1 | P a g e
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Nuôi trồng thủy sản là một ngành kinh tế truyền thống mũi nhọn, có thế
mạnh của các tỉnh có vùng ven biển và đầm phá ở nước ta. Sự phát triển mạnh
ngành NTTS đã góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân.
Song song với những lợi ích của các hoạt động NTTS mang đến, nó còn để lại
những ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên và môi trường vùng ven biển, vùng
biển.
Việt Nam là nước có tiềm năng về thủy sản. Với điều kiện thiên nhiên
thuận lợi, nước ta có chiều dài đường bờ biển khá lớn 3200 km, cùng với các
yếu tố nhiệt độ, môi trường, nguồn thức ăn là điều kiện lý tưởng để đầu tư
phát triển kinh tế thủy sản. Đặc biệt, tỉnh Thừa Thiên Huế là tỉnh có đường bờ
biển dài 126 km và hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai lớn nhất Đông Nam Á
với diện tích là 21.594 ha, là nơi có điều kiện khá lý tưởng cho sự sinh trưởng
các loài thủy sản có giá trị cao, đặc biệt là tôm.
Huyện Quảng Điền là huyện trọng điểm của vùng ven biển đầm phá TTH,
có tiềm năng lớn về NTTS, chủ yếu là nuôi tôm. Trong đó, xã Quảng Công là
một trong những xã có nghề nuôi tôm phát triển sớm nhất ở huyện Quảng
2 | P a g e
Điền với nhiều hình thức nuôi tôm nhất ở huyện: QCCT, BTC, TC. Sự phát
triển ngành nuôi tôm ở xã Quảng Công góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo
công ăn việc làm và nâng cao mức sống cho người dân địa phương.
Các mô hình nuôi trồng thuỷ sản nói chung, nuôi tôm nói riêng đã phát
triển rất nhanh cùng với quá trình phát triển của ngành. Phương thức nuôi
trồng đã chuyển từ nuôi tự nhiên, quảng canh, nuôi phân tán với mật độ
thấp sang nuôi bán thâm canh, thâm canh, nuôi công nghiệp với mật độ cao,
nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất
khẩu. Tuy nhiên, việc nuôi trồng thủy sản với mật độ cao, năng suất lớn, đã
gây nên những tác động môi trường ngày càng nghiêm trọng, nếu không được
PHẦN II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU, CÁCH TIẾP CẬN,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công,
huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế với các hình thức nuôi: Thâm canh,
bán thâm canh, quảng canh cải tiến.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
- Phạm vi thời gian: từ ngày 1/12/2009 đến ngày 1/12/2010.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành ngành nghiên cứu việc xây dựng Bộ chỉ thị đánh giá
các hình thức nuôi tôm của một số hộ dân ở thôn 1, 2, 4 ở xã Quảng Công,
huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
6 | P a g e
Để hoàn thành được đề tài này và đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi
đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
2.3.1. Phương pháp điều tra
2.3.1.1. Thu thập số liệu:
Các số liệu thu thập được từ những tác giả đi trước, cũng như việc thu thập
các tài liệu, số liệu ở các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Thủy sản Thừa
Thiên Huế, Phòng thống kê của Cục thống kê thành phố Huế, Phòng Nông
nghiệp huyện Quảng Điền,… của các đề tài, dự án, các trang web, các báo
cáo, các quy định, chỉ thị, tạp chí, báo chí,…
2.3.1.2. Điều tra phỏng vấn và trả lời câu hỏi bằng phiếu điều tra
Người trả lời câu hỏi sẽ trả lời vào phiếu điều tra về 4 lĩnh vực: về QMHN,
LP-TC, MT-ST, KT-XH. Chúng tôi chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm 2 người đã
những thay đổi công nghệ và thể chế theo hướng đảm bảo sự đáp ứng các nhu
cầu cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Sự phát triển như vậy đòi hỏi phải bảo
vệ đất, nước, các nguồn gen động vật và thực vật, không làm suy thoái môi
trường, phải phù hợp về mặt kỹ thuật, vững chắc về mặt kinh tế và được chấp
nhận về mặt xã hội ”.
Để thực hiện những vấn đề trên, FAO đã đưa ra mục tiêu PTBV trong
NTTS:
Mục tiêu 1: Sử dụng đất và nước thích hợp trong NTTS bền vững.
Mục tiêu 2: Bảo tồn các chức năng của các hệ sinh thái quan trọng và
những môi trường nước nhạy cảm.
