tìm hiểu vai trò sinh kế của sản xuất rau ở xã quảng thành – huyện quảng điền – tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1.ĐẶT VẤN ĐỀ
Sản xuất rau là một bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu sản xuất nông
nghiệp, là yếu tố để chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp nông thôn nước ta hiện
nay. Rau được xem là cây công nghiệp ngắn ngày, rất thuận lợi cho việc bố trí thời vụ,
thâm canh, xen canh, gối vụ với các cây trồng khác nhằm tăng năng xuất trên cùng
một diện tích canh tác. Vì vậy cây rau mang lại hiệu quả KT khá cao trong sản xuất
nông nghiệp. Và nhiều vùng ở trong nước ta đã tiến hành đưa cây rau vào sản xuất
góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà
Lạt…
Trong hoạt động sinh kế của người dân, đặc biệt là người dân nông thôn khi mà
trình độ sản xuất của người dân còn hạn chế, trong khi đó lực lượng lao động trong gia
đình thì dư thừa, để cải thiên cuộc sống của gia đình mình cũng như góp phần làm
tăng thu nhập cho nông hộ, cải thiện điều kiện sống trong gia đình chỉ với một khoản
đầu tư thấp trong hoạt động sản xuất. Chính vì thế mà hoạt động sinh kế trồng rau
trong nông hộ những năm gần đây phát triển mạnh, góp phần quan trọng trong hoạt
động xóa đói giảm nghèo mà chính phủ và nhà nước ta đang quan tâm đến.
Để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho cơ thể con người thì rau xanh
là loại thực phẩm không thể thiếu được trong các bữa ăn. Rau quả qua chế biến góp
phần tăng khẩu vị và tăng tính hấp dẫn đối với người ăn. Bởi trong rau có nhiều
Vitamin, các yếu tố vi lượng, các enzim có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của
cơ thể con người. Bên cạnh đó khi mà đời sống XH ngày càng cao thì nhu cầu về rau
cũng như các loại nông sản khác đều tăng lên không chỉ về số lượng mà còn về chất
lượng.
Thành phố Huế là trung tâm tỉnh lỵ, trung tâm giao dịch thương mại của Thừa
Thiên Huế. Theo định hướng phát triển KT - XH của thành phố Huế thời kì 2005 –
20010: “Chuyển dịch KT mạnh mẽ KT nông nghiệp theo hướng sản xuất nông sản
hàng hóa có giá trị KT cao theo hướng cơ cấu KT đô thị…”.Chuyển đổi cơ cấu cây
trồng vật nuôi, mở rộng ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp-du lich-thương
mại trong nông thôn, nhằm phục vụ cho du lịch. Ngoài ra cùng với sự phát triển của

2.1.1. Sinh kế (Livelihood)
• Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai
hay phương kế kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó
Khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và
khả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt
động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước
nguyện (tham vọng) của họ
Nếu diễn đạt bằng sơ đồ thì nó sẽ có dạng như sau
(Nguồn: Bùi Đình Toái, 2007)
Một kế sinh nhai được gọi là bền vững khi con người với khả năng của mình có
thể đối phó, phục hồi lại được sinh kế của mình sau các áp lực và những tổn thương
(từ các cú SỐC, từ các khuynh hướng và từ thay đổi của kỳ - vụ) và đồng thời có thể
duy trì hoặc thậm chí nâng cao khả năng nguồn lực con người và thiên nhiên
3
Nguồn
lực

khả năng
Các
Quyết
định
Kiếm sống
Mục tiêu
và kỳ
vọng khác
Nguồn lực
sinh kế
Chiến lược sinh kế Mục tiêu
sinh kế
Các

