Thực trạng phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý ở Việt Nam hiện nay
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chon đề tài
Vấn đề bình đẳng giới là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia
trên thế giới trong những thập kỷ qua. Một trong những khía cạnh nằm trong
mối quan tâm ấy là hiện tượng phụ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý
đang ngày càng có xu hướng gia tăng.
Ngày nay, vấn đề giải phóng phụ nữ tăng cường sự tham chính của phụ
nữ đã và đang gắn liền với vấn đề bình đẳng giới và được thực hiện bằng hành
động thực tiễn chứ không chỉ dừng lại ở những khái niệm, ý tưởng trừu tượng
hay những tuyên bố pháp lý. Nhà xã hội học Chủ Nghĩa Xã hội không tưởng
Phurie (XIX) cho rằng: "Giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng của phụ
nữ cùng với nam giới là một thước đo của văn minh".
Việt Nam là một trong những quốc gia sớm tham gia ký và phê chuẩn
Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW). Việt Nam đang tích cực xây dựng một xã hội bình đẳng, dân chủ và
văn minh, vấn đề nam nữ bình quyền được chú trọng hơn bao giờ hết .Việt Nam
cũng là nước được Liên hiệp Quốc đánh giá cao trong việc nỗ lực rút ngắn
khoảng cách Bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm, tiền lương…
Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh
thần của phụ nữ, củng cố và tăng cường vị trí và đảm bảo quyền bình đẳng của
phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện và cơ hội cho cho phụ nữ tham gia ngày càng
nhiều hơn vào việc quản lý Nhà nước và xã hội.
Trước kia phụ nữ thường bị trói buộc trong phạm vi gia đình với những tư
tưỏng "trọng nam khinh nữ", "nam nội nữ ngoại"…nên cơ hội cho phụ nữ tham
gia các hoạt động xã hội nói chung và hoạt động lãnh đạo quản lý nói riêng hầu
như là không có. Nâng cao vị thế, vai trò phụ nữ, tạo điều kiện cho họ tham gia
vào hoạt động chính trị, vào công tác lãnh đạo quản lý là vấn đề hết sức cần thiết
Website:
Email :
2
Website:
Email :
phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý.Từ đó góp phần đưa ra những khuyến nghị,
giải pháp nhằm thúc đây quá trình giải phóng và nâng cao vị thế cho người phụ
nữ, hướng tới sự bình đẳng giới.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng của người phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo ởViệt
Nam hiện nay.
- Tìm hiểu một số bất cập mà phụ nữ hay vướng phải khi làm công tác
lãnh đạo
- Đưa ra các giải pháp hỗ trợ để tháo gỡ những bất cập này.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo,
quản lý ở Việt Nam hiện nay.
* Khách thể nghiên cứu: Những người phụ nữ Việt Nam tham gia công
tác lãnh đạo, quản lý.
* Phạm vi nghiên cứu:
+ Truy cập internet với các trang web có liên quan .
+ Các văn bản, các báo cáo của các tổ chức như văn phòng quốc hội, Bô
nội vụ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
+ Những bài viết về chủ đề phụ nữ và bình đẳng giới trên các trang báo
điện tử
+ Các sách báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan tới: Tạp chí Xã hôi
học, Tạp chí Giáo dục và lý luận, tạp chí khoa học xã hội…
5. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Chủ nghĩa Duy vật biện chứng: Khi xem xét đánh giá mọi hiện tượng, sự
kiện xã hội phải đặt trong mối quan hệ toàn diện vơi điều kiện kinh tế- xã hội
Năng
lực
Gánh
nặng
Gia
đình
Chính
sách
xã
hội
Phong
tục
truyền
thống
Định kiến giới
Phụ nữ tham gia lãnh đạo,
quản lý
Điều kiện kinh tế - xã
hội
Website:
Email :
Chương I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
1.1. Lý thuyết nghiên cứu giới và phát triển
Giới và phát triển (GAD) là cách tiếp cận cho rằng: tiếp tục chú trọng đến
phụ nữ một cách tách biệt là bỏ qua một thực tế là nam giới có vị thế áp đảo với
phụ nữ. Khi kiện định quan điểm cho rằng không nên nghiên cứu phụ nữ một
cách tách rời, GAD đã chú trọng đến các mối quan hệ giới khi đề ra các biện
không có cái nhìn thiên lệch về giới nào.Từ đó, có thể đưa ra các giải pháp,
khuyến nghị hữu hiệu nhằm thiết lập sự bình đẳng giới trên mọi mặt, phát huy
năng lực và khả năng sáng tạo của cả hai giới đóng góp vào sự phát triển chung
của cả đất nước.
