Đạo đức nghề nghiệp trong kinh doanh chứng khoán ở thị trường Việt Nam hiện nay TẢI HỘ 0984985060 - Pdf 28

Lời mở đầu
Từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời vào năm 2000, hoạt động
kinh doanh chứng khoán đã được coi là một nghề, lúc đầu tuy còn mới mẻ,
nhưng đến nay đã trở nên khá phổ biến trong một bộ phận những trí thức trẻ.
Tuy nhiê, tính chuyên nghiệp của người hành nghề chứng khoán lại là vấn đề
phải bàn, nhất là khi chúng ta gia nhập WTO - một sân chơi toàn cầu, nơi sang
lọc và tôn vinh tính chuyên nghiệp của các thành viên tham gia. Thị trường
chứng khoán là một sản phẩm trí tuệ loài người, là một thể chế kinh tế bậc cao.
Để đảm bảo tính ổn định và công bằng trong hoạt động kinh doanh chứng khoán
đòi hỏi các nhà kinh doanh chứng khoán phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt
những quy định về nghiệp vụ của mình. Khi nền kinh tế Việt Nam bước sang
vận hành theo cơ chế thị trường, câu nói đầu tiên là phá bỏ từ tưởng bao cấp “
xin – cho” được nhiều người cho là một sự đổi mới triệt để, đó là câu “ khách
hàng là thượng đế”. Kinh doanh chứng khoán là một loại hình dịch vụ đặc trưng
của các nền kinh tế có sự vận hành của thị trường chứng khoán, loại hình dịch
vụ này tốt hay không có thể ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của nhà đầu tư, và qua
đó ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của nền kinh tế xã hội.
Vì vậy chuẩn mực đạo đức trong hành nghề kinh doanh chứng khoán là
cực kì quan trọng trong các nền kinh tế có thị trường chứng khoán phát triển,
các yêu cầu về chữ tâm, chữ đức, tính cẩn trọng trong nghề nghiệp luôn được đề
cao… Việt Nam là một nước đang phát triển với một thị trường chứng
khoasnconf non trẻ, pháp luật về kinh doanh chứng khoán cũng đã có những
quy định cụ thể về vấn đề này, tuy nhiên thực tế vi pham đạo đức nghề nghiệp
trong kinh doanh chứng khoán vẫn đang là vấn đề cần quan tam giải quyết.
Nhiều khi vì lợi ích của cá nhân, của công ty mà vi phạm đạo đức trong kinh
doanh chứng khoán gây tổn thất về tài sản cho các nhà đầu tư và còn ảnh hưởng
không tốt đến thị trường như hiện tượng rò rỉ thông tin, xung đột lợi ích… Còn
rất nhiều hạn chế trong thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay, vì thế
nhóm em là đề tài “ Đạo đức nghề nghiệp trong kinh doanh chứng khoán ở
thị trường Việt Nam hiện nay” trên cơ sở những kiến thức đã học ở môn Thị
trường chứng khoán và đầu tư chứng khoán để nêu lên thực trạng của thị trường

cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Để thu hút khách hàng thì yếu tố hàng đầu
phải tạo ra là sự tin tưởng. bởi yếu tố đầu tiên đo lường chất lượng các dịch vụ
là uy tin của các tổ chức cung ứng. Trong phương diện này đạo đức nghề nghiệp
còn quyết định đến sự tồn tài và phát triển của ngành kinh doanh chứng khoán
 Thông qua các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp sẽ quản lí được các tiêu
chuẩn nghiệp vụ của công ty chứng khoán
Nghề kinh doanh chứng khoán là một nghề được công nhận trong xã
hội, bản thân người hành nghề chứng khoán cần được bảo vệ quyền lợi của
mình trong các xung đột lợi ích trong và ngoài tổ chức.Đạo đức nghề
nghiệp sẽ góp phần xây dựng hình ảnh tốt đẹp cùa các nhà kinh doanh
chứng khoán, tạo mối quan hệ đồng nghiệp tốt trong ngành chứng khoán.
Đạo đức nghề nghiệp góp phần tạo sự tin tưởng vào trình độ, đạo đức
của người kinh doanh chứng khoán. Thông qua đó tạo dựng được uy tín và
hình ảnh tốt đẹp trong lòng khách hàng. Điều này sẽ góp phần tạo mối quan
hệ tốt đẹp giữa người kinh doanh chứng khoán và khách hàng, giữa người
kinh doanh chứng khoán với nhau. Từ đó tạo động lực cho sự phát triển của
ngành kinh doanh chứng khoán.
Các quy tắc đạo đức nghề nghiệp hỗ trợ cho hệ thống pháp luật
về chứng khoán, cụ thể các khuôn khổ pháp lí trong việc điều chỉnh hoạt
động của các thành viên thị trường nhằm duy trì kỷ luật thị trường và thực
thi pháp luật trên cơ sở tự nguyện.
 Đảm bảo tính minh bạch của thị trường chứng khoán
Hệ thống đạo đức nghề nghiệp phát huy tác dụng sẽ đem lại môi trường
kinh doanh công bằng và minh bạch hơn.
Năm 1990, tổ chức quốc tế các ủy ban chứng khoán đã soạn thảo bộ quy tắc
quốc tế về đạo đức nghề nghiệp trên thị trường chứng khoán để:
- Tạo ra các chuẩn mực cơ bản để thực hiện kinh doanh chứng khoán ở bất
kỳ nơi nào, tăng cường hiểu biết và niềm tin cho nhà đâu tư, giao dịch qua biên
giới với chi phí thấp và cơ hội lựa chọn lớn hơn.
- Đối với nhà quản lí, quy tắc nghề nghiệp mang tính quốc tế sẽ giúp họ xử

bằng và rõ ràng.Việc cung cấp thông tin phải đầy đủ theo quy định của luật
pháp(về hướng dẫn và cung cấp thông tin cho khách hàng,những thay đổi về các
thông tin đã công bố,những thông tin báo cáo cơ quan quản lý…)
Công ty thành viên không được sử dụng thông tin nội bộ để mua bán
chứng khoán cho chính mình và không dùng những thông tin này để hướng dẫn
đầu tư cho khách hàng.
Điều 73 Luật chứng khoán của Việt Nam quy định: Công ty thành viên:
- Không được đưa ra nhận định hoặc bảo đảm với khách hàng về mức thu
nhập hoặc lợi nhuận đạt được trên khoản đầu tư của mình hoặc bảo đảm khách
hàng không bị thua lỗ,trừ trường hợp đầu tư vào chứng khoán có thu nhập cố
định.
- Không được tiết lộ thông tin về khách hàng trừ trường hợp được khách
hàng đồng ý hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
- Không thực hiện những hành vi làm cho khách hàng và nhà đầu tư hiểu
nhầm về giá chứng khoán.
- Không được cho khách hàng vay tiền để mua chứng khoán, trừ trường
hợp bộ tài chính có quy định khác
- Cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập của công ty chứng khoán,công ty
quản lý quỹ không được chuyển nhượng cổ phần hoặc phần góp vốn của mình
trong thời hạn 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận thành lập và hoạt
động,trừ trường hợp chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập,thành viên sáng lập
khác trong công ty
Công ty thành viên phải thưc hiện công việc một cách công bằng,không
được tự quyết định mua bán chứng khoán cho khách hàng trừ trường hợp được
khách hàng đồng ý,không được trực tiếp hoặc câu kết với khách hàng có những
hành động hoặc che đậy hoặc giả tạo,không được sử dụng tài khoản giao dịch
của khách hàng để mua bán chứng khoán cho riêng mình.
- Về mặt thu nhập: Công ty thành viên không được có thu nhập trái phép
thông qua nhiệm vụ của mình, không được làm các công việc có cam kết nhận
hay trả những khoản lợi ngoài thu thập thông thường.