quả của
SKBV
-
-
-
-
-
-
-
-

- Vốn tự nhiên: Là cơ sở các nguồn lực tự nhiên (của 1 hộ, của 1 cộng đồng)
mà con người trông cậy vào để sử dụng vào mục đích sinh kế như đất đai, nguồn
nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng
- Vốn xã hội: Được đề cập tới là mạng lưới và mối quan hệ XH, các tổ chức
XH, các nhóm chính thức hay bán chính thức, chính phủ hay phi chính phủ mà con
người tham gia và từ đó tạo ra khả năng, các cơ hội phục vụ sinh kế của gia đình hoặc
của cộng đồng
- Vốn tài chính: Là nguồn lực tài chính mà con người có được như: nguồn thu
nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, bổng, nguồn hỗ
trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng
- Vốn vật chất: Bao gồm các cơ sở hạ tầng XH, tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho
sinh kế như Giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng
lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin [8]
2.1.4. Kết quả sinh kế bền vững
Kết quả của sinh kế là mục tiêu và ước nguyện của hoạt động sinh kế của con
người. Bao gồm:
- Tăng cường được an ninh lương thực
- Nâng cao thu nhập và ổn định nguồn thu nhập
- Nâng cao chất lượng đời sồng và giá trị cuộc sống

các cú Sốc, bởi các xu hướng KT- XH- Môi trường và sự dao động, thay đổi theo kỳ-
vụ
6
Nắm được kết quả sinh kế giúp chúng ta hiểu rõ:
• Động lực nào con người đưa ra được những hoạt động mà họ đang thực
hiện?
• Những ưu tiên của họ là gì? Đây là cơ sở để hỗ trợ họ trong việc lập ra
kế hoạch và thực hiện, xác định được các chỉ số phát triển để đánh giá
được hiệu quả của những hỗ trợ đó
• Người dân sẽ hành động như thể nào trước những cơ hội mới đã và sẽ
nắm bắt được?
2.1.7. Chính sách và thể chế
Các chính sách và thể chế là những cơ hội, có khi trở thành “cứu cánh” cho
hoạt động sinh kế của hộ gia đình, của cộng đồng. Bao gồm những luật lệ, những qui
định, những chính sách cụ thể, các tổ chức các cấp, các tổ chức chính phủ và phi chính
phủ liên quan. Đặc biệt là các tổ chức dịch vụ nhà nước và bao gồm cả các tổ chức
dịch vụ tư nhân
Chính sách thể chế là một hợp phần quan trọng trong Khung phân tích SKBV.
Vì nó không những tạo ra cơ hội nhằm giúp cho người dân và cộng đồng thực hiện
các mục tiêu đã xác định để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống trong sinh kế mà
còn là cơ hội, là cứu cánh cho người dân và cộng đồng tăng cường khả năng làm giảm
thiểu các tổn thương và sử dụng hợp lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tuy nhiên, phần quan trọng và quyết định vai trò của hợp phần này trong
Khung phân tích SKBV là ở chỗ khả năng tiếp cận của các chính sách, thể chế này
đến người dân như thế nào? Và người dân tiếp cận các cơ hội này ra sao? Điều này
cũng được quyết định cho việc làm thế nào khuyến khích vận động được người dân
tích cực tham gia vào mọi quá trình phát triển, mặt khác cũng được quyết định bởi sự
tích cực tham gia của nhiều bên có liên quan từ chính quyền các cấp, các tổ chức
chính thức hoặc bán chính thức, chính phủ hoặc phi chính phủ, các tổ chức dịch vụ
nhà nước và các khu vực khác [8]