1.3. Lý thuyết tương tác biểu trưng giới
Lý thuyết này cho rằng: "mối tương quan giới là sản phẩm của quá trình
tương tác giữa các cá nhân nam và nữ. Mối tương tác này bị quy định bởi các
quy tắc,các biểu tượng, các ký hiệu và được bộc lộ qua các hành vi, thái độ và
suy nghĩ của nhau trong quá trình giao tiếp.Trong giao tiép hàng ngày đã hình
thành nên một phức hợp các biểu tượng có ý nghĩa chung là phân biệt địa vị, lao
động và hành vi giới [4,24]
Vai trò giới được xác định thông qua hàng loạt các hệ thống biểu tượng
do chính người phụ nữ và nam giới tạo ra và sử dụng trong cuộc sống hàng
ngày.
Theo quan niệm truyền thống thì nam giới có tính cách mạnh mẽ, độc lập,
quyết đoán…do đó có vai trò đối ngoại, phụ nữ rụt rè, lệ thuộc, sống tình cảm
nên đảm nhận vai trò đối nội trong gia đình.Trong giao tiếp hàng ngày vì thế đã
hình thành nên những biểu tượng tuân theo sự phân công ấn định như vậy. Do
vậy khi có sự thay đổi trong hệ thống biểu tượng mà ở đây là sự tham gia và
thành công trong công tác lãnh đạo, quản lý của phụ nữ thì theo lý thuyết tương
tác biểu trưng giới sẽ tạo ra những phản ứng đáp lại từ xã hội, thiết lập nên các
biểu tượng mới, xác định địa vị và tương ứng là vai trò của mỗi giới.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
7
Website:
Email :
Trong vài thập kỷ gần đây, Giới là vấn đề được đông đảo các quốc gia
trên thế giới quan tâm , nhìn nhận và đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau
thông qua nhiều hội nghị thế giới và khu vực.
Email :
( Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng, NXB PHụ nữ, Hà Nội, 2000); " Mười năm
bước tiến của phụ nữ Việt Nam" ( Lê Thi, Đỗ Thị Bình, Nxb Phụ nữ hà Nội,
1997); "Phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới trong đổi mới" ( Nxb Pụ nữ,1998); …
3. Những khái niệm công cụ
3.1. Khái niệm giới
- Theo điều 5, luật bình đẳng giới của Quốc Hội khoá XI, kỳ họp thứ 10
số 73/2006/QH 11 ngày 29 tháng 11-2006: "Giới chỉ đặc điểm của, vị trí, vai trò
của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội". Nó luôn luôn biến đổi theo
thời gian và có sự khác biệt theo không gian và thời gian.
- Giới là phạm trù chỉ vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ
nữ.Nói đến mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam
giới và phụ nữ, liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế và xã hội chứ
không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một người nam giới và một người phụ
nữ nào.