 Tính bảo mật.
Công ty thành viên phải giữ bí mật các thông tin của khách hàng,tách riêng
số liệu của từng loại nghiệp vụ,nhân viên ở từng loại hình nghiệp vụ không
được tiết lộ thông tin cho nhân viên ở các bộ phận khác
Bên cạnh đó tình hình tài chính lành mạnh,có cơ cấu tổ chức hợp lý nhằm
đảm bảo khả năng cung ứng dịch vụ một cách hiệu quả cho khách hàng
2. Nội dung cơ bản về đạo đức nghề nghiệp đối với công ty Thành viên
- Nhân viên hoặc giám đốc công ty không bao giờ sử dụng hoặc cố ý sử
dụng vị trí của mình ở công ty để đạt được lợi ích cá nhân không chính đáng
cho bản thân mình, cho các thành viên trong gia đình mình, cho cá nhân hay bất
kỳ tổ chức nào bao gồm các khoản cho vay hoặc bảo lãnh.
- Tất cả các thông tin đưa ra công chúng bao gồm cả hồ sơ gửi Uỷ Ban
Chứng Khoán Nhà Nước (UBCKNN) phải đầy đủ, hợp lý, chính xác, đúng lúc
và dễ hiểu. Cấm những hành vi xuyên tạc, bỏ sót có dụng ý, hoặc các nguyên
nhân khác làm xuyên tạc, bỏ sót thông tin chính xác về công ty dù cho bên trong
hay bên ngoài công ty.
- Phải công bằng, tôn trọng sự thật và không được thành kiến, thiên vị trong
mọi hành động của mình.
- Không được sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho công
ty hay cá nhân và không dùng những thông tin nội bộ để hướng dẫn đầu tư cho
khách hàng.
- Không được nói xấu hoặc đưa thông tin sai về công việc của doanh nghiệp
và người hoạt động khinh doanh chứng khoán khác.
- Có sự phối hợp chặt chẽ trong toàn ngành và phải đặt lợi ích chung của
ngành bên cạnh lợi ích của công ty.
III. Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đối với người làm nhiệm vụ phân tích
chứng khoán
 Thông báo cho thủ trưởng biết về nguyên tắc nghề nghiệp
Người làm nhiệm vụ phân tích chứng khoán phải có trách nhiệm thông báo
cho thủ trưởng đơn vi biết về những quy tắc chuẩn mực mà đơn vị sử dụng.

phạm vi công việc của mình, trừ trường hợp đối với thông tin phạm pháp của
khách hàng. Tuy vậy, phải bảo vệ tối đa quyền lợi cho khách hàng trong phạm
vị trách nhiệm của mình.
 Công bố những xung đột lợi ích
Người làm nhiệm vụ phân tích có trách nhiệm diễn giải đầy đủ, rõ ràng
những mâu thuẫn về quyền lợi hợp pháp giữa KH và công ty, công khai xung
đột lợi ích một cách minh bạch cũng như diễn giải bằng ngôn ngữ đơn giản dễ
hiểu và cung cấp thông tin liên quan. Đồng thời các phương pháp giải quyết
được đưa ra bàn bạc cụ thể với khách hàng trong thời gian sớm nhất.
 Các nguyên tắc ứng xử trong lĩnh vực thu nhập
Nhà phân tích cũng phải duy trì tính độc lập và trung lập trong công việc.
Đối với thu nhập của mình, nhà phân tích phải công khai các thu nhập của mình
sẽ nhận được thông qua công việc cung cấp dịch cụ phân tích. Họ cũng không
được nhân các công việc có tính cạnh tranh với chủ khi chưa có sự chấp nhận
bằng văn bản của chủ mình, của người mình làm giúp. Tất cả những điều này
thể hiện nguyên tắc ứng xử trong thu nhập mang tính chuyên nghiệp.
 Không có những hành vi không xứng đáng với nghề nghiệp
Nhà phân tích không được có những hành vi phản lại nghề nghiệp của mình
như vi phạm pháp luật, có thái độ biểu hiện là người không trung thực, không
tin cậy hoặc không phù hợp với nghề phân tích chứng khoán như:
- Truyền bá những thông tin mang tính xuyên tạc, đồn thổi hoặc dèm pha
khách hàng, đối tác, đồng nghiệp và các thành viên trên TTCK.
- Tham gia cách làm sai lệch giá thị trường hoặc thổi phồng khối lượng
giao dịch thị trường gây ra nhận thức sai lệch về thị trường.
- Sử dụng các thông tin nội gián để khuynh đảo và ảnh hưởng đến giá trị
CK đầu tư, tiếc lộ những thông tin mật của công ty cho khách hàng.
- Tuyệt đối bảo mật tất cả những thông tin của KH cũ, hiện tại và khách
tiềm năng mà không có sự đồng ý của khách hàng ngoại trừ các trường hợp.
IV. Nội dung đạo đức nghề nghiệp đối với những người làm Marketing
4.1. Tiếp xúc và tìm kiếm khách hàng

