m ở đ ầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo đợc khởi nguồn từ Trung Quốc và du nhập vào Việt Nam từ
thời Bắc thuộc, đợc Việt Nam hoá trong suốt một chặng đờng lịch sử, góp
phần đáng kể vào việc tạo dựng nền văn hoá Việt Nam.
Nho giáo - hệ t tởng chính thống của chế độ phong kiến kéo dài
cho đến thế kỷ XIX, từng là hệ t tởng thống trị trong kiến trúc thợng
tầng Việt Nam. Nho giáo ảnh hởng sâu sắc đến con ngời và xã hội,
chính trị và văn hoá, cuộc sống và lẽ sống, hệ t tởng và phong tục tập
quán Việt Nam. Nho giáo đã trở thành một bộ phận của truyền thống
dân tộc, dù muốn hay không muốn thì Nho giáo vẫn đang chi phối đời
sống xã hội ở Việt Nam ngày nay. Những dấu ấn của Nho giáo vẫn còn
đang tồn tại ở Việt Nam nh: sách vở, đền đài, miếu mạo, phong tục tập
quán mang sắc thái Nho giáo vẫn còn lu giữ. Văn miếu với 82 tấm bia
tiến sĩ đã để lại một nền văn hoá truyền thống đ ợc ngời Việt Nam trân
trọng và tự hào.
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo đã đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng, nền cơ chế thị trờng có sự điều tiết và quản lý của nhà nớc đã đẩy nhanh sự tăng trởng về
kinh tế, đem lại bộ mặt mới cho xã hội. Tuy nhiên bên cạnh đó mặt trái
của cơ chế thị trờng cũng đang tạo ra nhiều xáo trộn trong quan hệ xã
hội, trong gia đình và phẩm chất cá nhân, trong cán bộ, nhân dân đã có
những biểu hiện tiêu cực, nó đợc biểu hiện trong cả nhận thức và hành
động nh: t tởng thực dụng, chạy theo đồng tiền, làm cho một bộ phận xa
rời lý tởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, nạn tham nhũng, buôn lậu,
làm giàu bất chính và các tệ nạn xã hội khác.
Những chủ trơng biện pháp khắc phục tình trạng nói trên không
thể không đụng chạm đến nhiều vấn đề liên quan đến Nho giáo. Vì
Nho giáo đã tồn tại hàng ngàn năm ở nớc ta, nó đã để lại những căn
bệnh trầm trọng nh: bệnh bảo thủ, quan liêu, giáo điều, chủ nghĩa bình
quân, chủ nghĩa cá nhân
quan tâm, chú ý nghiên cứu nhng cho đến nay nhiều vấn đề của học
thuyết này còn đang đặt ra, đòi hỏi có sự đi sâu tìm hiểu và khám phá.
2
ở Việt Nam đã có một số bài viết và một số tác phẩm nghiên cứu
về vấn đề Nho giáo đợc ấn hành. Nó cung cấp cho ngời đọc những hiểu
biết về Nho giáo, cụ thể ở một số sách sau:
- Tác phẩm Nho giáo của Trần Trọng Kim. Xuất bản trớc năm
1930 và từ đó đến nay đợc tái bản rất nhiều lần.
- Tác phẩm Khổng Học Đăng của Phan Bội Châu, đợc soạn
thảo vào năm đầu thập kỷ 30 của thế kỷ XX, xuất bản năm 1957 và đ ợc tái bản năm 1998.
- Tác phẩm Đến hiện đại từ truyền thống của cố giáo s Trần
Bình Hợu xuất bản năm 1994.
- Nho giáo xa và nay chủ biên giáo s Vũ Khiêu xuất bản năm
1994.
Nho học và Nho giáo ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn của PGS.TS Nguyễn Tài Th - Xuất bản năm 1979.
- Nho giáo và sự phát triển ở Việt Nam của giáo s Vũ Khiêu
xuất bản 1997.
- ảnh hởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo quản
lý của Việt Nam hiện nay do TS Nguyễn Thế Kiệt chủ biên, xuất bản
2001.
- ở nớc ngoài trong tác phẩm Nho giáo với Trung Quốc ngày
nay của Vi Chính Thông đã vạch rõ những mặt tích cực và hạn chế
của Nho giáo trong xã hội Trung Quốc thời hiện đại.