Các vai trò giới là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở phụ
nữ và nam giới liên quan đến những đặc điểm và năng lực mà xã hội coi là thuộc
về đàn ông hay đàn bà (trẻ em trai hay trẻ em gái) trong một xã hội hoặc một
nền văn hoá nào đó. Đó cũng là các mối quan hệ qiữa phụ nữ và nam giới: ai
nên làm gì, ai là người ra quyết định, khả năng tiếp cận các nguồn lực và các lợi
ích.Thông thường mọi người thường phải chịu rất nhiều áp lực buộc phải tuân
thủ các quan niệm xã hội này.
- Phân biệt giữa khái niệm GIỚI(Gender) và GIỚI TÍNH (Sex): Giới tính
là khái niệm dùng để chỉ những sự khác biệt về mặt sinh học giữa phụ nữ và
nam giới, đặc biệt là khái niệm về chức năng sinh sản.Nếu như giới là sản phẩm
của xã hội thì giới tính là sản phẩm của sinh học, giới có thể thay đổi thì giới
tính lại bất biến không thay đổi…
3.2. Bất bình đẳng và bất bình đẳng giới
- "Bình đẳng giới được coi là sự bình đẳng về pháp luật, về cơ hội tiếp
cận(bao gồm cả nguồn vốn, nguôn lực và thành quả lao động). về tiếng nói , tức
nghĩa vụ xác định. Đó là sự lượng giá, sự thẩm định của xã hội về phẩm chất
hay uy tín của một người nào đó tương ứng với cương vị của anh ta.[6,30]
10
Website:
Email :
Chương II:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Tình hình phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trên thế giới
Phụ nữ trên thế giới nhìn chung trong vài thập kỷ qua đã đạt được rất
nhiều tiến bộ trong việc tham gia chính quyền ở các cấp và ngày càng chiếm giữ
những vị trí quan trọng như Tổn thống, Thủ tướng, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Đại
biểu Quốc hội…Tuy nhiên chưa ở nước nào có phụ nữ bình đẳng hoàn toàn so
với nam giới trong lĩnh vực này và các vị trí chủ chốt ra quyết định vẫn chủ yếu
do nam giới nắm giữ.
Tại Hội nghị thế giới lần thứ 4 họp tại Bắc Kinh (Trung Quốc) tháng 9
năm 1995 vấn đề phụ nữ tham gia hoạtđộng chính trị và lãnh đạo đất nước rất
được quan tâm bởi các đại biểu đại diện chính phủ cũng như diễn đàn các tổ
chức phi chính phủ.
Hiện nay, ở các nước trên thế giới, phụ nữ tham gia quốc hội đạt tỷ lệ cao
chưa từng có.Theo Liên minh nghị viện thế giới (IPU), trong năm 2006 tỷ lệ phụ
nữ tham gia quốc hội là 17%, tăng 11% so với 12 năm trước.
Một kỷ lục khác là phụ nữ cũng được bầu làm chủ tịch tại 35/262 hội nghị
hoặc nghị viện trên thế giới, trong đó có những nước lần đầu bầu phụ nữ làm
chủ tịch quốc hội như Gambia, Israel, Swaziland, Turkmenistan và Mỹ - nơi bà
Nancy Pelosi hiện là Chủ tịch Hạ Viện.Tuy nhiên tỷ lệ phụ nữ tham gia quốc hội
tăng chậm.Các nước có tỉ lệ phụ nữ tham gia cao nhất trong quốc hội là Rwanda
và Thụy Điển với gần 50%, tiếp đến là các nước Costa Rica, Phần Lan, Na Uy,
Đan Mạch.
Ở Canada, phụ nữ chiếm 35% trong quốc hội, Đức: 31,6%, các tiểu
đông đảo của phụ nữ trong chính phủ Na Uy đã thúc đẩy việc thực hiện các
quyền của phụ nữ,bảo vệ hoà bình, bảo vệ môi trường và viện trợ nhằm mục
đích phát triển. Hay tại Thụy Điển , phụ nữ tham gia hoạt động cả trong và
ngoài chính phủ đã tích cực góp phần vào việc ngăn chặn sự tham gia của các
nước này vào cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân [7]. Phụ nữ đã chứng tỏ được vai
trò quan trọng của họ trong việc giải quyết xung đột, chống đói nghèo trên toàn
thế giới, nhưng tỷ lệ lãnh đạo nữ vẫn còn rất hạn chế dù đã được cải thiện.
