Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Những thập kỷ cuối thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, tình
hình tôn giáo trên thế giới và trong nớc có nhiều diễn biễn phức tạp, đã và
đang đặt ra vấn đề cần đợc lý giải trên cơ sở khoa học. Hiện nay, tôn giáo
đang trở thành một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà
khoa học cũng nh những nhà hoạt động thực tiễn.
Hội nghị lần thứ VII, Ban chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt
Nam khoá IX, đã ra Nghị quyết về công tác tôn giáo nhằm phát huy sức mạnh
tổng hợp khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc, vì mục tiêu: Dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
Trong giai đoạn mới của cuộc công nghiệp xã hội chủ nghĩa, Nghị
quyết Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: Tín ngỡng là nhu cầu của một
bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã
hội ở nớc đó.
Cùng với 5 tôn giáo lớn ở nớc ta, Phật giáo Hoà Hảo là một tôn giáo có
vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của tín đồ nhân dân ở khu vực
miền Tây Nam Bộ. Qua quá trình tồn tại và phát triển, vấn đề Đạo - Đời của
Phật giáo Hoà Hảo có nhiều vấn đề phức tạp về an ninh và xã hội. Do vậy,
trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều chủ trơng, giải pháp
nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng Tôn giáo nói chung và Phật
giáo Hoà Hảo nói riêng, làm cho đời sống tinh thần ở vùng ngày một nâng
cao, an ninh xã hội ngày càng ổn định và phát triển.
Khi mới ra đời, Phật giáo Hoà Hảo không chỉ đợc coi là một hiện tợng
Tôn giáo nhằm thoả mãn nhu cầu tín ngỡng của tín đồ mà còn đợc nhìn nhân
nh một phong trào yêu nớc. Song quá trình tồn tại và phát triển, trong mối
quan hệ với các thế lực đế quốc (Pháp, Nhật, Mỹ) và chính quyền tay sai,
vấn đề Đạo - Đời của Phật giáo Hoà Hảo trở nên phức tạp, tính dân tộc của
một phong trào yêu nớc đợc thay thế bởi những tham vọng chính trị của những
cá nhân hay các tổ chức phản động trong Phật giáo Hoà Hảo.
Tôn giáo - Phật giáo Hoà Hảo. Với lý do đó, em muốn vận dụng sự hiểu biết
của mình để trình bày đề tài: Một số vấn đề về Phật giáo Hoà Hảo vè sự ảnh
hởng của Phật giáo Hoà Hảo đến hoạt động an ninh, trât tự ở miền Tây Nam
Bộ trong giai đoạn từ năm 1975 đến nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Từ khi ra đời (1939) đến nay, Phật giáo Hoà Hảo vốn là một trong
những vấn đề đợc cả xã hội quan tâm. Vì vậy, trong giai đoạn từ 1975 đến
nay, trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan đơn vị ở địa phơng có
đồng bào theo đạo đã có sự nghiên cứu tìm hiểu về Phật giáo Hoà Hảo. Tuy
nhiên, vì là Tôn giáo nội sinh, lại ra đời muộn hơn so với các tôn giáo khác,
tín đồ tơng đối đông tập trung nhiều ở một số tỉnh miền Tây Nam Bộ nh: An
Giang, Đồng Tháp, Thành phố Cần Thơ, Vĩnh Long không ảnh h ởng và lan
rộng đến các vùng khác điển hình nh là miền Bắc. Do vậy, các vấn đề nghiên
cứu về Phật giáo Hoà Hảo thờng là những vấn đề cụ thể, vụ việc và khai thác ở
nhiều góc độ khác nhau. Có thể nói, cho đến nay cha có công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện về Phật giáo Hoà Hảo.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Với lý do chọn đề tài ở trên, do vậy đề tài nghiên cứu đợc xác định bởi
hai mục tiêu chủ yếu sau:
+ Trên cơ sở lý luận chung về Tôn giáo, nguồn gốc và sự ra đời của
Phật giáo Hoà Hảo, vấn đề cơ bản về giáo lý, luật lệ lễ nghi; Lịch sử tồn tại và
phát triển của Phật giáo Hoà Hảo và từ thực trạng về tình hình hoạt động ảnh
hởng đến an ninh trật tự của các đối tợng của Phật giáo Hoà Hảo góp phần
nâng cao nhận thức và hiểu đúng về Phật giáo Hoà Hảo ở phạm vi rộng,
đặcbiệt là các vùng có tín đồ theo đạo.