nguồn gốc ôn đới, á nhiệt đới và nhiệt đới.
2.3. GIÁ TRỊ CỦA CÂY RAU
Rau là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, chính vì thế trong một năm
có thể bố trí nhiều lứa trồng. Do đó trồng rau có tác dụng làm tăng hệ số sử dụng
đất, tận dụng tốt đất vườn, đất ruộng mạ. Mặt khác, sản xuất rau phù hợp với sản
xuất KT hộ gia đình, tạo cơ hội việc làm cho vùng nông thôn, đặc biệt là lao
động ven thành thị; tăng thêm thu nhập trên mỗi đơn vị sử dụng đất, tăng hiệu
quả KT, góp phần thúc đẩy KT NN và Nông thôn phát triển. Theo kết quả của
một số nghiên cứu gần đây nếu bình quân một ha rau cho năng suất 15 tấn thì giá
trị KT của rau lớn hơn 2,8 lần so với trồng lúa hoặc 1,8 lần so với trồng đay ở
miền Bắc.[5]
Rau xanh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhiều ngành nghề
khác nhau như chăn nuôi, công nghiệp chế biến thực phẩm, dược liệu…Rau là nguồn
thức ăn quan trọng cho gia súc, để nuôi một đầu lợn cần tiêu thụ 2 – 3 kg rau/ngay,
trong đó 50 – 60% loại rau giống như rau người ăn: rau muống, rau cải, rau dền, bắp
cải…Ngoài ra, chăn nuôi có thể tận dụng các sản phẩm của trồng rau, vì vậy muốn
phát triển chăn nuôi cần phải tính toán đầy đủ sao cho việc sản xuất rau có hiệu quả
cao.
Đối với việc chế biến đồ hộp và đông lạnh, Việt Nam hiện có 16 nhà máy với
tổng công xuất hơn 90 ngàn tấn sản phẩm/năm; năng suất cao nhất đạt 30 ngàn tấn sản
phẩm đồ hộp rau quả, 20 ngàn tấn sản phẩm đông lạnh. Ngoài các nhà máy lớn còn có
một số sưởng thủ công chế biến rau quả như sấy, làm muối với quy mô nhỏ. [6]
8
Rau được dùng làm thực phẩm trong các bữa ăn hàng ngày. Trước đây, lương
thực đang ở trong tình trạng thiếu thốn thì rau trở thành nguồn lương thực thay thế cho
các cây lương thực khác. Điều này cho thấy cây rau là loại thực phẩm không thể thiếu
trong đời sống người dân, kể cả khi ngày nay đời sống XH đang được nâng cao thì rau
lại càng giữ một vị trí quan trọng.
Trồng rau tạo ra cơ hội việc làm ở các vùng nông thôn và ngoại thành. Nghề
trồng rau có xu hướng thu nhập cao hơn so với các nghề trồng cây khác vì có khả

trường các hộ gia đình, hầu hết các loại rau nơi đây đều có nguồn gốc nhiệt đới và ôn
đới. Các loại rau nơi đây đã được bố trí hợp lý theo thới tiết khí hậu trong năm. Nhưng
Thừa Thiên Huế vốn là nơi có khí hậu thời tiết khắc nghiệt nên quá trình sinh trưởng
và phát triển của rau còn gặp nhiều khó khăn, chi phí cho việc chăm sóc khá tốn kém
hơn một số vùng phía Bắc nước ta.
2.5.KINH TÉ HỘ VÀ ƯU THẾ ĐỐI VỚI SẢN XUẤT RAU QUY MÔ NHỎ
2.5.1.Kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp.
Hộ gia đình là một hình thức KT đặc thù nhất trong hệ thống NN nông thôn
nước ta. Sự tồn tại và phát triển của KT nông hộ là một tất yếu khách quan dưới sự tác
động của nhiều yếu tố KT XH. Mấy chục năm qua, KT hộ ở nước ta đã trãi qua những
bước tiến đỗi thăng trầm. Một thời gian dài KT nông hộ chưa được đánh giá đúng vị
trí, vai trò của nó trong nhà nước và trong nền KT, do đó nó chưa có điều kiện để phát
triển.
Năm 2004, bình quân giá trị sản lượng/ha canh tác của trang trại đạt từ 35 triệu
đồng đến 50 triệu đông. Trong đó trang trại nuôi trồng thủy sản đạt hơn 100 triệu
đồng/ha/năm. Những kế quả trên đã mở ra khả năng và hướng đầu tư để phát triển KT
trang trại. Theo số liệu của 45 tỉnh, thành phố trong cả nước trong năm 2004 tổng giá
trị hàng hóa dịch vụ của các trang trại đạt 8.500 tỷ đồng. Nó đã mở ra hướng làm ăn
mới cho các hộ nông dân, giúp giải quyết việc làm cho nông hộ.
2.5.2.Những ưu thế chủ yếu của kinh tế hộ gia đình trong việc sản xuất
rau quy mô nhỏ
Tổ chức sản xuất rau quy mô nhỏ sẽ tận dụng được những ưu thế sau:
- Tận dụng được các nguồn lao động nhàn rỗi trong sản xuất NN, có điều kiện để
chăm sóc nhiều hơn, nên đảm bảo được chất lượng cũng như sản phẩm của rau được
tốt hơn và đồng đều hơn.
10
- Hộ gia đình sản xuất theo quy mô nhỏ này sẽ ít bị tổn thất so với những vùng
rau sản xuất tập trung quy mô lớn khi gặp thời tiết không thuận lợi. Sâu bệnh phá hoại
đặc biệt là khi có biến động về giá cả thị trường.
- Dễ dàng ứng dụng được các kinh nghiệm, có khả năng tiếp cận nhanh chóng