12
Website:
Email :
Khảo sát của EC tại 262 Thượng viện và Hạ viện ở 189 quốc gia trên toàn
thế giới cho biết chỉ có 30 phụ nữ đứng đầu cơ quan lập pháp. Trong khu vực
EU, 24% ghế nghị sĩ hiện do phụ nữ chiếm giữ, so với 16% cách đây 1 thập kỷ.
( />toan-the-gioi/70115639/159/Thứ bảy, 08 Tháng ba 2008, 09:15 GMT+7 ) )
Theo khảo sát của EC, mặc dù vấn đề bình đẳng giới ngày càng được
quan tâm và cải thiện, nhưng phái yếu cũng chỉ chiếm 24% ghế Bộ trưởng trong
các Chính phủ. Phụ nữ đang chiếm đa số trong Chính phủ Phần Lan, Na Uy. Tại
Thụy Điển, 46% quan chức Chính phủ là phái nữ và tỷ lệ này ở Tây Ban Nha là
41%. Ngược lại, ở Thổ Nhỹ Kỳ chỉ có một phụ nữ là thành viên Nội các. Tại
quốc gia Đông Âu Rumania không có phụ nữ nào là thành viên Chính phủ. Một
số quan chức châu Âu vừa đề nghị, phụ nữ nên nắm quyền lãnh đạo ít nhất 1
trong 3 cơ quan của EU là Nghị viện châu Âu, EC và Hội đồng châu Âu. Hiện
cả 3 cơ quan này đều do nam giới đứng đầu. Trong số 12 Chủ tịch Nghị viện
châu Âu kể từ 1979 đến nay, chỉ có 2 phụ nữ.
/>ArticleID=113961&ChannelID=5)
Theo như nhận định của Tổ chức Châu Á (AF),trụ sở tại Mỹ, đưa ra trong
báo cáo nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3 năm nay: Phụ nữ đang đảm nhận những
vai trò lãnh đạo lớn hơn trong chính trị và kinh doanh ở Châu Á nhưng sự hiện
diện của họ trong các cơ quan bầu cử ở cấp quốc gia vẫn còn ít.Theo thống kê
Campuchia
Inđônêxia
Hàn Quốc
17.8
11.8
10.4
9.2
9.0
8.0
5.9
(Nguồn: Tổ chức Liên minh Quốc hội,2002)
Việt Nam là nước có tỷ lệ nữ Đại biểu Quốc hội cao nhất ở Châu Ấ và
đứng thứ hai trong khu vực châu Á – TBD, sau Niu di-lân (29.2%).Chỉ có 10
quốc gia trên thế giới có số nữ nghị sĩ Quốc hội cao hơn tỷ lệ trên (Cu Ba, Đan
Mạch, Phần Lan, Đức, Iceland, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Nam Phi và Thuỵ
Điển).
Những con số trên phần nào thể hiện được tình hình lãnh đạo của phụ nữ
trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng . Những con số ấy cho thấy xu
hướng gia tăng nhưng phụ nữ vẫn chưa có đại diện đầy đủ trong chính quyền,
đảng phái chính trị và ở cả Liên hiệp Quốc.
2. Thực trạng tình hình phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam
2.1. Phụ nữ Việt Nam tham gia lãnh đạo, quản lý trong lịch sử
Đánh giá vai trò của phụ nữ đối với lịch sử phát triển của đất nước, Chủ
Tịch Hồ Chí Minh đã nói: "non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta,trẻ cũng
như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ "[8, 432]
Hình ảnh người phụ nữ Việt nam đã được in đậm trong lịch sử chống giặc
ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc của đất nước trong hàng chục thế kỷ.