+ Từ đó, đa ra kiến nghị đề xuất một số chính sách, đặc biệt là giải pháp
thực hiện để xử lý tốt mối quan hệ giữa tôn trọng quyền tự do tín ngỡng với
đấu tranh chống các phần tử lợi dụng tôn giáo để thực hiện Diễn biến hoà
đến nay.
Phần Nội dung
Chơng I: Vài nét về Phật giáo Hoà Hảo
1. Nguồn gốc và sự ra đời của Phật giáo Hoà Hảo.
Ngay từ buổi đầu khai sáng nền đạo Phật giáo Hoà Hảo đã đợc Đức
Huỳnh Giáo chủ tiếp thu kế thừa những nét đặc sắc trong các tín ngỡng Tôn
giáo khác nhau, tạo lập nên một Tôn giáo dân tộc với giáo lý: học Phật, tu
Nhân.
Phật giáo Hoà Hảo là một trong sáu tôn giáo lớn đang đợc tự do hành
đạo ở Việt Nam, là tôn giáo nội sinh lớn lên từ lòng dân tộc và luôn gắn liền
với từng giai đoạn lịch sử dân tộc. Trải qua 66 năm giáo lý Phật giáo Hoà Hảo
đã đang có mặt trong sinh hoạt xã hội Việt Nam và đợc nhận là tôn giáo có
quan hệ mật thiết cùng ngời dân vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng với
cộng đồng ngời dân Việt Nam nói chung. Do vậy trớc tiên ta tìm hiểu điều
kiện cơ bản cho sự ra đời của Phật giáo Hoà Hảo.
1.1. Điều kiện ra đời của Phật giáo Hoà Hảo.
Nh chúng ta biết Phật giáo Hoà Hảo ra đời năm 1939, gắn chặt chẽ với
vai trò sáng lập của ông Huỳnh Phú Sổ và phát triển chủ yếu ở miền Tây Nam
Bộ. vậy chúng ta lý giải vì sao Phật giáo Hoà Hảo gắn liền với miền Tây Nam
Bộ?
Đầu thế kỷ XVII khi những ngời Việt đầu tiên khai phá, thì vùng đất
đồng bằng sông Cửu Long còn hoang vu, đất đai tuy mầu mỡ, song rừng rậm
bùn lầy, hổ, báo, rắn, trăn,lũ lụt, bệnh tật luôn rình rập con ng ời. Khác với
đồng bằng Bắc Bộ, nơi có những con đê hàng trăm năm giữ cho ruộng làng
không đổi, nơi những tổ chức những luật lệ đã hình thành từ bao đời gò ép
con ngời, ở vùng đất này tất cả dờng nh bắt đầu.
Những lớp ngời di dân đầu tiên ấy, thoạt tiên là những anh lính cùng vợ
con họ. Tiếp đó, là những kẻ tội đồ, những tù binh và những ngời nghèo khó
hành chính xã Phú Mỹ và một phần xã Tân Hoà huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang. Ngoài những nét chung của một làng miền Tây Nam Bộ, làng Hoà hảo
còn có một số đặc điểm địa lý đáng chú ý khác: là một làng có ba bề sông nớc
gồm sông Tiền, sông Hậu, sông Vòm Nao (con sông nối liền Việt Nam
Campuchia (tính theo đờng chim bay không đầy 30 km)). Từ xa xa, nơi đây
cùng với vùng Thất Sơn hợp thành Châu Đốc Tân Cơng đợc coi là nơi biên
xa sôi, hiểm trở của miền Tây Nam Bộ. Làng Hoà hảo là làng mới hình thành
từ cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 theo cách thức chung của triều Nguyễn là mở
mang các vùng dân c nơi biên viễn và đợc ổn định vào thời kỳ Minh Mạng.
