THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KCN, KCX Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 63

Thực trạng xây dựng và phát triển các KCN,
KCX ở Việt nam hiện nay
I.Vài nét về tình hình đầu t nớc ngoài ở Việt Nam hiện nay
Quốc hội nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII chính thức
thông qua luật đầu t nớc ngoài (ĐTNN) ngày 29/12/1987 có hiệu lực thực hiện từ
đầu năm 1988 và đã qua 4 lần sửa đổi bổ xung năm 1990, 1992, 1996 và năm
2000. Ngay từ khi Luật này mới ra đời, nhiều nớc và tổ chức kinh tế nớc ngoài đã
đánh giá cao tính khả thi và cho rằng đây là một sân chơi hấp dẫn nên đã có rất
nhiều đối tác lần lợt đến với Việt Nam.
Trong 14 năm qua, cùng với công cuộc đổi mới kinh tế, hoạt động ĐTNN
đã diễn ra rất sôi nổi và đạt đợc những kết quả bớc đầu rất đáng thuyết phục. Mặc
dù Việt Nam thu hút FDI muộn hơn so với nhiều nớc khác trong khu vực, nhng
dòng FDI vào Việt Nam có chiều hớng tăng nhanh sau ba năm đầu thực hiện luật
thu hút FDI.
Nếu bình quân giai đoạn 1988-1990, Việt Nam chỉ thu hút đợc 1783 triệu
USD (vốn đăng ký) thì các năm sau dòng vốn này đã liên tục tăng và đạt tới 8836
triệu USD trong năm 1996.Tuy nhiên từ năm 1997, do tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính châu á và những yếu kém trong môi trờng đầu t nớc ngoài ở Việt
Nam, dòng vốn này đã giảm mạnh và chỉ đạt đợc gần 2000 triệu USD trong năm
1998. Tính đến tháng 8-1998, Việt Nam đã thu hút đợc 37202 triệu usd trong đó
vốn thực hiện mới đạt đợc 14120 triệu usd, chiếm 38,2% vốn đầu t đăng kí.[5]
FDI ở Việt Nam trong những giai đoạn này chủ yếu đợc thực hiện theo các
hình thức nh: Hợp đồng hợp tác kinh doanh, Doanh nghiệp liên doanh, Doanh
nghiệp 100% vốn nớc ngoài và BOT. Nhng đến năm 1998 thì các dự án đầu t nớc
ngoài còn hiệu lực là 33960 dự án trong các hình thức đầu t trên.Tuy nhiên, FDI ở
nớc ta chủ yếu tập chung vào các ngành công nghiệp, khách sạn và văn phòng căn
hộ, cha hớng vào phát triển các KCN, KCX , KCNC.
Trong giai đoạn này, các ngành công nghiệp đã thu hút đợc FDI rất lớn, đặc biệt là ngành dầu khí, thu
hút đợc nhiều FDI nhất, gần 3000 triệu usd vốn đăng kí trong đó vốn thực hiện lên tới 5000 triệu usd (đạt
mức 167% vốn đăng kí). Tiếp theo đó là ngành : Dệt may, viễn thông, ôtô, hoá chất, điện tử. . .
Dòng vốn trong thời gian này chủ yếu đến từ khu vực Châu á-Thái Bình Dơng (23099 triệu usd chiếm

Đầu t nớc ngoài vào Việt Nam ngày càng có cơ cấu đầu t hoàn thiện hơn về ngành, lãnh vực và các
vùng khác nhau thể hiện là: Chú trọng đầu t vào KCX, KCNC, đồng thời đến năm 2002 nớc ta đã có 58 tỉnh
thành có vốn đầu t nớc ngoài. Nhìn chung, tất cả 58 địa bàn trong cả nớc đều thu hút đợc nhiều dự án đầu t nớc
ngoài và nhiều dự án đợc cấp giấy phép hoạt động. Do đó, cơ cấu đầu t nớc ngoài đồng đều cho các ngành, lĩnh
vực, từng địa bàn nên việc tiến tới quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá có nhiều thuận lợi do việc phát triển
đồng đều kinh tế trên các địa bàn.
Các dự án đầu t nớc ngoài đã dần chuyển hớng tập chung ở các KCX và KCN với 25 dự án và vốn 88,4
triệu usd vốn pháp định, 50, 4 triệu usd trong đó phía nớc ngoài góp 95,7%. Bình quân mỗi dự án có vốn đầu
t là 3,53 triệu usd tuy nhiên số vốn đầu t nớc ngoài cho mỗi dự án có xu hớng tăng dần so với những năm trớc.