Ngoài ra còn có bài giảng của thầy giáo ThS. Hoàng Quốc Bảo
và một số bài viết khác đề cập đến Nho giáo.
Trong kiến thức còn hạn chế, song em cũng cố gắng tổng hợp
- Cơ sở lý luận
Khi nghiên cứu vấn đề này chúng ta phải đứng trên lập tr ờng
quan điểm lịch sử khách quan toàn diện. Tiểu luận đợc thực hiện dựa
trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh những
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phê phán và vận dụng
những giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại.
- Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phơng pháp duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử và kết hợp với các phơng pháp khác; phơng
pháp lịch sử kết hợp với lôgic, phơng pháp phân tích và tổng hợp, ph-
4
ơng pháp khách quan và thực hiện, phơng pháp mô tả và phơng pháp
kế thừa.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, tiểu luận còn có phần nội dung gồm 3 chơng với 7 tiết.
nội dung
Chơng 1:
Nho giáo - sự ra đời và quá trình
phát triển
1. Quá trình hình thành về t tởng, đạo đức của Nho giáo
Từ thế kỷ XI đến thế kỷ VIII trớc Công nguyên. Các yếu tố đầu
tiên của hệ t tởng Trung Quốc đã xuất hiện. Nổi rõ nhất của t tởng
Trung Quốc vào thời Xuân Thu - Chiến quốc gắn liền với tr ờng phái
mình ra giúp nớc, trị dân, cuối đời nhng đến đâu cũng không đợc trọng
dụng. Cuối đời nhận thấy sự bất lực trong chính trị, Khổng Tử quay về
nớc Lỗ mở trờng dạy học và viết sách, ông giảng dạy kinh th , kinh
dịch, kinh lễ, soạn kinh Xuân Thu đến ngày 18/2/479 TCN Khổng Tử
mất, ông thọ
73 tuổi.
Lý thuyết Khổng Tử không đợc ngời đơng thời chấp nhận, nên
ông đã than rằng Biết là không thể mà vẫn làm nhng đến đời Hán, giai
cấp phong kiến đã lấy Nho giáo làm hệ t tởng thống trị, đặc biệt đến đời
Đổng Trọng Th Nho giáo đã trở thành cơ sở của đạo đức phong kiến ở
Trung Quốc [10, tr.7].
Trong lịch sử t tởng Trung Quốc, đạo đức rất đợc các nhà t tởng coi
trọng, Khổng Tử là nhà t tởng đầu tiên bàn đến những vấn đề nhân sinh, vấn
đề đạo đức.
Khổng Tử đa ra 4 mẫu ngời cần đợc đào tạo là :
Một là kẻ sĩ: học để thi đỗ ra làm quan.
Hai là: bậc đại học - học để tu nhân tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Ba là: kẻ trợng phụ, là ngời thấy việc nghĩa thì dũng cảm lên, giàu
sang không thể khắc phục, nghèo khó không thể chuyển lay.
Bốn là: ngời quân tử, một mẫu ngời lý tởng của giai cấp thống trị mà
ông nhấn mạnh phải có đủ: nhân, lễ, trí, dũng [12, tr 56].
6
Sau khi Khổng Tử mất, học thuyết của ông ở giai đoạn đầu Tần đợc
hai học trò phát triển: Mạnh Tử phát triển theo hớng duy tâm, Tuân Tử phát
triển theo hớng duy vật.
2. T tởng cơ bản về đạo đức của con ngời trong Nho giáo
Nho giáo quan niệm đạo đức là sự biểu hiện cá tính, của thiên tính,
Đến thời kỳ nhà Hán, Đổng Trọng C đã đa ra khái niệm khác đó là
tam cơng và ngũ thờng.