- Một nguyên tắc xuyên suốt của nhiều TTCK là nhà marketing không bao
giờ lợi dụng tài sản hay tài khoản giao dịch của KH và phải trung thực nghiêm
chỉnh thực hiện theo đúng chức năng
4.6. Công bố những xung đột và lợi ích
- Nếu có xung đột về lợi ích giữa công ty và KH hoặc giữa nhà marketing
với KH mà có thể tác động đến kết quả đầu tư của KH, nhà marketing phải công
bố rõ những thông tin liên quan đến xung đột trên cho KH để họ đánh giá, xem
xét đầu tư.
4.7. Giữ bí mật cho khách hàng
- Một điều cần thiết trong hoạt động của các nhà marketing là giữ bí mật,
không được công bố thông tin cá nhân, thông tin mua bán thị trường hoặc thông
tin liên quan đến tài chính của KH cho người khác biết. Theo quan niệm chung,
hành động trên có tểh rác động đến lợi ích và hình ảnh của KH, trừ trường hợp
có sự chấp thuận của chính KH hoặc việc công bố theo quy định pháp luật về
chứng khoán.
Như vậy dù hoạt động ở bất kì vị trí nào trong ngành chứng khoán các
thành viên đều phải tuân thủ đầy đủ các quy tắc, chuẩn mực đạo đức
nghề nghiệp để đảm bảo hoạt động của thị trường chứng khoán diễn ra hiệu quả
và ổn định

Phần 2: Thực trạng đạo đức nghề nghiệp trong kinh doanh chứng khoán ở
Việt Nam
I. Những thành công ban đầu đạt được
1. Tính chuyên nghiệp, sáng tạo
Một số công ty chứng khoán luôn đề cao và nhấn mạnh tính chuyên
nghiệp, tính sang tạo trong các dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Do đó ngoài
việc nắm vững và không ngừng cập nhật và nâng cao kiến thức chuyên môn, tất

xác lệnh giao dịch của khách hàng, tiến hành lưu trữ các phiếu lệnh của khách
hàng theo đúng quy trình nghiệp cụ của công ty và theo đúng quy định củ pháp
luật
Không được nhận một cách trực tiếp hay gián tiếp tiền hoa hồng của
khách hàng khi giao dịch mua bán chứng khoán tại công ty
Mọi lệnh giao dịch chứng khoán được niêm yết tại sở và trung tâm giao
dịch chứng khoán của khách hàng đều được truyền qua trụ sở chính hoặc chi
nhánh công ty, đồng thời được nhập và lưu trữ vào hệ thống của công ty chứng
khoán trước khi nhập lệnh vào hệ thống giao dịch của Sở và trung tâm giao dịch
chứng khoán. Nhân viên môi giới tuyệt đối không được phép thay mặt khách
hàng đặt lệnh hay giao dịch mà không được sự ủy quyền bằng chính văn bản
của khách hàng.
Khi hoạt động lưu ký cho khách hàng, phải đảm bảo ghi chép chính xác,
đầy đủ và cập nhật thường xuyên thông tin các chứng khoán lưu ký. Đồng thời
luôn thực hiện tốt các công tác bả quản lưu trữ , thu thập và xử lý số liệu số liệu
liên quan đến đăng kí chứng khoán.
Thưc hiện nghiêm chỉnh và chặt chẽ công tác kiểm soát nội bộ nhằm bảo
vệ lợi ích của khách hàng hoặc người sở hữu chứng khoán.
Đảm bảo tài khoản lưu ký chứng khoán và tiền gửi giao dịch của khách
hàng luôn t ngách biệt với tài khoản lưu ký chứng khoán và tiền của công ty,
đồng thời tất cả đều được quản lý minh bạch, an toàn. Bên cạnh đó công ty
không được sử dụng chứng khoán trong tài khoản lưu ký của khách hàng vì lợi
ích của bên thứ 3 hoặc vì lợi ích của chính thành viên lưu ký. Ngoài ra công ty
không được sử dụng chứng khoán của khách hàng để thanh toán các khoản nợ
của chính mình hoặc tổ chức, cá nhân khác.
Khi hoạt động tự doanh, phải luôn đặt quyền lợi của khách hàng lên
trước khi mua bán các loại chứng khoán cho tài khoản của công ty.
Khi cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư cho khách hàng mua hay bán một
hay nhiều loại chứng khoán phải cụ thể, phải luôn quan tâm xem xét cẩn trọng
đến tình hình tài chính, thu nhập và mục tiêu đầu tư của khách hàng cũng như