Sang năm 2002, Bộ Kế Hoạch và Đầu T cho biết thực hiện vốn đầu t phát triển toàn xã hội 9 tháng đầu
năm ớc đạt 135.400 tỷ đồng, bằng 77,4% kế hoạch năm và tăng 12,5% so với cùng kì năm trớc, trong đó vốn của
nhà nớc(bao gồm vốn ngân sách của nhà nớc, vốn tín dụng và vốn của các ngân sách của nhà nớc) đạt khoảng
73.500 tỷ đồng, tăng 8,4%, vốn ngoài quốc doanh tăng 37.800 tỷ đồng, tăng 32,6% và vốn trực tiếp nớc ngoài ớc
khoảng 24.100 tỷ đồng tăng 9,5%.
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9 năm 2002 của cả nớc tăng 1,9% so với tháng trớc và tăng 17,1%,
so với cùng kì năm 2001. Trong khi sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế nhà nớc chỉ tăng 0,2% so với
tháng trớc và 11,7% so với cùng kì 2001, toàn ngành công nghiệp đạt kết quả nêu trên trớc hết là nhờ sản xuất
công nghiệp của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài đã có bớc đột phá quan trọng, với mức tăng tơng ứng là 3,4% và
21,9% trong đó ngành dầu khí tăng 4,9% và 16,4%. Ngoài ra, sản xuất công nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc
doanh vẫn giữ đợc mức độ tăng và 19,8%. Sau đây là tình hình sản xuất công nghiệp tháng 9/2002 so với cùng kì
năm ngoái:
Bảng 1: Tình hình sản xuất công nghiệp tháng 9/2002 so với
cùng kỳ năm ngoái.
Địa bàn có mức tăng cao Ngành nghề có mức tăng cao
T.P HCM 23,6% Dầu khí 16,4%
Hà Nội 36,3% Điện phát ra 14,7%
Hải Phòng 30,8% Thuỷ sản chế biến 27,7%
Đà Nẵng 12,6% Xi măng 19,3%
Ôtô 64%
Xe máy 91,1%

u đãi hơn cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN nói chung trong đó có doanh
nghiệp KCN. Tuy nhiên, Nghị định này cha giải quyết đợc vấn đề phân biệt đối xử
giữa hai hệ thống doanh nghiệp.
Nhằm từng bớc xoá bỏ sự khác biệt về điều kiện kinh doanh giữa doanh
nghiệp trong nớc với doanh nghiệp có vốn ĐTNN, Thủ tớng chính phủ đã ban
hành Quyết định 53/1999/QĐ-TTg ngày 26/3/1999 qui định giảm giá một số hàng
hoá, dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp có vốn ĐTNN, ngời nớc ngoài ví dụ giá
bán điện, giá cớc viễn thông, giá nớc sạch; một số khoản phí và lệ phí theo quyết
định này cũng đợc miễn giảm nh lệ phí đặt văn phòng đại diện giảm từ 5000 USD
xuống còn 1 triệu VND (giảm gần 70 lần) không cần cả lệ phí gia hạn, lệ phí nộp
đơn xin giấy phép đầu t cũng đợc bãi bỏ. Quyết định 53/TTg còn quy định dùng
đồng tiền Việt Nam để thanh toán các loại giá dịch vụ, phí và lệ phí. Tuy nhiên
việc thực hiện các quy định này diễn ra rất chậm.
Ngoài ra việc cho phép các doanh nghiệp KCN thuê lại đất của doanh
nghiệp phát triển hạ tầng đợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nh các
doanh nghiệp ngoài KCN nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp huy động vốn
sản xuất, kinh doanh và yên tâm đầu t là rất cần thiết. Để giải quyết vấn đề này,
Quýêt định 53/TTg đã qui định doanh nghiệp KCN, KCX đợc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn hợp đồng ký với doanh nghiệp xây dựng và
kinh doanh hạ tầng KCN, KCX.