- Thứ hai đạo đức cá nhân (tức là nhân, nghĩa, lễ, tín)
Nhân - nghĩa:
Khổng Tử cho rằng do sự chi phối của thiên lý của đạo các sự
vật hiện tợng trong vũ trụ luôn biến hoá không ngừng, sự sinh thành biến
hoá của vũ trụ bao giờ cũng nhờ sự trung hoà giữa âm dơng, trời đất, con
ngời là kết quả bẩm thụ tinh khí của âm dơng mà trời đất hình thành tuân
theo thiên lý hợp với đạo trung hoà đạo sống của con ngời phải là
trung duy, trung thứ, nghĩa là sống đúng với mình, đúng với ngời đó là
nhân. Nhân bao hàm cả thân và ái nh vậy nhân là đức tính hoàn thiện,
là cái gốc đạo đức của con ngời nhân chính là đạo làm ngời.
Nghĩa: Khi nói đến nhân Khổng Tử luôn chú trọng đến hành vi, coi
nhân là chuẩn mực của hành vi. Mạnh Tử nói nhân thì quan tâm đến
thái độ trong nội tâm nhân là thái độ phải có trong nội tâm của con ngời.
Nghĩa là chuẩn mực mà hành vi của con ngời phải tuân theo. Theo Mạnh
Tử: điều không đúng thì không làm, điều đúng thì làm, đó chính là nghĩa.
- Lễ : để làm ngời có nhân thì phải tự sửa mình theo lễ.
Lễ trớc hết là hiểu đợc những lễ nghi , những vi phạm đạo đức quy
định quan hệ giữa ngời với ngời. Lễ đợc xem nh là một lẽ phải, là bổn phận
mà mọi ngời có nghĩa vụ phải tuân theo. Nhng quan trọng hơn cả là xét trên
lĩnh vực chính trị, lễ đó là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nớc
phong kiến
Quân sử thần dĩ lễ
Thần sử quân dĩ trung
- Trí: Là trớc nói mà sau làm cho xứng đáng. Phàm ngời ta lấy hết trí
tuệ cho hành vi mình muốn hay không muốn trớc khi làm.
3. Sự du nhập Nho giáo vào Việt Nam
Nho giáo đợc truyền đến Việt Nam vào thế kỷ I thời Vơng Mãn, có
1.1. Nguồn gốc
Chế độ phong kiến ở Việt Nam cùng với nó là đạo đức phong
kiến đã từng tồn tại gần 2000 năm trong lịch sử dân tộc. Nó đã có tác
dụng nhiều mặt đến con ngời, xã hội Việt Nam. Cho đến nay nhiều mặt
tàn d của nó vẫn còn tồn tại. Trong xã hội ngày nay đã khác trớc nhng
đạo đức phong kiến vẫn còn ảnh hởng đậm nét.
Chế độ phong kiến Việt Nam hình thành gắn liền với sự xâm l ợc
và thống trị của phong kiến phơng Bắc. Đế chế Hán sau khi chinh phục
đợc nớc ta ở thế kỷ II (TCN) dần dần biến xã hội ta thay vào đó là chế
độ phong kiến phơng Bắc.
1.2. Điều kiện tồn tại của đạo đức phong kiến ở Việt Nam
Đạo đức phong kiến nớc ta xuất hiện do đấu tranh bền bỉ và củng
cố phát triển, chính do điều kiện lao động chống trọi với thiên nhiên
khắc nghiệt, nh vậy từ rất sớm nhân dân ta đã đề cao ý thức dũng cảm,
tinh thần lao động, lòng yêu thơng lẫn nhau, lòng nhân ái xuất phát từ
lao động mà đợc hình thành nên và trở nên những nhân tố cấu thành
quan trọng trong đạo đức Việt Nam.
1.3. Quá trình phát triển của đạo đức phong kiến ở Việt Nam
Từ trớc công nguyên đến năm 938
Trong các thiên niên kỷ trớc công nguyên vấn đề đạo đức của
ngời Việt cổ cũng nh mọi dân tộc khác còn rất đơn giản, trong xã hội
thị tộc, đạo đức không có tầm vơn xa khỏi huyết thống. Đến khi xã hội
có phân chia giai cấp, giá trị đạo đức của Việt Nam thời kỳ này bị thu
hút vào t tởng dân chủ, các quan niệm về đạo đức đợc xây dựng giống
nh các quan niệm trong lĩnh vực chính trị, vấn đề yêu n ớc đợc đặt lên
hàng đầu.