khách hàng trừ trường hợp có sự chấp thuận của chính khách hàng hoặc việc
công bố theo quy định của pháp luật về chứng khoán

II.Thực Trạng những vi phạm đạo đức trong kinh doanh chứng khoán tại
TTCK VN
Với 102 công ty CK đang hoạt động hiện nay cùng với tình hình giao dịch
ảm đạm, giá trị giao dịch thấp trong một thời gian dài, áp lực tồn tại và phát
triển của các CTCK rất lớn, nhất là với các CTCK không có ngân hàng, công ty
tài chính sau lưng hoặc không có nền tảng hoạt động bài bản, hiệu quả.
Nguồn thu để nuôi sống toàn bộ hoạt động của CTCK thường được dồn vào 2
mảng là Tự doanh chứng khoán và môi giới chứng khoán. Áp lực tồn tại cao
dẫn đến việc CTCK không còn thời gian để nâng cao chất lượng đội ngũ nhân
sự, mà thay vào đó là tranh thủ lôi kéo khách hàng mới và khách hàng của nhau
bằng nhiều hình thức như cho phép khách hàng sử dụng đòn bẩy cao, các sản
phẩm chưa được phép làm…
Hiện tượng vi phạm nghiêm trọng đạo đức nghề nghiệp tại các CTCK ngày
càng tăng, trong khi chất lượng tư vấn đầu tư không cao, quy chế và quy trình
quản trị rủi ro tại các CTCK thiếu hoặc không được quan tâm đúng mức, quy
chế và chế tài đối với người hành nghề chứng khoán còn bỏ ngỏ.
Ở các thị trường phát triển, Nhân viên môi giới chứng khoán thường là những
người có năng lực, nhạy bén và là một chuyên gia phân tích, nhận định thị
trường do đó áp lực công việc cũng rất cao, tuổi nghề của những người này
trung bình từ 5-7 năm, sau đó chuyển vào các bộ phận phân tích hoặc back
office. Thu nhập của các nhân viên môi giới thường từ 3 nguồn chính là: lương
cứng, thu nhập từ ăn chia doanh số với CTCK và thu nhập lớn nhất là từ quản lý
danh mục đầu tư cho khách hàng do lợi nhuận từ tư vấn đầu tư mang lại. Tại các
thị trường này, có cả các nhà môi giới tự do. Lý lịch và tiểu sử của những nhà
môi giới này thông thường do Hiệp hội các nhà môi giới chứng khoán cung cấp
và quản lý.
Còn tại Việt Nam hiện nay, do áp lực từ công việc, nhất là áp lực về doanh số