Nhằm xích gần thêm một bớc giữa các qui định pháp luật về đầu t trong n-
ớc và ĐTNN để tiến tới một luật đầu t thống nhất, tạo thế chủ động trong hội
nhập quốc tế và không ngừng tạo dựng môi trờng pháp lý đồng bộ theo hớng
thông thoáng, ổn định cho hoạt động ĐTNN, ngày 9/6/2000 Chính phủ nớc ta lại
chính thức thông qua Luật ĐTNN sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ĐTNN
năm 1996. Đối với hoạt động của KCN, Luật sửa đổi lần này áp dụng cho các
doanh nghiệp KCN và cả các công ty phát triển hạ tầng, tiếp tục thể hiện nguyên
tắc khuyến khích các doanh nghiệp có vốn ĐTNN vào KCN nh: thuế chuyển lợi
thấp hơn (3, 5, 7% thay cho 5, 7, 10%), thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp
hơn và thời hạn miễn giảm dài hơn so với các doanh nghiệp cùng loại đầu t ngoài

hiệu lực quản lý nhà nớc đối với KCN, rút ngắn hơn thủ tục hành chính, phần nào
giải tỏa về mặt tâm lý cho các nhà ĐTNN về chính sách của chúng ta đối với khu
vực ĐTNN nói chung và KCN nói riêng.
2. Tình hình xây dựng và phát triển các KCN, KCX trong thời gian qua
2.1. Phân bố theo vùng và thời điểm thành lập
Nhìn chung, các KCN, KCX ở Việt Nam phân bố vừa rải rác, vừa tập chung
nhng không hiệu quả và đặc điểm này là một trong những nguyên nhân dẫn đến
tính không hiệu quả của việc sử dụng các KCN, KCX nêu trên.
Tính rải rác của các KCN, KCX thể hiện ở việc có 27 tỉnh thành có KCN,
3 tỉnh thành có KCX. Số lợng không phải là cơ sở để đánh giá. Cơ sở để đánh giá
đây là sự tồn tại của các KCN ở một số địa phơng là cha cần thiết. Một thời
gian trớc đây và kể cả hiện nay, phong trào xây dựng các KCN nổi lên nh một xu
thế mà nhiều địa phơng quan niệm rằng không thể không theo. Trên toàn lãnh thổ
nớc ta , các KCN tập chung tại 3 vùng kinh tế trọng điểm. Tại vùng kinh tế trọng
điểm phía Bắc, chúng ta có 17 khu, riêng Hà Nội đã chiếm 7 khu trong số này.
Các KCN của Hà Nội trong 8 tháng đầu năm 2002 đã thu hút đợc 52 dự án với
tổng vốn đăng ký 567 triệu USD, triển khai trên tổng diện tích 964 ngàn m
2
.Kết
quả này theo đánh giá của ban quản lý KCN thì nó trực tiếp góp phần tích cực
trong việc tăng tốc độ sản xuất công nghiệp chung so với cùng kỳ năm trớc.
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 42 khu(chiếm 2/3 số KCN trong cả
nớc). Trong đó có 12 khu của thành phố Hồ Chí Minh.Các KCN ở thành phố Hồ
Chí Minh thu hút đợc 126 dự án đầu t với tổng vốn đầu t là 827,6 triệu USD. Diện
tích đất cho thuê lại là 273 ha, chiếm 23% tổng diện tích cho thuê. Thành phố Hồ
Chí Minh có KCX Tân Thuận đợc xếp hàng thứ 3 trong số 10 KCX thành công
nhất Châu á và cũng là KCX thành công thứ 2 ở Việt Nam hiện nay. KCX Tân
Thuận có diện tích 300 ha đến nay thu hút đợc 156 dự án đầu t với tổng vốn đầu t
794 triệu USD, diện tích đất cho thuê là là 113 ha, chiếm 52% diện tích có thể cho
thuê.

Hoà Lạc, cách thủ đô Hà Nội 30 km, nơi tập chung các nhà khoa học và các cơ sở
nghiên cứu, đào tạo hàng đầu của Việt Nam, đang trở thành nơi hấp dẫn thu hút
các công nghệ cao, các nhà nghiên cứu khoa học, thực hiện việc nghiên cứu - triển
khai khoa học - công nghệ .
Khu vực miền Trung từ Thanh Hoá đến Khánh Hoà thuận lợi cho việc phát
triển các dự án đầu t trong lĩnh vực hoá dầu, công nghiệp nặng và các lĩnh vực
công nghiệp khác liên quan đến việc khai thác lợi thế của một mạt bằng công
nghiệp rộng lớn, có cảng nớc sâu, sân bay, cung cấp điện nớc. Việc hợp tác với n-
ớc ngoài ở khu vực này sẽ đa dạng hơn nhằm khai thác lợi thế nằm trên hành lang
Đông Tây, từ Mianma, Nam Trung Quốc qua Lào sang Việt Nam.