Mục tiêu 3: Quản lý tốt các nguồn tài nguyên đất và cải tạo đất nhằm giảm
thiểu các tác động có hại lên môi trường xung quanh.
9 | P a g e
Mục tiêu 4: Giảm thiểu các tác động có hại lên các nguồn tài nguyên nước
địa phương.
Mục tiêu 5: Tránh việc để các loài nuôi ngoại lai và chuyển ghép gen xâm
nhập vào môi trường xung quanh.
Mục tiêu 6: Quản lý tốt việc sử dụng các loại hóa chất có hại cho sức khỏe
con người và các hệ sinh thái.
Mục tiêu 7: Gia tăng cao nhất hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên và
giảm thiểu thấp nhất lượng chất thải được tạo ra.
Mục tiêu 8: Giảm thiểu sự lệ thuộc vào các nguồn giống tự nhiên ở các
trang trại.
Mục tiêu 9: Thực hiện tốt việc chăm sóc sức khỏe cho vật nuôi nhằm giảm
thiểu nguy cơ dịch bệnh trong các trang trại (TT) và ngoài tự nhiên.
Mục tiêu 10: Tối ưu hóa các lợi ích KT-XH cho cộng đồng và đất nước.
Mục tiêu 11: Cải tiến các hoạt động ở TT nuôi nhằm giảm thiểu các tác
động lên những đối tượng sản xuất xung quanh.
Mục tiêu 12: Đảm bảo quyền và phúc lợi của nhân công làm việc ở các
trung tâm.
trung vào những chỉ thị cho thấy sự bền vững của quốc gia hoặc khu vực sinh
thái. Tại Hội nghị đã xem xét và đưa ra các chỉ thị về PTBV trong NTTS liên
quan đến MT-ST là: diện tích ao nuôi, sử dụng nguồn nước và chất lượng
nước, sử dụng hóa chất, giống và thức ăn, dịch bệnh và xử lý dịch bệnh,…
* Nhóm chỉ thị về kinh tế xã hội
Nhóm chuyên gia kỹ thuật của FAO đưa ra chú ý khi xác định các tham số
đặc trưng về nhóm chỉ thị KT-XH là phải đánh giá khả năng tồn tại về mặt
kinh tế cũng như sự chấp nhận của xã hội đối với việc NTTS ở hiện tại và
tương lai.
Tóm lại, các nhóm chỉ thị trên chỉ nghiên cứu ở cấp độ quốc gia. Mỗi
nhóm có thể phù hợp ở một phạm vi nhất định. Các chuyên gia kỹ thuật của
FAO khuyến khích nên phát triển các chỉ thị ở cấp độ càng nhỏ thì sẽ dễ đánh
giá hơn.
3.1.2. Các hình thức nuôi tôm hiện nay [8]
3.1.2.1. Nuôi quảng canh (Extensive culture)
12 | P a g e
Là hình thức nuôi phụ thuộc vào tự nhiên là chính, thông qua việc lấy
nước qua cửa cống và nhốt giữ trong một thời gian nhất định, ít đầu tư chăm
sóc. Mật độ thả giống rất thấp, từ 1-3 con/m
2
. Năng suất bình quân đạt 180
kg/ha/vụ. Ở vùng đầm phá TTH, nuôi tôm cá CS được xem là nuôi QC. Hình
thức này vốn đầu tư phù hợp với dân nghèo nhưng mức độ rủi ro lớn do bị
ảnh hưởng trực tiếp của mưa lụt, nhất là lụt tiểu mãn.
3.1.2.2. Nuôi quảng canh cải tiến (Improve extensive)
Là hình thức nuôi cao hơn của QC. Ở hình thức QCCT, tuy phụ thuộc
nhiều vào tự nhiên, lấy nước theo thủy triều nhưng được đầu tư chủ động
giống, thức ăn ở mật độ nhất định đồng thời có đầu tư biện pháp cải tạo đầm,
diệt trừ các đối tượng dịch hại để tăng tỷ lệ sống và năng suất. Quy mô DT
dưới 2 ha. Mật độ giống thả từ 4-9 con/m
thiểu (m)
Phụ thuộc
thủy triều
1,0 - 1,2 0,12 - 1,4 1,5 - 2,0
Mật độ thả giống
(con/m
2
)
1 - 3 4 - 9 10 - 15 6 - 30
Quạt nước sụt
khí
Không Không Có Có
Thức ăn Tự nhiên Có bổ sung Thức ăn công
nghiệp, một
phần thức ăn tự
Thức ăn
công
nghiệp
14 | P a g e
nhiên
Cung cấp nước Lấy nước
triều qua
cống
Lấy nước
triều qua
cống
Theo yêu cầu
kỹ thuật
Theo yêu
cầu kỹ
nghiệm. Để đạt mục tiêu, ta phải đưa ra những chỉ thị đơn giản, phù hợp với
thực tế từng địa phương.
