, sự thay đổi này cũng do những người
đàn ông phải đi làm xa, chạy theo nền kinh tế thị trường, người phụ nữ trở thành
những trụ cột trong gia đình, chăm lo quán xuyến gia đình, từ việc nhỏ tới việc
lớn.
Các nghi lễ cúng trong “tết cá” cũng đơn giản hơn. Ngày nay, họ chỉ cúng
một lần vào trưa mùng 9 ( trong truyền thống cúng một lần vào tối mùng 8, một
lần vào trưa mùng 9).
Hiện nay chỉ có một số ít những gia đình người Tày là biết làm nghi lễ
cúng, còn hầu hết chỉ bày mâm, đặt trước bàn thờ tổ tiên, thắp hết một tuần
hương là coi như đã mời tổ tiên về ăn tết cùng con cháu, do hầu hết hiện nay là
những gia đình trẻ không biết những bài cúng truyền thống của dân tộc mình.
2. Nguyên nhân của sự biến đổi
a. Nguyên nhân chủ quan
Do các thế hệ sau chưa ý thức được về việc giữ gìn nét văn hoá truyền
thống của dân tộc mình
Do việc chuyển cư tới các vùng đất khác, điều đó cũng ảnh hưởng không
nhỏ tới việc làm loãng đi nét văn hoá truyền thống bản địa.
b. Nguyên nhân khách quan
Do có sự di cư của người Kinh (Việt) ở miền xuôi tới đây khai hoang vùng
đất mới, đồng bào nơi đây cũng bị chi phối rất nhiều về đời sống kinh tế cũng
như đời sống văn hoá tinh thần.
Xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang là một xã có 12 dân tộc cùng
sinh sống nên cũng không tránh khỏi được sự giao thoa văn hoá từ các dân tộc
khác.
Có Mậu Duệ gạo trăng nước trong
Quê hương ta ngày nay đổi mới
Ơn Bác Hồ chỉ lối dẫn đường.
“Tết cá” hiện nay diễn ra đơn giản nên cũng giảm được chi phí, tiết kiệm
được thời gian.
Các món ăn trong “tết cá’’ không chỉ đơn thuần là cá mà còn nhiều món ăn
khác tạo sự đa dạng trong các món ăn.
Sự thay đổi trong các nghi lễ cúng tổ tiên cũng đánh dấu một bước ngoặt
lớn về vai trò của người phụ nữ, không chỉ người đàn ông mới được thực hiện
nghi lễ thờ cúng tổ tiên mà những người phụ nữ cũng có thể thực hiện nghi lễ
này. Điều này dần thể hiện sự bình đẳng giữa nam và nữ trong đời sống tâm linh.
b. Tiêu cực
Sự biến đổi trong các nghi lễ truyền thống của dân tộc Tày ở xã Mậu Duệ,
huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang nói riêng cũng như các dân tộc trên lãnh thổ
Việt Nam nói chung nó làm mất đi nét văn hoá truyền thống của mỗi tộc người,
dễ bị đồng hoá về văn hoá.
Những biến đổi nó đã làm cho “tết cá” không còn giữ được những nét đặc
sắc trong truyền thống, điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn tới công tác gìn giữ nét văn
hoá truyền thống này của đồng bào Tày. Những thế hệ con cháu của họ sẽ không
được biết tới nét đẹp trong phong tục truyền thống của dân tộc mình.
4. Một số kiến nghị và giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những nét
đẹp trong “tết cá”
a. Một số kiến nghị
Đảng và nhà nước, các cấp chính quyền cần có những chính sách quan tâm
hơn nữa đến các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số ở Hà
Giang nói riêng.
“Tết cá” của người Tày xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang là
một nét đẹp văn hoá truyền thống bản địa lâu đời cần được sự quan tâm đúng
cuộc sống đồng thời là động lực phát triển của xã hội miền núi trong điều kiện
kinh tế thị trường.
“Tết cá” của người Tày nơi đây là một nét bản sắc sinh hoạt riêng của cư
dân nông nghiệp, trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, vòng xoáy của
một xã hội CNH-HĐH, những nét văn hoá bản sắc vốn là sức đề kháng để nó
tồn tại một cách yếu ớt tới ngày nay đang dần mất đi, việc giữ gìn và phát huy
những cái vốn có đó, không phải là nhiệm vụ của một cá nhân hay một tổ chức
xã hội mà là của cả cộng đồng.
Cá nhân em là một sinh viên khoa văn hoá dân tộc – thiểu số, là con em
đồng bào dân tộc thiểu số Hà Giang. Hơn bao giờ hết em luôn ý thức được việc
giữ gìn truyền thống văn hoá của dân tộc mình là rất quan trọng. Em luôn gắng
sức trau rồi kiến thức, rèn luyện tu dưỡng về đạo đức để khi ra trường trở thành
người có ích cho xã hội, trở thành một chiến sỹ văn hoá, ra sức tuyên truyền về
giữ gìn truyền thống văn hoá tộc người.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
Viện dân tộc học, Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam, NXB khoa học xã hội,
Hà Nội¸1992.
Các dân tộc tỉnh Hà Giang
Tài liệu trong thực tế do người viết tự thu thập tại địa phương.