lương thực thế giới, thì tổng diện tích trồng rau trên thế giới là 17.730.887 ha với tổng
sản lượng la 246.480.485 tấn, đạt năng suất bình quân 139.012 tạ/ha. Trong đó có một
số nước trồng rau lớn như: Trung Quốc (8,066 triệu ha), Ấn Độ (3,37 triệu ha),
Nigeria (0,67 triệu ha), Philippin (0,5 triệu ha). Nhưng cũng có những nước chỉ có 700
ha như Quata, 300 ha như Singgapore.
Bảng 22 : Cán cân xuất phập khẩu rau quả thế giới (năm 2003)
Tuy nhiên ở một số nước diện tích trồng rau không lớn nhưng năng suất lại đạt
rất cao như: Nhật Bản (năng suất đạt 245,5 tạ/ha, với diện tích chỉ 110.000 ha), Hoa
Kỳ (516,8 tạ/ha). Ở khu vực châu Á và Viễn Đông theo nghiên cứu dự báo cứ thu
nhập tăng lên 1% thì nhu cầu rau đậu, quả tươi tăng 0,9%. Lượng tiêu thụ rau của các
nước trên thế giới khác nhau và phụ thuộc vào đời sống KT của nước đó. Theo
Gansen, năm 1992 nhu cầu rau bình quân cho một người là 200 gram/ngày, mức tiêu
thụ đầu người là 73 kg/năm (năm 1996) và ngày có xu hướng tăng lên.
Trước nhu cầu rau càng tăng, một số nước trên thế giới đã có những chính sách
nhập khẩu rau khác nhau. Năm 2005, nước nhập khẩu rau nhiều nhất trên thế giới là
Pháp đạt 145,224 nghìn tấn; sau Pháp là các nước như: Canada (143,332 nghìn tấn);
Anh (140,839 nghìn tấn), Đức (116,866 nghìn tấn). Trong khi đó, 5 nước chi tiêu cho
nhập khẩu rau lớn nhất thế giới là: Đức (149.140 nghìn USD); Pháp (132.942 nghìn
USD); Canada (84.496 nghìn USD); Trung Quốc (80.325 nghìn USD); Nhật Bản
(75.236 nghìn USD).
2.6.2.Tình hình sản xuất rau ở trong nước
Nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước; (lịch
sử NN việt Nam. NXB Nnghiệp 1994); nước ta cũng là trung tâm khởi nguyên của
nhiều loại rau trồng, nhất là các cây thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae). Tuy nhiên, do
chịu ảnh hưởng của một nền NN tự túc trong nhiều thế kỷ nên sự phát triển của ngành
trồng rau còn một khoảng cách rất xa so với tiềm năng tự nhiên và trình độ canh tác.
Ngay cả những năm gần đây, mức độ phát triển vẫn chưa theo kịp nhiều ngành khác
nhau trong sản xuẩt NN.
Trong” Đề án phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh thời kỳ 1999-2010” của Bộ
NN và Phát triển nông thôn được thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 3/9/1999 có xác