những vấn đề đạo đức nguy hại nhất trên thị trường chứng khoán. Nó thường
bắt nguồn từ những người có trách nhiệm trong các công ty niêm yết, công ty
chứng khoán và cả nhân viên làm việc trên sàn chứng khoán. Q.N cho biết,
không ít người, đặc biệt là những người giữ trọng trách tại các công ty niêm yết,
thông qua một buổi ăn nhậu có thế tiết lộ cho những nhà đầu tư trên thị trường
chứng khoán về kế hoạch kinh doanh trong quí, tháng và cả những vấn đề nội
bộ trong doanh nghiệp chưa công bố. Hoặc khi các nhân viên của các công ty
chứng khoán nắm được thông tin trước các nhà đầu tư, họ có thể mua bán trước
làm lợi cho cá nhân hoặc báo cho người thân quen mua dưới nhiều hình thức (vì
nhân viên công ty chứng khoán không được phép mua bán ngắn hạn).
Bên cạnh vấn nạn rò rỉ thông tin còn là chuyện cạnh tranh không lành
mạnh. Tại diễn đàn liên quan đến thị trường chứng khoán gần đây, ông Hồ
Công Hưởng, Giám đốc Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam (BSC), cho biết cuộc chiến thầm lặng giữa các công ty chứng khoán
vẫn đang xảy ra với sự đôi co về phí dịch vụ môi giới, phí tổ chức đấu giá
Theo quy định Nhà nước ban hành, phí môi giới chứng khoán là 0,5% nhưng
hiện nay, các công ty đã giảm xuống mức 0,4%; 0,3% và có công ty chỉ còn
0,15%. Cũng chính do cách cạnh tranh bằng giảm phí nên chất lượng dịch vụ
chứng khoán không đảm bảo. Thêm vào đó, có công ty chứng khoán gặp phải
trường hợp cán bộ của mình sau khi bị kéo sang công ty khác đã tiết lộ thông tin
nội bộ của doanh nghiệp cho đối thủ cạnh tranh. Ông Hưởng nói: “Chúng tôi rất
cần một quy chế đạo đức nghề nghiệp cho những người hành nghề chứng
khoán”. Giới đầu tư lên tiếng Các nhà đầu tư tại Hà Nội cho biết họ đã nhiều lần
kiến nghị về hiện tượng “làm giá” và rò rỉ thông tin trên thị trường chứng
khoán. Nhưng Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nói chưa phát hiện trường hợp
nào rõ ràng. “Một phần vì không có căn cứ, phần khác vì chưa có tiêu chí xác
định đó là hành vi vi phạm trên thị trường chứng khoán”, một quan chức của Ủy
ban nói: Không ít nhà đầu tư đã tạo mối thân quen với những người nắm giữ
thông tin để mua hoặc hợp tác làm ăn. Khi giao dịch nội gián có đất sống thì
cũng có nghĩa công tác giám sát quá yếu. Việc quản lý yếu kém đồng nghĩa với

nghiệp đã phát hành cổ phiếu.
Tính minh bạch của các doanh nghiệp và cá nhân tham gia là sự sống còn
của thị trường chứng khoán, nhưng hiện nó đang bị coi nhẹ. Giới đầu tư cũng
chỉ biết bất bình khi có công ty giải thích lý do chậm nộp báo cáo quyết toán
là “ hỏng máy tính”
Có nhiều trường hợp phái mới nổi lên giải thích tại sao giá thị trường
không đúng, ví sao vẫn có những cơ hội kinh doanh chênh lệch giá tồn tại lâu
dài, bong bong được tạo ra và sụp đổ… trong đó viện nguyên nhân về bất cân
xứng thông tin, về nhà đầu tư không hợp lý (trường phái tài chính hành vi mới
nổi gần đây)… Tuy nhiên, tìm kiếm đâu đó trong các lý thuyết này, người ta
ngụ ý rằng, tồn tại sự lừa gạt lẫn nhau, che giấu thông tin trên thị trường. Đó là
vấn đề đạo đức, và là mầm mống căn bản của khủng hoảng.
Ví dụ: Việc công ty cổ phần chứng khoán TPHCM (HSC) đăng tải một
bản phân tích cổ phiếu của Tập đoàn Tân Tạo (ITA) với nhiều nội dung sai lệch
khiến các cổ đông hoang mang đã thu hút sự chú ý của dư luận. Ngày
3/11/2008, trên bản tin chứng khoán (www.hsc.com.vn) của HSC đã có đăng
đính chính :” chúng tôi đã có sự nhầm lẫn khi viết: “hai nhà đầu tư lớn,
Richland và VNI lần lượt đăng kí bán 5 triệu cổ phiếu và 375000 cổ phiếu để
giảm lượng nắm giữ tại công ty này”. Thực tế lẽ ra phải viết là :” hai nhà đầu tư
lớn, Richluck International Limited và VNI đã đăng kí bán lần lượt là 711480
và 375000 cổ phiếu để giảm lượng nắm giữ tại công ty này. Chúng tôi thành
thực xin lỗi quý độc giả về sơ suất nói trên”. Tuy nhiên thật khó hiểu là trong
khi quy định đính chính phải đăng ở trang chính, mục đã đăng thì HSC lại đăng
tải ở phần Bản tin thị trường chú không phải ở Báo cáo cập nhật đã đăng ngày
7/11/2008. Vì thế, bài phân tích chứng khoán có nội dung sai lệch trên trang
web của HSC vẫn không thay đổi, có thể tiếp tục gây hiểu nhầm…
4. Tung tin đồn thất thiệt
Theo tin năm 2009, khoảng 30% doanh nghiệp niêm yết từng hứng chịu
tin đồn. Các tin đồn liên quan đên chính sách, hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp…