* Về kinh tế: Vào đầu những năm 30, bắt nguồn từ chính sách Đại
khai thác của thựcdân Pháp sau chiến tranh thé giới lần thứ nhất Việt Nam bớc vào cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề và kéo dài, vì là xứ nông nghiệp độc
canh nhng giá lúa hạ rất thấp chỉ còn phần ba, phần t trong khi thuế vẫn giữu
nguyên. Thợ, thầy thất nghiệp, nhân dân đói khổ cùng cực, cuộc sống tạm bợ
qua ngày. Làng Hoà Hảo cùng không nằm ngoài số đó, song có lẽ là nơi biến
viễn xa sôi nên ở đây có bịảnh hởng nhng không đến mức nặng nề. Nh nhiều
vùng khác của miền Tây Nam Bộ làng Hoà Hảo cũng là vùng thuần nông. Tuy
nhiên, do đất thì chật mà con ngời thì đông, do vậy ở đây dần dần hình thành
nghề thủ công vàcác hoạt động dịch vụ, nghề rèn nổi tiếng khắp miền tây
cũng đợc ra đời Có thể nói rằng, chờ cơ cấu bàn nông, bàn công đ ợc bổ
sung banừg thơng nghiệp và dịch vụ với qui mô thi tứ mà dân làng Hoà hảo
có đời sống tơng đối ổn định và khá hơn các vùng khác, đồng thời có điều
kiện giao lu văn hoá hơn các vùng khác, đồng thời có điều kiện giao lu văn
hoá và chịu tác động ảnh hởng về xã hội những nơi khác nhiều hơn.
* Về chính trị xã hội:
Đạo Hoà Hảo ra đời trong bối cảnh chiến tranh thế giới lần thứ hai vừa
nổ ra. Lúc này ở Việt Nam thì Pháp và Nhật đang tranh giành sự ảnh hởng,
làm cho tình hình ở Việt Nam thuộc địa vốn đang căng thẳng lại càng căng
thẳng thêm. Đồng thời, Nhà nớc phong kiến Việt Nam và hệ t tởg phong kiến
Ông đi từng vùng này đến vùng khác trị bệnh, ngời dân tìm đến ông trị
bệnh rất đông. Vừa trị bệnh vừa nói những lời nói khó hiểu có tính chất sấm
truyền, vừa giảng đạo thuyết pháp, quy y cho mọi ngời . Mùa thu năm 1849
tín đồ theo ông rất đông, mỗi ngời đợc cấp một mảnh giấy chứng nhận trên
đó đóng triện 4 chữ Bửu Sơn Kỳ Hơng. Có thể xem năm 1849 là năm ra đời
của tông phái này. Và ông Đoàn Minh Huyên đợc tôn sùng nh Phật sống. Sự
tập hợp quần chúng quanh ông đã gây nếnự longại cho chính quyền địa phơng
lúc bấy giờ. Do vậy, ông bị chính quyền buộc phải đến tu ở chùa Tây An (An
Giang) ở đây ông tiếp tục truyền giảng, tín đồ tham gia ngày càng đông, họ
tôn xng ông là Phật Thầy Tây An. Lúc ông mất (12/8 Bính thìn 1856) qua 7
năm hành đạo, ông đã tạo lập một cơ sở xã hội vững chắc và rộng lớn ở miền
Tây. ở đây có thể cho rằng: Chính công cuộc truyền đạo của ông do gắn liền
với công cuộc chiêu dân lập ấp, với việc tổ chức cho công cuộc khai phá đất
đai, là một nguyên nhâ quan trọng nhất khiến cho Bửu Sơn Kỳ Hơng dù có lúc
thăng trầm song vẫn tồn tại dai dẳng. Tín đồ của ông không tin là ông chết, họ
yin rằng ông bất tử , ông hcỉ đi tới miền cực lạc rồi sẽ có ngày ông trở về. Vì
khi còn sống ông thờng nói những câu mơ hồ về ngày ông sẽ trở lại:
Chừng nào gốc mục lên chồi
Ta vng rắc lệnh tái hồi trần gian
Điểm cần chú ý trong sự khác nhau giữa Bửu Sơn Kỳ Hơng với Phật
giáo truyền thống là việc ông Huyên thể hiện t tởng dân tộc trong giáo lý của
đạo mình: loài cầm thú còn biết tổ huống chi ngời nỡ bỏ từ ân (giác mê của
Phật Thầy) Nguyên Thuỷ từ ân của ông Huyên là: Ân trời Phật, ân Quân v-
ơng, ân cha mẹ, ân s phụ; (chứ không hẳn từ ân đợc hiểu sau này của Phật
giáo Hoà Hảo: ân tổ tiên, ân đất nớc, ân tam bảo, âm đồng bào) Từ đó khi xây
dựng giáo lý học phật, tu nhân (học phật là noi gơng Đức Phật tổ cùng các ch
phật màtu hành) Điều cốt lõi là làm lành tránh dữ mà không cần khổ hạn hay
thoát tục. Phơng pháp tu hành chủ yếu là tĩnh tâm, tích cực làm công việc
1.2. Vài nét về giáo chủ Huỳnh Phú Sổ
Huỳnh Phú Sổ sinh ngày 15/01/1920 (21/11 Kỷ Mùi) tại làng Hoà Hảo
quần tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc tỉnh An Giang) Cha ông là Hơng cả
Huỳnh Công Bộ, mẹ là bà Lê Thị Nhậm.