rau ăn quả chiếm 40% (trong đó đậu rau 10%); rau gia vị (ớt, hành, mùi, tỏi, gừng…)
chiếm 15%; rau ăn củ, hoa, rau khác chiếm 10%. Trong thành phần này ít nhất 80%
rau tươi, còn lại là rau chế biến.[3]
13
Bảng 24: Thống kê tình hình tiêu thụ rau trên đầu người Việt Nam năm
2000 và dự tính theo giai đoạn 5 năm đến 2010.
Sản phẩm rau không chỉ tiêu dùng nội địa, mà còn được chế biến thành các sản
phẩm xuất khẩu có giá trị KT . Trong mấy năm gần đây việc sản xuất và chế biến rau
để xuất khẩu đạt sản lượng cao, năm 2004 kim ngạch xuất khẩu rau của ta đạt 178,8
triệu USD. Đến năm 2005 thì đạt được 250 triệu USD, theo thống kê thì đến năm
2006 kim ngạch xuất khẩu rau đạt được 259 triệu USD, và ước đạt trong năm 2007 là
300 triệu USD.
Bảng 25: Kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả qua các năm
2.7. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA NGHỀ TRỒNG RAU Ở
NƯỚC
2.7.1.Thuận lợi
- Rau là ngành sản xuất NN có khả năng phát triển mạnh, bởi nước ta nằm
trong khu vực nhiệt đới, nắng lắm mưa nhiều. Hơn nữa địa hình nước ta một phần gắn
với lục địa, một phần thông với đại dương, địa hình trải dài suốt 15 vĩ độ, với khí hậu
đa dạng, vì vậy mà có nhiều loại cây trồng khác nhau, mang lại năng suất cao và có
giá trị KT lớn.
- Hơn nữa nghề trồng rau nước ta đã có từ lâu đời, nhân dân ta có nhiều kinh
nghiệm, cần cù, chăm chỉ do đó đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản cho nghề sản xuất
rau.
- Trong những năm gần đây nghề sản xuất rau đã được Nhà Nước chú trọng
phát triển bằng cách ban hành nhiều chính sách, tạo hành lang pháp lý ngày càng
thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh rau phát triển.
- Cơ chế của nền KT mở cửa được áp dụng nên cơ hội phát triển thị trường
xuất khẩu rau ngày càng được mở rộng.
- Hàng loạt những tiến bộ khoa học, công nghệ mới trong nước và thế giới

đúng mức và xứng đáng với tầm quan trọng của nó nên hiệu quả còn thấp.
- Việc chuyển giao công nghệ trong sản xuẩt rau chưa được chú trọng nên hiệu
quả còn thấp.
- Sự phát triển nghề trồng rau còn tập trung vào các thành phố và khu công
nghiệp vốn có một diện tích dành cho trồng trọt khá ít. Trong khi đó các vùng nông
thôn, miền núi chưa khai thác hết tiềm năng về đất đai.
15
- Chưa quan tâm đúng mức đến việc lai tạo, để chọn tạo những giống rau mới
có năng suất cao, phẩm chất tốt.
- Công nghệ tiếp thị thị trường còn hạn chế.
- Nghề trồng rau còn mang tính tự cung tự cấp, khả năng đầu tư cho cây rau ở
các hộ gia đình còn thấp nên hiệu quả của việc trồng rau còn thấp.
2.8.TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU TẠI THỪA THIÊN HUẾ
Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc khu vực miền Trung, có diện tích đất tự
nhiên 500.920 ha, diện tích đất NN 51.527 ha trong đó đất trồng rau là 2.789 ha. Dân
số Thừa Thiên Huế 1,1 triệu người, nhu cầu rau tươi hằng ngày cua người dân là rất
lớn. Ngoài ra thành phố Huế là một thành phố du lịch, thành phố FESTIVAL hằng
năm du khách đến Huế khá đông. Nhu cầu về rau cao cấp, rau an toàn là rất lớn vì thế
các hoạt động sinh kế về nghề rau có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn rau
cho thị trường. Tuy vậy thời tiết khí hậu ở Thừa Thiên Huế hết sức khắc nghiệt nắng
hạn, ngập úng, mưa nhiều, rét đậm nên việc trồng rau gặp rất nhiều khó khăn, mặt
khác do trình độ thâm canh thấp và chưa hình thành được tập quán sản xuất rau hàng
hóa, việc sản xuất rau chỉ mang tính tự cung tự cấp. Và việc sản xuất rau ở đây cũng
chỉ đáp ứng một phần nhu cầu trong toàn tỉnh.
Để nắm được tình hình diễn biến về diện tích rau của các huyện và thành phố
Huế trong những năm trở lại đây chúng ta nghiên cứu kết quả bảng thể hiện ở bảng
sau.
Bảng 26: Diện tích rau xanh của các huyện, thành phố Huế.
Qua bảng ta thấy diện tích rau của các huyện và thành phố Huế qua các năm có
xu hướng ngày một tăng nhanh, tổng diện tích rau toàn tỉnh tăng 39,05% so với năm