Hình ảnh Hai Bà Trưng với hàng trăm nữ tướng và đội quân nữ tham gia khởi
nghĩa (năm 40 SCN) đã tạo nên truyền thống anh hùng bất khất của dân tộc
ta.Trưng Vương đi vào lịch sử như một nữ anh hùng của dân tộc, là người phụ
tác lãnh đạo và quản lý được thể hiện trong các văn bản về chủ trương đường lối
của Đảng liên quan đến vấn đề về phụ nữ tham gia lãnh đạo và quản lý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản di chúc đã ghi rõ: "Đảng và Chính phủ
ta cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ để người
phụ nũ phụ trách ngày thêm nhiều mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản
15
Website:
Email :
thân người phụ nữ thì phải cố gắng. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền
bình đẳng cho phụ nữ" [ 10, 12]
Chỉ thị số 44 CT/TW ngày 7/6/1984 của Ban chấp hành TW Đảng chủ
trương "tiếp tục thực hiện nam - nữ bình đẳng, nâng cao vai trò cán bộ nữ trong
quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước". Để đảm bảo chủ trương này được thực hiện
một cách nhất quán và xuyên suốt, Chỉ thị đã nêu rõ: " Vấn đề cán bộ nữ phải
đặt trong việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ nói chung của Đảng và
Nhà nước". Nghĩa là chủ trương đưa vấn đề tiến bộ của phụ nữ trong công tác
lãnh đạo và quản lý vào trong dòng chính, trong guồng máy thường xuyên của
Nhà nước bảo đảm tính bền vững và lâu dài.Theo tinh thần đó, chỉ thị tiếp tục
nhấn mạnh: " Điều cần hết sức chú ý là sau khi đề bạt phải tiếp tục bồi dưỡng
tạo điều kiện để chị em hoàn thành nhiệm vụ " [11,13]
Nhất quán với đường lối đã định, mười năm sau, ngày 16/5/1994, Chỉ thị
37 CT-TW lại tiếp tục nêu: "Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý
Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là yêu cầu quan trọng để thực sự thực hiện
quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng trí tuệ
và nâng cao địa vị của phụ nữ "
Một năm sau tại Hội nghị thế giới về phụ nữ tổ chức tại Bắc kinh (Trung
Quốc) tháng 9/1995, chính phủ Việt Nam đã cùng các nước nhất trí thông qua
cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000 nhằm thúc đẩy sự
tiến bộ và tăng cường quyền lực cho phụ nữ trên thế giới.Thực hiện cương lĩnh
XI (2002 – 2007) 136 498 27.31
17
Website:
Email :
X (1997 – 2002) 118 450 26.22
IX (1992 – 1997) 73 395 18.48
VIII (1987 – 1992) 88 496 17.74
VII (1981 – 1987) 108 496 21.77
VI (1976 -1981) 132 492 26.83
V (1975 -1976) 137 424 32.31
IV (1971 – 1975) 125 420 29.76
III (1964 -1971) 62 366 16.94
II (1960 -1964 ) 49 362 13.54
I (1946 -1961) 11 403 2.7
(Nguồn: Tác giả xử lý trên cơ sở số liệu của Văn phòng Quốc hội) [11,151]
Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, quyết định các vấn đè trọng yếu
của đất nước. Sự gia tăng nữ Đại Biểu Quốc hội có ý nghĩa chính trị và xã hội
hết sức to lớn. đặt những con số này với một số nước trong khu vực ( Trung
Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc…) có thể thấy được sự vượt bậc của phụ nữ nước ta.