10
đạo của Việt Nam hiện nay
3.1. T tởng tu thân trong Nho giáo
11
Tu thân là vấn đề rèn luyện đạo đức cách mạng. Tu thân là
một biện pháp tu dỡng đạo đức của Nho giáo có nhiều giá trị tích cực
mà ngày nay có thể vận dụng.
Tu thân tức là tự sửa mình, rèn luyện mình theo lễ và cũng là
thái độ xử lý đạo cơng thờng, muốn sửa mình để mình thành ngời có
đức hạnh thì trớc hết cần giữ cái tâm cho chính, cái ý cho thành, rồi
mới hiểu về các sự vật. Khổng Tử đã nói: từ thiên tử đến thứ dân, ai
cũng phải lấy sự tu thân làm gốc. Cái gốc loạn thì cái ngọn vị thì ch a
có vậy [10, tr 179).
Ngày nay trong quá trình đổi mới và định hớng, đi lên chủ nghĩa
xã hội, chúng ta cần khai thác kế thừa những quan điểm đạo đức tiến
bộ của Nho giáo, gạt bỏ những gì trở thành lạc hậu, kìm hãm b ớc phát
triển của xã hội. Chúng ta tiếp thu những nhân tố tích cực trong việc
giáo dục đạo đức cho cán bộ lãnh đạo quản lý hiện nay. Có rất nhiều
khái niệm quen thuộc của Nho giáo đợc Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng
nhng với mục đích mới, nội dung mới. Ngời sử dụng những nhân tố
tiến bộ hợp lý trong đạo đức Nho giáo để xây dựng một nền đạo đức
mới vợt xa đạo đức của ngời nói đạo đức cũ nh ngời đầu ngợc xuống
đất, chân chổng lên trời, đạo đức mứi nh ngời hai chân đứng vững đợc
dới đất, đầu ngửng lên trời, bọn phong kiến ngày xa nêu ra cần, kiệm,
liêm, chính, nhng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân thủ
theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm,
liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gơng cho nhân dân theo để lợi
cho nớc, cho dân [11. T6. tr 320-321].
lãnh đạo là đầy tớ trung thành của nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân,
ngời cán bộ cách mạng phải: trung hiếu, cần, kiệm, liêm, chính, chí
công, vô t.
Nhng trong thực tế những tàn d t tởng hám danh vẫn còn tồn tại
dai dẳng và gây ảnh hởng không nhỏ tới đội ngũ cán bộ, làm suy thoái
đạo đức của một bộ phận cán bộ.
T tởng lấy quyền uy, địa vị xã hội trấn áp cấp d ới, đặc quyền,
đặc lợi, dựa dẫm, nể nang, bình quân chủ nghĩa vẫn còn tồn tại trong
đầu óc một số vị lãnh đạo. Cán bộ nói chung và cán bộ quản lý trong
chế độ ta về cơ bản là tốt, vừa có đức vừa có tài tuy nhiên cũng cần có
sự kiểm tra giám sát, quản lý đội ngũ cán bộ, hết sức cảnh giác không
để cho những kẻ cơ hội làm lũng đoạn đội ngũ Đảng, làm giảm lòng
tin của dân, mất uy tín của Đảng.
3.3. ảnh hởng t tởng cục bộ địa phơng.
Hiện nay nớc ta đang trong quá trình tiến lên công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc, sự thành công hay thất bại của quá trình này phụ
thuộc vào trình độ năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo.
13
Tuy nhiên do ảnh hởng của đạo đức phong kiến cho nên một bộ
phận trong cán bộ lãnh đạo của ta vẫn còn những biểu hiện t tởng cục
bộ, địa phơng khá rõ nét nh:
Sẵn sàng buông lỏng quản lý, bao che, tiếp tay cho việc làm ăn
phi pháp, nạn làm hàng giả, nạn nhập khẩu một cách tràn lan các loại
hàng hoá mà trong nớc có thể sản xuất đợc, nạn trốn thuế.