sản lượng rau trên toàn tỉnh thì cần đòi hỏi các ngành chức năng có biện pháp khắc
phục sự yếu kém về năng suất. Cần chuyển giao tiến bộ về khoa học, kỹ thuật trong
lĩnh vực sản xuất rau, đồng thời quy hoạch những vùng sản xuất rau tập trung nhằm
thuận tiện cho vấn đề chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.
Với đặc điểm địa hình đất đai và tình hình thời tiết, khí hậu ở Tỉnh Thừa Thiên
Huế, như đã phân tích ở trên, có thể nói rằng là môi trường thuận lợi cho việc phát
triển đa dạng nhiều loại rau vùng nhiệt đới gió mùa.
Bảng 28 : Sản lượng rau xanh của các huyện, thành phố Huế.
Hiện nay ở tỉnh Thừa Thiên Huế có đến 51 loại rau trong số 70 loại rau trồng ở
Việt Nam thuộc 14 họ. Trong đó có 6 loại thuộc họ thập tự (Crueifereae), 8 loại thuộc
họ bầu bí (Cuicurbitaceae), 12 loại thuộc họ đậu (Fabaceae), còn lại thuộc họ cà
17
(Solanaceae), họ đay (Titiaceae), họ cúc (Copositae). Rau ở Thừa Thiên Huế gồm 4
nhóm rau ăn lá, than; ăn quả, hoa; ăn củ và nhóm rau gia vị thì nhóm rau ăn quả và ăn
lá có số lượng tương đương nhau là 17 loại chiếm 33%, 10 loại rau ăn củ chiếm
19,6%, 7 loại rau ăn trái và hạt chiếm 13,7%.
18
PHẦN THỨ BA
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Nông hộ trồng rau và hệ thống sản xuất rau.
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.Tình hình kinh tế - XH của xã
+ Dân số, lao động
+ Các loại hình sinh kế của nông hộ
2.Tình hình sản xuất rau tại xã Quảng Thành:
+ Diện tích, năng suất, sản lượng rau.
+ Chủng loại, cơ cấu, mùa vụ.
+ Tình hình tiêu thụ rau.
+ Thời vụ.

Trong năm 2006 toàn xã có 2.472 học sinh. Trong đó: Ngành học nầm non:
416 em, đạt 100% kế hoạch huy động. Tiểu học: 1.119 em, đạt 100% kế hoạch huy
động. Trung học cơ sở: 937 em, đạt 98% kế hoạch huy động. Trong đó riêng lớp 6 đạt
100% kế hoạch huy động. Nhiệm vụ phổ cập giáo dục cũng được duy trì, huy động
được 20 học viên, đạt 100% kế hoạch.
Về chất lượng: Nhìn chung chất lượng giáo dục toàn diện có chuyển biến tích
cực, tỷ lệ học sinh đạt khá, giỏi tăng so với năm trước, tỷ lệ về học sinh yếu kém
giảm. Đội ngủ giáo viên từng bước được chuẩn hoá.
. * Về y tế - dân số:
Đã thực hiện tốt các chương trình y tế cộng đồng, nâng cao chất lượng và tăng
cường công tác tuyên truyền, giám sát dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân,
quan tâm cấp phát thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo, duy trì số lượng bảo hiểm y tế tự
nguyện lên trên 4.000 người, đồng thời thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác khám
chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh do vậy đã hạn chế được tình hình dịch bệnh xãy ra
trên địa bàn.
Xã đã thực hiện được 03 đợt chăm sóc sức khỏe sinh sản , với tổng số người
tham gia trên 650 người, trong đó 98 trường hợp thực hiện các biện pháp tránh thai.
Đã tiến hành cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi, nâng tổng số trẻ
em được cấp thẻ lên 1.120 cháu.
4.1.2.Lĩnh vực kinh tế.
Với quyết tâm xây dựng sản xuất NN theo hướng sản xuất hàn hóa, xã đã tích
cực xây dựng kế hoạch và tập trung đầu tư vào công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
21
điều kiện canh tác và thâm canh, quy hoạch vùng sản xuất do đó bước đầu đã tạo dáng
dấp các vùng sản xuất theo định hướng và đạt một số kết quả:
- Về trồng trọt:
Bước vào vụ Đông Xuân năm nay, tuy đầu vụ gặp lũ muộn nhưng do nổ lực
tiêu úng kịp thời nên xã đã gieo cấy đúng thời vụ, đảm bảo kế hoạch với diện tích 506
ha đạt 101,2% kế hoạch. Ứng dụng tiến bộ khoa học ky thuật vào sản xuất, cơ giới
hóa đồng ruộng đã gieo cấy trên 90 % giống lúa xác nhận. Thực hiện tốt công tác dự