trình nghiệp vụ kinh doanh của một số công ty chứng khoán.
Ví dụ vụ tranh chấp giữa ông Phan Văn Chiến và CTCK quốc tế Việt
Nam chi nhánh TP HCM (VIS). Ông Chiến cho biết ông đã kí hợp đồng giao
dịch với công ty chứng khoán VIS ngày 16/9/2009. 11 lần chuyển tiền vào tài
khoản với số tiền 4,8 tỷ đồng và mỗi lần đều có phiếu nộp tiền mặt với chữ kí
nhận đầy đủ. Sau đó ông phát hiện trong 3 tháng, từ tháng 9/2009 đến tháng
12/2009, công ty VIS đã sử dụng tài khoản và tiền của ông để tự ý đặt lệnh mua
bán chứng khoán, tự ý kinh doanh và rút tiền trên tài khoản. Trong biên bản đối
chất tại tòa, đại diện của công ty VIS cho biết tất cả các gia dịch mua bán trên
tài khoản của ông Chiến đều do ông Chiến và người được ông Chiến ủy quyền
thực hiện. Hằng ngày sau khi khớp lệnh, công ty đều có tin nhắn qua tổng đài
cho ông Chiến biết mọi giao dịch phát sin liên quan đến tài khoản. Tuy nhiên,
những vấn đề nêu trên phía công ty VIS không có những bằng chứng lưu lại
theo quy trình nghiệp vụ kinh doanh được quy định của Luật chứng khoán.
Theo đó, việc mua bán chứng khoán diễn ra theo trình tự đặt lệnh khách hàng ra
lệnh mua bán tại sàn hoặc ra lệnh bằng fax, điện thoại, internet… chuyển đến
nhân viên môi giới nhập lệnh, sau đó trưởng phòng dịch vụ hoặc giảm đốc chi
nhánh duyệt cho lệnh lên sàn. Sau khi khớp lệnh, 3 ngày sau (T+3) thì chứng
khoán hoặc tiền về tài khoản khách hàng, chi nhánh yêu cầu khách hàng kí xác
nhận lệnh mà trước đó khách hàng đã ra lệnh, chi nhánh này lưu phiếu lệnh có
chữ kí này. Vấn đề này trong văn bản đề nghị không khởi tố vụ án hình sự của
cơ quan CSĐT Công an TPHCM gửi Viện Kiểm sát TP, phía cơ quan công an
có nêu việc Chi nhánh VIS lưu hành 29 phiếu lệnh của khách hàng thì cả 29
phiếu lệnh đều không có chữ kí của khách hàng. Đối với các lệnh thực hiện qua
điện thoại, phía VIS cũng không có file ghi âm và sau khi thực hiện lệnh không
yêu cầu khách hàng ký xác nhận. Vụ việc này Tòa đang thụ lý chưa biết ai đúng
ai sai nhưng qua những tình tiết tranh chấp ít nhiều cho thấy quy trình nghiệp vụ
kinh doanh chứng khoán còn nhiều lỗ hổng. Lỗ hổng đó là việc mua bán khống
chứng khoán, ứng trước tiền cho khách hàng, nói cách khác là cho vay rồi thu
phí ứng trước. Bên cạnh đó các nhân viên môi giới và ngay cả trưởng các bộ