Dùng các biện pháp hành chính tuỳ tiện tăng thu, giảm nhập lên
trên để tạo ngân sách riêng cho địa phơng
T tởng cục bộ địa phơng của một số cán bộ lãnh đạo đã gây ra
phục ảnh hởng tiêu cực của đạo đức phong kiến. Ta biết rằng, cơ sở
kinh tế - xã hội của đạo đức phong kiến chính là nền sản xuất nhỏ lạc
hậu, khép kín, tự cung, tự cấp. ở nớc ta hiện nay không còn quan hệ
kinh tế phong kiến, nhng yếu tố sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu còn
phổ biến; mặt khác, cộng với hậu quả của chiến tranh kéo dài và do
duy trì cơ chế tập trung quan liêu bao cấp quá lâu nên vẫn tồn tại
những điều kiện nhất định của t tởng đẳng cấp, địa vị; trọng nam khinh
nữ; coi thờng lớp trẻ Vì vậy, để khắc phục triệt để tàn d đạo đức
phong kiến cần phải xoá bỏ cơ sở kinh tế - xã hội của nó. Muốn vậy,
phải phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định h ớng xã
hội chủ nghĩa. Chỉ có nh vậy mới xoá bỏ đợc cơ sở kinh tế - xã hội của
đạo đức phong kiến, đồng thời từng bớc hình thành cơ sở kinh tế - xã
hội của đạo đức mới, đạo đức cách mạng.
Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển sẽ là điều kiện
quan trọng để xoá bỏ các kiểu quan hệ cộng đồng làng xã khép kín,
mở rộng quan hệ kinh tế trong và nớc ngoài. Đây chính là cơ sở kinh tế
cho việc khắc phục t tởng cục bộ, địa phơng, gia đình chủ nghĩa. Kinh
tế hàng hoá nhiều phần đòi hỏi những ngời tham gia sản xuất - kinh
doanh, cũng nh các chủ thể lãnh đạo, quản lý phải không ngừng học
hỏi, nâng cao kiến thức về mọi mặt. Điều này trực tiếp hoặc gián tiếp
góp phần khắc phục ảnh hởng của đạo đức phong kiến. Trong điều kiện
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, những yếu tố nh: chức vụ, cấp
bậc, giới tính, thâm niên, họ hàng, đồng hơng không còn đóng vai trò
quyết định. Quan hệ thị trờng sẽ công bằng với tất cả mọi ngời tham
gia sản xuất- kinh doanh. Vì kinh tế hàng hoá lấy hiệu quả phát triển
kinh tế, hiệu quả sản xuất - kinh doanh làm thớc đo năng lực của con
ngời. Cho nên, kinh tế hàng hoá nhiều thành phần loại bỏ, lựa chọn
cán bộ lãnh đạo, quản lý. Thói đạo đức giả làm láo, báo cáo hay, t tởng cục bộ địa phơng, coi thờng lớp trẻ không có đất để tồn tại. Vì
vậy, phát triển kinh tế hàng hoá nhìêu thành phần là điều kiện quan
con ngời xã hội chủ nghĩa [11. T9. tr 448].
Ngời chú ý nhiều đến việc giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ,
đảng viên làm nòng cốt, làm tấm gơng hớng dẫn và tổ chức quần
chúng. Đạo đức mới giúp cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân
16
dân lao động giác ngộ cách mạng, đấu tranh chống lại tàn d của đạo
đức cũ.
Để cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thấy rõ ảnh hởng xấu của đạo đức cũ đối với quá trình xây dựng xã hội mới. Chủ
tịch Hồ Chí Minh thờng xuyên nhắc nhở đội ngũ cán bộ lãnh đạo phải
tự rèn luyện mình để cảnh giác với tàn d đạo đức phong kiến thực dân,
đặc biệt là chủ nghĩa cá nhân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn chăm lo xây dựng đội
ngũ cán bộ đảng viên vừa có đức, vừa có tài, vừa hồng, vừa chuyên,
coi đó là nhiệm vụ chiến lợc lâu dài của cách mạng. Để xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội đòi hỏi Đảng và Nhà nớc phải vững mạnh,
nh vậy thì phải có đội ngũ cán bộ đảng viên có đầy đủ năng lực và
phẩm chất đạo đức để lãnh đạo, tổ chức quần chúng nhân dân thực
hiện tốt đờng lối, chính sách mà Đảng, Nhà nớc đề ra. Các tổ chức cơ
sở Đảng phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm túc, phải hoan
nghênh và khuyến khích quần chúng, chân thành phê bình cán bộ đảng
viên để xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.