- Về dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp
Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, một chương trình KT trọng điểm nhằm
chuyển đổi cơ cấu KT trong thời kỳ đổi mới. Song nhiệm vụ này chưa phát triển, chỉ
duy trì một số ngành nghề, dịch vụ với quy mô nhỏ của các hộ gia đình, doanh số
không đáng kể, chưa có chuyển biến trong việc giải quyết việc làm tại chỗ và phân bổ
lại lao động, tuy có một số đề án xây dựng các doanh nghiệp tư nhân trên một số
ngành nghề dịch vụ nhưng đang trong quá trình chuẩn bị và xúc tiến đầu tư.
Mạng lưới dịch vụ sản xuất và dịch vụ thương mại được duy trì theo chiều
hướng có đầu tư mở rộng gắn với quá trình cơ giớ hóa dịch vụ sản xuất đã góp phần
đáp ứng các nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân trên địa bàn.
4.1.3.Tình hình dân số, lao động của xã
Lực lượng lao động là động lực quan trọng của sự phát triển KT - XH của một
quốc gia hay của một địa phương. Nói như vậy là bởi vì mọi sự tăng trưởng, phát triển
về KT, XH đều do con người tạo ra tất cả đều nhằm phục vụ cho nhu cầu tồn tại và
phát triển của con người. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, dân số càng đông là một
trở ngại lớn cho sự phát triển KT XH, nâng cao đời sống nhân dân.
Để biết được sự biến động về vấn đề dân số có tác động như thế nào đến nền
KT của xã Quảng Thành, chúng tôi đã tiến hành điều tra tình hình dân số của xã .
Bảng 1: Dân số, số hộ và lao động của xã trong năm 2006
Chỉ tiêu ĐVT Số lượng %
Tổng nhân khẩu Khẩu 10.687 100,00
Tổng số hộ
Hộ nông nghiêp
Hộ nghèo
Hộ
Hộ
Hộ
2.246
1.887
316

Đất đai là một trong những yếu tố đầu vào hết sức quan trọng trong quá trình
sản xuất của con người, là nơi trú ngụ, sinh sống và tổ chức hoạt động của các hộ gia
đình, các cơ quan, các tổ chức. Cùng với sự biến chuyển của quá trình công nghiệp
hóa, quá trình đô thị hóa thì đất đai trong cả nước nói chung, cũng như đất đai trên địa
bàn xã Quảng Thành nói riêng, đều có chiều hướng biến động.
Qua bảng 2 về tình hình đất đai của xã trong năm 2006 cho phép ta đưa ra
những đánh giá sau:
Bảng 2: Tình hình đất đai của xã Quảng Thành trong năm 2006
Chỉ tiêu Diện tích (ha)
%
Tổng diện tích đất tự nhiên
1.082 100
I.Đất nông nghiệp
646,09 59,71
24
1.Đất trồng cây hàng năm
558,17
86,39
1.1.Đất trồng lúa
490,06
87,80
1.2.Đất trồng rau
60,00
10,75
1.3.Cây khác
8,11
1,45
2.Đất nuôi trồng thuỷ sản
87,92
13,61


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status