tổ chức có thể truy cập thông tin trước khi sử dụng và bổ nhiệm nhân sự.
UBCKNN cũng có cơ sở đánh giá và ra quyết định có chấp thuận việc bổ nhiệm
nhân sự của CTCK hay không.
PHẦN 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC TRONG KINH
DOANH CHỨNG KHOÁN Ở THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM
I. Phương hướng
Qua những ví dụ thực tế về tình trạng đạo đức trong kinh doanh chứng
khoán tại Việt Nam. Chúng ta có thể thấy một số tín hiệu khả quan, nhưng hiểu
biết về đạo đức trong kinh doanh chứng khoán của cả giới tri thức và giới doanh
nghiệp ở Việt Nam còn có nhiều thiếu sót nghiêm trọng. những thiếu sót này
gây tác hại cho người tiêu dùng, giới kinh doanh, xã hội và đặc biệt là doanh
nghiệp. Chúng tôi xin đưa ra một số phương hướng nhằm nâng cao chất lượng
đạo đức trong kinh doanh chứng khoán ở thị trường chứng khoán Việt Nam:
+ Xây dựng các khung pháp lý (kể cả luật chứng khoán) và ban hành, hoàn
thiện Bộ quy tắc Đạo đức Nghề nghiệp trong thời gian tới.
+ Mỗi nhân viên chứng khoán cần nâng cao nhận thức về đạo đức trong
kinh doanh chứng khoán.
+ Thực hiện tốt các quy định, các nguyên tắc, nội dung và các tiêu chuẩn
đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề chứng khoán nhằm đảm bảo đạt
được những tiêu chuẩn cao nhất về trình độ chuyên môn, đạo đức và mức độ
hoạt động và đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội nói chung và
khách hàng nói riêng.
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO ĐỨC TRONG KINH
DOANH CHỨNG KHOÁN
 Cần nghiên cứu để bổ sung hoàn thành khung luật pháp Việt Nam
nhằm tạo cơ sở pháp lý cho đạo đức kinh doanh.
Một nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng yếu kém trong kinh doanh
chứng khoán tại Việt Nam hiện nay xuất phát từ nhiều khoảng trống trong hệ
thống luật. Chế tài xử phạt của pháp luật hiện tại còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe

Đạo đức trong kinh doanh chứng khoán là một vấn đề khá mới mể tại
Việt Nam. Chính phủ Việt Nam hiện nay đang có chủ trương nâng cao trình độ
nhận thức cho doanh nghiêp và cho người dân. Có được yếu tố thuận lợi này và
truyền thống đạo đức lâu đời của người Việt Nam, hy vọng trong thời gian tới
vấn đề đạo đức trong kinh doanh chứng khoán sẽ được cải thiện.
KẾT LUẬN:
Vì gắn với lợi ích của nhà đầu tư, doanh nghiệp nên TTCK ngày càng phát triển
thì đạo đức của người hành nghề chứng khoán cũng càng phải coi trọng. Nếu
tiếp tục để tình trạng có những hiện tượng lừa đoạt chiếm đoạt tài sản, làm giá
chứng khoán hay việc mua khống bán khống chứng khoán….thì tính minh bạch,
công bằng trong hoạt động giao dịch chưa đến khi nào mới trở thành hiện thực.
Thời gian qua chúng ta đã coi nhẹ đạo đức nghề nghiệp trong kinh doanh chứng
khoán dẫn đến một số hành vi vi phạm pháp luật. Nhiều công ty chứng khoán đã
lặng lẽ cho nhân viên thôi việc nhưng ngay sau đó những người phạm lỗi này lại
chuyển sang công ty chứng khoán khác làm việc, đúng ra những người này cần
phải chịu phạt nặng hơn, không chỉ là sự cảnh cáo phạt tiền, mà thậm chí họ còn
phải chịu truy tố trước pháp luật, không đáng được trọng dụng ở bất kì công ty
chứng khoán nào.
Thị trường cần có hồi chuông cảnh báo về sự vi phạm đạo đức nghề nghiệp dẫn
đến vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK- những vi phạm đó đã và đang
làm xói mòn niềm tin của nhà đầu tư. Gần đây bối cảnh thị trường ảm đạm,
nhiều công ty đã cho nghỉ việc một số nhân viên hành nghề, những nhân viên
còn lại được tổ chức học về đạo đức nghề nghiệp. Đây chính là thời kì các công
ty chứng khoán cần chấn chỉnh, củng cố, xây dựng niềm tin cho nhà đầu tư và
cũng là thời gian để chọn lọc những nhân viên hành nghề đủ phẩm chất đạo
đức. Lãnh đạo các công ty cần có sự liên kết và thông tin cho nhau để kiểm soát
tốt hơn đạo đức nghề nghiệp của chính các nhân viên mình quản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status