3. Kế thừa và phát huy những mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu
cực trong Nho giáo
- ở nớc ta công cuộc đổi mới đã đi vào chiều sâu. Sau hơn 17
năm nhìn lại chúng ta có quyền tự hào về những chuyển biến vợt bậc
trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Những thành
tựu đó có phần đóng góp không nhỏ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản
chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Muốn ngăn ngừa, khắc phục có hiệu quả t tởng phong kiến ở đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cần phải chú trọng cuộc đấu tranh tự phê
bình và phê bình chống chủ nghĩa cá nhân đối với đội ngũ cán bộ. Bởi
lẽ, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của đạo đức cách mạng, là nguyên nhân
trực tiếp làm nảy sinh tệ tham nhũng, quan liêu, sự sa đọa về lối sống,
đạo đứcMột trong những giải pháp quan trọng để khắc phục chủ
nghĩa cá nhân là đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình không
phải là cóp nhặt những sai phạm lặt vặt trong sinh hoạt cá nhân rồi
nâng thành quan điểm, lập trờng để phê phán, hạ bệ nhau, làm nhục
nhau. Mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho mỗi cán bộ
lãnh đạo, quản lý phải phát huy đợc lơng tri, trách nhiệm của ngời
đảng viên. Chỉ có tinh thần trách nhiệm của Đảng viên, thì ng ời cán bộ
lãnh đạo, quản lý mới có thể đấu tranh quyết liệt với bản thân để đoạn
tuyệt với t tởng cá nhân chủ nghĩa, t tởng địa vị, đẳng cấp, gia trởng
Phê bình trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân ở đội ngũ cán bộ
18
lãnh đạo, quản lý đòi hỏi phải dựa trên tình cảm đồng chí, đồng đội,
chân thành giúp nhau nhận thấy sai lầm, khuyết điểm, hạn chế để cùng
nhau khắc phục, sửa chữa kịp thời.
Tự phê bình và phê bình tốt là thiết thực khắc phục chủ nghĩa cá
nhân, tăng cờng đợc vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, phát huy
tính tiền phong gơng mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên, kết hợp và phối
hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể xã hội, các cơ quan,chính quyền.
Tóm lại:
Lấy phơng pháp biện chứng duy vật mác xit và t tởng Hồ Chí
Minh làm cơ sở nhận thức, đồng thời phân biệt rõ những yếu tố tích
20
Tài liệu tham khảo
1. Phan Bội Châu, Khổng Học Đăng, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội
1998
2. Pham Đại Doãn, Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội 1998
3. Nguyễn Đăng Duy, Nho giáo với văn hoá Việt Nam - Nxb Hà Nội,
1998
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ 5, Ban chấp
hành Trung ơng khoá 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1998
5. Đảng Cộng sản, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ 9. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001
7. Dơng Xuân Ngọc (chủ biên), Lịch sử t tởng chính trị,
Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001
Nxb
8. Trần văn Giàu, ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trớc các
nhiệm vụ lịch sử, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1973
9. Vũ Kiêu, Nho giáo xa và nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1991
11. Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên), ảnh hởng của đạo đức phong kiến
trong cán bộ quản lý, lãnh đạo của Việt Nam hiện nay, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội 2001
11. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000
12. Phơng Kỳ Sơn (chủ biên), Lịch sử t tởng triết học, Nxb Chính trị
3.2. ảnh hởng t tởng đẳng cấp, quyền lực, đầu óc địa vị,
tâm lý hiếu danh..........................................................................15
3.3. ảnh hởng t tởng cục bộ địa phơng .........................................16
3.4. ảnh hởng t tởng trọng nam khinh nữ......................................17
Ch ơng III : Một số giải pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phục
22
từng bớc những yếu tố tiêu cực của đạo đức Nho giáo..............18
1. Thực hiện thắng lợi đờng lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa ......................................18
2. Giáo dục t tởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cho cán bộ
và chống tàn d chế độ phong kiến ........................................................20
3. Kết thừa và phát huy những mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực
trong Nho giáo (giải pháp cơ bản).........................................................21
4. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh tự phê bình và phê bình, chống chủ
nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ......................22
Kết luận.....................................................................................................24
Tài liệu tham khảo...................................................................................25
23