Những chùm KCN tại các tỉnh phía Nam xung quanh khu vực thành phố
Hồ Chí Minh nh Đồng Nai, Bình Dơng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An mở rộng
đến Vĩnh Long, Cần Thơ đang làm cho khu vực này trở thành một trung tâm công
nghiệp lớn nhất của cả nớc. Với lợi thế về hạ tầng kỹ thuật tơng đối phát triển hơn
so với các khu vực khác của đất nớc, nằm gần nguồn dầu khí, độ ẩm không cao và
ổn định nên các KCN tại khu vực này hấp dẫn các nhà đầu t nớc ngoài, thuận lợi
cho phát triển các ngành công nghiệp sử dụng khí nh phát điện, khí hoá lỏng, sản
xuất phân đạm, thép, các ngành công nghiệp dịch vụ dầu khí, hậu cầu cảng, các
ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp điện tử phục vụ xuất khẩu.
Các ngành công nghiệp chủ yếu thu hút đầu t trong nớc, phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển công nghiệp vệ tinh cho nhiều KCN quy mô
lớn, tạo sức cạnh tranh cho sản phẩm công nghiệp.
2.4. Thực trạng xây dựng hạ tầng tại các KCN, KCX .
a. Tình hình hoạt động của các Công ty phát triển hạ tầng KCN, KCX.
Cùng với sự ra đời và phát triển của các KCN, các công ty phát triển hạ
tầng KCN - một loại hình kinh tế mới cũng hình thành với mục đích thực hiện
việc xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN có chất lợng cao, theo tiêu chuẩn
qui định quốc tế nhằm phục vụ các xí nghiệp trong KCN trong suốt quá trình hoạt
động của nó.
Theo Nghị định 36/CP ban hành ngày 24/4/1997 về qui chế KCN, KCX

đang hoạt động có hiệu quả (khoảng 18%) do họ biết sử dụng có hiệu quả nguốn
vốn đầu t theo kiểu cuốn chiếu tức là vừa đầu t xây dựng vừa cho thuê lấy lợi
nhuận để tái đầu t. Tiêu biểu cho một số doanh nghiệp thành công này là Công ty
phát triển hạ tầng KCN Biên Hoà, KCN Sóng Thần,...
Doanh nghiệp liên doanh.
Các công ty phát triển hạ tầng KCN là doanh nghiệp liên doanh hiện nay có
13 công ty. Phần lớn ở các doanh nghiệp này, phía Việt Nam góp vốn bằng giá trị
quyền sử dụng đất, phía nớc ngoài góp vốn xây dựng. Do lợng vốn đầu t khá lớn
nên phần lớn các công trình kết cấu hạ tầng KCN do các công ty này đảm nhiệm
thờng tốt hơn nhiều so với doanh nghiệp trong nớc đầu t xây dựng.
Các doanh nghiệp 100 % vốn ĐTNN.
Cho đến 2001 mới chỉ có 1 KCN có cơ sở hạ tầng đầu t xây dựng bằng
100% vốn nớc ngoài, đó là KCN Đài T (Hà Nội) do chủ đầu t Đài Loan đảm
nhiệm. Ưu điểm của mô hình này là nguồn vốn đầu t lớn nhng tốc độ triển khai dự
án lại phụ thuộc hoàn toàn vào phía nớc ngoài. Hơn nữa, nhà ĐTNN lại không hiểu
rõ về môi trờng kinh doanh cũng nh thủ tục đầu t ở Việt Nam nên tốc độ triển khai
còn hạn chế. KCN Đài T là một ví dụ, đợc cấp phép năm 1995 nhng mãi 3 năm sau
mới xong giải phóng mặt bằng.
b . Đầu t xây dựng kết cấu hạ tầng.
Diện tích đất đầu t.
Diện tích đất của các KCN Việt Nam tăng rất nhanh trong những năm gần
đây. Cho đến tháng 8 năm 2002, tổng diện tích đất của các KCN Việt Nam là
964000 m
2
đó diện tích đất công nghiệp dùng để cho thuê là 337,4m
2
.Tính trung
bình diện tích một KCN khoảng 13388,9 m
2
.[8]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status