Ghi chú: Từ 1 đến 12 là từ khoá I đến khoá XII
Biểu 1: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội qua các kỳ
Quan sát biểu 1 ta có thể thấy được sự biến đổi về tỷ lệ nữ Đại Biểu Quốc
hội diến ra theo 3 giai đoạn.Giai đoạn đầu từ khoá I đến khoá V số lượng nữ đại
biểu tăng một cách nhanh chóng và dần đều qua các khoá, cao nhất là 32.3 %
vào khoá V (1975-1976), con số cao nhất từ trước tới nay. Giai đoạn 2, ngay
trong khoá sau – khoá VI (1976-1981), là thời điểm chiến tranh vừa kết thúc thì
nam giới lại khẳng định được vị trí ban đầu của mình còn tỷ lệ nữ đại biểu thì
18
Website:
Khoá X(1997-2002) Khoá XI(2002-2007)
Số người Tỷ lệ % Số người Tỷ lệ %
Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ
UBTV Quốc hội:
- Chủ tịch
- Phó chủ tịch
10
1
4
0
71.4
100.
28.6
0.00
11
1
2
0
84.6
100
15.4
0.00
Các Uỷ Ban khác: 191 57 77.0 23.0 224 71 75.9 24.1
19
Website:
Email :
- Chủ tịch
- Phó chủ tịch
6
8
1
7
3
0
3
72.7
100
70.0
27.3
0.00
30.0
(Nguồn : Văn phòng Quốc hội,2003) [12, 41]
(
(*) :
Tác giả xử lý số liệu dực trên số liệu của Văn phòng QH )
Một thực tế không thể phủ nhận là tỷ lệ nữ đại biểu trong Quốc hội không
chỉ ngày càng có xu hướng gia tăng về số lượng mà còn cả về trình đọ và chất
lượng khi họ tham gia công tác quản lý, lãnh đạo.
Bảng 4. Số lượng và tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội có trình độ từ đại học trở lên
Khoá Tổng số nữ ĐBQH Trình độ từ ĐH trở lên
Số lượng Tỷ lệ %
VI (1976-1981) 132 14 10.6
VII (1981-1987) 108 12 11.1
VIII (1987 – 1992) 88 43 48.9
IX ( 1992-1997) 73 43 58.9
X (1997 – 2002) 118 104 88.1
XI (2002-2007) 136 125 91.9
XII (2007-2012)
(*)
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Toàn quốc
Đồng Bằng Sông Hồng
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung Bộ
Duyên Hải Nam Trung Bộ
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Đồng Bằng Sông CL
73
19
9
4
9
6
4
9
13
18.5
17.6
22.5
8
19
32
27.3
24.0
30.6
31.6
20.3
28.0
25.8
25.7
33.3
(Nguồn: Báo cáo hành chính của Văn phòng Quốc hội,2003) [12,44]
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy rõ một điều rằng tỷ lệ nữ đại biểu
Quốc hội (ĐBQH) tại một số vùng như Tây Bắc và Đồng Bắng Sông Cửu Long
luôn vượt trội hẳn so với tỷ lệ nữ đại biểu toàn quốc.Nếu như khoá IX tỷ lệ nữ
đại biểu Quốc hội toàn quốc là 18.5% thì ở Tây Bắc là 28.7%, vào khoá X, tỷ lệ
nữ ĐBQH là 26.2% thì ở Tây Bắc chiếm tới 37.5%, ở Đồng Bằng Sông Cửu
Long chiếm 31.5%.Sang khoá tiếp theo XI vẫn tiếp diễn. Điều đặc biệt ở đây là
Đồng Bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ là 2 khu vực có 2 thành phố lớn là Hà
Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh ( là 2 trung tâm kinh tế-văn hoá-chính trị của
gương mặt đất nước ) thì tỷ lệ nữ ĐBQH ở các khu vực này đều thấp hơn hẳn
so với tỷ lệ chung của cả nưởctong 3 khoá gần đây. Ngược lai, một số vùng có
điều kiện kinh tế- xã hội hạn chế , khó khăn thì tỷ lệ nữ ĐBQH lại có xu hướng
gia tăng qua các khoá.