* Phục vụ hoạch định chính sách
Đó là việc đặt ra mục tiêu và chỉ tiêu nhằm phục vụ việc xây dựng chiến
lược thực hiện và đánh giá chính sách. Trong giai đoạn này, các chỉ thị được
xây dựng cần được lựa chọn sao cho thực thi và đánh giá tốt các chính sách
đã đề ra.
* Đối với cộng đồng
16 | P a g e
Các chỉ thị đưa ra nhằm mục đích là thông tin môi trường dựa vào các
chiến dịch, nhờ đó mà thay đổi nhận thức của con người và sự tham gia nhiệt
tình trong việc BVMT tốt hơn. Đó là các chỉ thị liên quan đến sức khỏe người
dân, việc gây suy thoái môi trường làm cho họ mất đi kế sinh nhai,…
3.1.3.2. Các tiêu chí dùng để chọn lựa các chỉ thị [3]
Để nhằm mang lại hiệu quả cho việc chọn lựa các chỉ thị, Anderson (1991)
và Lê Thạc Cán (2005) đã đưa ra các tiêu chí như sau:
1.Tính phù hợp với chính sách: được kiểm nghiệm qua việc xem xét tham
khảo các văn bản chính sách, các kế hoạch, luật định
2. Khả năng giám sát tiến độ so với mục tiêu đề ra: được kiểm nghiệm
thông qua các thông tin trong các văn bản chính sách.
3. Mức độ bao phủ về mặt không gian và thời gian: nhất quán về không
gian và xem xét đến địa phương phù hợp đối với một vấn đề môi trường nhất
định. Chỉ thị bao phủ một khoảng thời gian đủ để có thể cho thấy xu hướng
theo thời gian.
4. Mức độ phù hợp với cấp sử dụng chỉ thị (quốc gia/tỉnh) và mang tính
đại diện cho các địa phương nhằm hỗ trợ việc so sánh.
5. Phù hợp với việc so sánh: ví dụ như so sánh giữa các huyện trong một
tỉnh. Khi so sánh nếu một huyện vượt trội huyện khác về điểm số thì chứng tỏ
có thể học được một số điều từ huyện này.
17 | P a g e
Chỉ số thịnh vượng quốc gia do nhóm chuyên gia kinh tế của World Paper
và Viện Nghiên cứu các vấn đề tiền tệ Mỹ công bố hằng năm.
WNI được tính dựa trên 3 nhóm chỉ tiêu là kinh tế, xã hội và trao đổi
thông tin. Mỗi nhóm chỉ tiêu gồm 21 thông số, các tham số này có trọng số
như nhau. Đối với mỗi nhóm chỉ số, các số liệu thô được chuyển đổi thành
các chỉ số thay đổi từ thấp nhất 0 điểm đến cao nhất là 100 điểm. Tổng số
điểm của mỗi nhóm tham số là 800 điểm, điểm tổng cộng tối đa của WNI là
2.400 điểm.
19 | P a g e
Về chỉ tiêu kinh tế, Việt Nam đạt 494 điểm, bằng 62% mức cao nhất các
nước đang phát triển; về chỉ tiêu xã hội, chúng ta đạt 507 điểm bằng 63,4%
mức cao nhất các nước đang phát triển và nhóm chỉ tiêu về trao đổi thông tin
chúng ta chỉ đạt 226 điểm bằng 28,3% mức cao nhất của các nước đang phát
triển. Tính chung 3 nhóm chỉ tiêu trên, Việt Nam đạt được 1.227 điểm bằng
51,1% mức cao nhất của các nước đang phát triển, đứng thứ 56/70 nước đang
phát triển có số liệu so sánh.
Chỉ số thương tổn môi trường (Environmental Vulnerability Index, EVI)
Chỉ số EVI đã được Uỷ ban Khoa học Địa lý ứng dụng Nam Thái Bình
Dương (SOPAC) và Tổ chức Phát triển Liên Hợp Quốc(UNDP) triển khai.