21
Website:
Email :
thấp. Nhiệm kỳ (1989-1994) giảm xuống tương ứng ở các cấp so với nhiệm kỳ
trước.Nhưng đến các nhiệm kỳ sau lại tăng lên , cụ thể ở nhiệm kỳ gần đây
(2004-2009) đã tăng lên ttương ứng ở các cấp là: 23.95, 23.0%, 19.5%.
Tỷ lệ nữ trong các cơ quan dân cử (HĐND các cấp) ngày càng tăng,
nhiệm kỳ 2004-2009 cao hơn so với nhiệm kỳ trước.Toàn quốc có 3 Chủ tịch,
32 Phó Chủ tịch UBND là nữ, tăng gấp rưỡi so với nhiệm kỳ 1999-2004.
2.3.2. Trong cơ quan hành pháp
Trong cơ quan hành pháp vị thế của phụ nữ cũng được nâng cao, song
vẫn không đáng kể. Ở cấp TW đã có 1 nữ phó chủ tịch nước mà trước đây
không có. Số lượng nữ thứ trưởng, bộ trưởng cũng tăng lên. Tuy nhiên, lại cứ
xuống cấp cơ sở thì tỷ lệ lại càng thấp. Điều này chưa tương xứng với sự phát
triển của đội gnũ cán bộ nữ hiện nay.
Bảng 7. Cán bộ nữ tham gia quản lý Nhà nước %()
Chức danh
Nhiệm kỳ
(1889-994)
Nhiệm kỳ
(1994- 1999)
Nhiệm kỳ
(1999-2004)
22
Website:
Email :
Phó Chủ tịch nước 16.67 100.0 100.0
Bộ trưởng & tương đương 9.50 11.90 11.29
Thứ trưởng & tương đương 7.00 7.30 12.85
Vụ trưởng & tương đương 13.30 13.0 12.10
Vụ phó & tương đương 8.90 12.10 8.10
( Nguồn : Ban tổ chức cán bộ Chính phủ, 2003) [12,50]
8.43
11.70
16.00
Cấp xã / phường
Chủ tịch
Phó chủ tịch
2.17
3.11
3.02
2.40
(Nguồn: Ban tổ chức chính phủ , 2003 ) [12]
Tỷ lệ nữ lao động trong cấp chính quyền địa phương từ tỉnh trở xuống có
xu hướng tăng trong những năm gần đây nhưng không đáng kể, còn các cấp
huyện, xã không tăng mà còn giảm xuống.Cũng giống như trong hệ thống
HĐND, càng xuống cấp cơ sở thì tỷ lệ nữ cán bộ càng thấp.
Tỷ lệ nữ cán bộ quản lý Nhà nước ở cấp TW có tăng nhưng không đáng
kể, chủ yếu ở lĩnh vực văn hoá - xã hội. Ở các ngành như kinh tế, công nghiệp,
khoa học và công nghệ…ít có nữ giới giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt như bộ
trưởng, thứ trưởng.
2.3.3. Trong cơ quan tư pháp
Tỷ lệ nữ tham gia công tác trong các cơ quan pháp luật cũng tăng lên, góp
phần vào việc bảo vệ trật tự, kỷ cương, giữ nghiêm phép nước và cũng nhằm
góp phần bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em.
Bảng10: Tỷ lệ nữ làm công tác pháp luật
24
Website:
Email :
Chức danh Năm 1989 Năm 1992
Tỷ lệ nữ tham gia cấp Đảng ít khi nắm giữ những vị trí quyết định.Tỷ lệ
trung bình nữ Bí thư chỉ vào khoảng 3- % đến 8% ở mọi cấp. Mặt khác, đa số
những thành viên nữ trong cấp Uỷ Đảng thường đảm nhận những công việc
hành chính, công tác kiểm tra, dân vận hơn là những nhiệm vụ mang tính chiến
lược.
25