Chỉ số này được xây dựng dựa trên các chỉ số thương tổn về xã hội, kinh tế để
hiểu được các quá trình có thể tác động tiêu cực tới sự PTBV của các quốc gia
như thế nào.
Chỉ số EVI gồm 57 chỉ thị thuộc 3 nhóm chỉ số thứ cấp: chỉ số về tai biến,
chỉ số về phục hồi sau các tai biến từ tự nhiên hay nhân tạo, chỉ số về sự suy
thoái hay tính nguyên vẹn của môi trường.
Chỉ có 6 trong số 57 chỉ thị này có trọng số là 5, các chỉ thị còn lại có
trọng số như nhau là 1. Thang điểm của chỉ số EVI dao động từ 1 đến 7. Điểm
càng cao thì tính dễ bị thương tổn càng lớn.
20 | P a g e
Chỉ số phát triển bền vững (Sustainable Development Index, SDI): Trong
ngành thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, cùng với ngành
thuỷ sản của tỉnh phát triển nhanh trong xu thế hội nhập.
Hiện nay, xã Quảng Công có 3 loại hình nuôi tôm: nuôi cao sản, nuôi ao
đất hạ triều, nuôi ao nổi cao triều. Dựa vào những ưu nhược điểm của mỗi
loại hình mà có các phương thức phù hợp với chúng. Nuôi ao hạ triều phù
hợp với hình thức nuôi QCCT, nuôi ao cao triều phù hợp với hình thức BTC
và TC.
Theo Báo cáo Đánh giá thực trạng môi trường của UBND huyện Quảng
Điền năm 2008 cho biết việc phát triển NTTS đang làm cho pH của đầm phá
thay đổi, biến đổi và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái vùng đầm phá.
22 | P a g e
Vì vậy, việc xây dựng Bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm là rất cần
thiết, nhằm cho phép các nhà quản lý có thể mô tả, đánh giá hình thức nào
mang lại tính bền vững cho môi trường, đồng thời cũng thỏa mãn những nhu
cầu về KT-XH.
Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà Nước đã có nhiều chủ trương,
chính sách về PTBV đối với mọi hoạt động sản xuất KT-XH, trong đó có hoạt
động NTTS. Trên cơ sở chủ trương, định hướng về PTBV và BVMT, trong
thời gian qua, Đảng và Nhà Nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên
quan như:
- Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005.
- Quyết định 12/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về
việc ban hành Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản
xuất
- Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về
việc ban hành Danh mục chất thải nguy hại
- Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về
việc ban hành Quy định về điều kiện và hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo
đánh giá tác động môi trường
4
302
4
3632,
1
-
440
87,3 608,1 120,1
Sản Tấn 336 386 2950, 498 114,8 - 76,4
24 | P a g e
lượng 3 1 5 910,5
Năng
suất
Tấn/h
a
0,97 1,28 0,81 0,31 1,32 -0,47 63,3
( Nguồn:Theo số liệu thống kê sở thủy sản Thừa Thiên Huế, 2009)
Về diện tích nuôi: Diện tích nuôi tôm trong năm 2009 đã có giảm sút đáng
kể, từ 3.464 ha năm 2007 giảm xuống 3.024 ha năm 2008. Nguyên nhân của
vấn đề này là: năm 2007 do thời tiết thay đổi phức tạp ảnh hưởng trực tiếp
đến môi trường sống của con tôm; bên cạnh đó dịch bệnh tại các địa phương
trên địa bàn tỉnh diễn ra phổ biến, tạo tâm lý hoang mang trong người nuôi
tôm. Từ đó, khiến cho diện tích nuôi năm 2008 giảm đáng kể so với năm
2007. Tuy nhiên, năm 2009 diện tích nuôi lại tăng lên khá nhanh, lên tới
3.632,1 ha, tăng 120,1% so với năm 2008.[9]
Về năng suất và sản lượng tôm nuôi: Mặc dù, năm 2008 diện tích nuôi tôm
giảm sút đáng kể, nhưng tình hình nuôi trồng diễn ra thuận lợi; thời tiết ổn
định, thích hợp với con tôm; dịch bệnh không xuất hiện tạo điều kiện thuận
lợi trong việc nuôi trồng, chăm sóc và thu hoạch tôm. Sản lượng tôm nuôi
năm 2008 đạt 3.861 tấn, tăng 114,8% so với năm 2007. Tuy nhiên, sự thay