Huỳnh Phú Sổ là con thứ ba và là trởng Nam, vì thế ông còn có cái tên
khác nh T Sển, Thầy T Hoà hảo Năm ông đ ợc sinh ra, lag khi những ngời
yếu nớc Việt Nam đang tìm con đờng đấu tranh cho độc lập dân tộc. Các tôn
giáo cổ truyền đang gặp khó khăn, phải trải qua cuộc chuyển mình lớn. Đời
sống nhân dân lao động cực kỳ khốn khổ sau cuộc đại chiến thế gới lần thứ
nhất.
Thuở thiếu thời T hay ốm đau, yếu ớt, nên mặc dầu thông minh nhanh
nhẹn, mặt mũi khôi ngô, học hành khá nhng khi đỗ sơ học yếu lợc, cậu đành
bỏ học. Điều kiện gia đình khá giả nên cha cậu T mọi cách để chạychữa đa
cậu lên núi Tà Lơn ở biên giơí Camphuchí, và nên Thất Sơn chữa bệnh, vấn đề
này đợc tác giả Tọ Cồn Đại Trờng trong tác phẩm Thần, ngời và đất Việt đã
viết: Sống trên vùng đầy không khí huyền hoặc Kỳ bí của các ông đạo ta, đạo
Miên, của bùa chú, ngồng ngãi thì cậu T đợc ông Bà Hơng Cả dắt lên Thất
Sơn cho ông thầy Xom (đạo xom) núi Trà S chữa bệnh hay nhờ cậy một ông
thấy Pháo cố ngồng ngãi Thổ xiêm từng lên núi Tà Sơn (dãy Bokor) cũng là
điều kiện tự nhiên.
Sự vhuyển biến lớn diễn ra trong tâm hồn của cậu, nhng do tính trầm
lặng do vậy ngời thân không nhận thấy gì. Những điều kiện cho sự hình thành
một ông đạo mới dần dần hội tụ ở chàng trai 21 tuổi này là: Nhờ thuộc lòng
nhiều thơ giảng của các lãnh tụ Bửu Sơn Kỳ Hơng, cậu có thể nói thành
thơ,khẩu khí có gì đấy tơng tự nội dung cũng gần vậy, cũng giáo huấn ngời ta
tu nhân học Phật, cũng Từ Ân Hiếu Nghĩa và cùng tiên tri khó hiểu. Bên cạnh
đó ông cũng đợc phác bài thuốc Nam để chữa bệnh.
Ngày 18/5 năm Ky mão 1939 ông Huỳnh Phú Sổ làm lễ thụ ký, xin đầu
làm con Phật. Và ngày nay về sau đợc xem nh là ngày sáng lập ra đạo Hoà
định, uỷ ban hoà giải đã họp tai trụ sở uỷ ban Long Xuyên ở Đốc Vàng. Vì sự
biến cố ngày 15/4/1947 nên sau cuộc họp, ban hoà giải định tới nơi sảy ra để
giải quyết thì 21h cùng ngày Huỳnh Phú Sổ đã dùng thuyền tón ra vàm Đốc
Vàng, gặp bộ đội ta đang canh sát chặn lại, lực lợng bảo vệ ông sổ và bộ đội
ta bắn nhau; sau đó ông đợc bộ đội ta hộ tống giải về Phong Phú, do Bửu Vinh
chỉ huy. Sau đó, Huỳnh Phú Sổ mất tích và Lơng Trọng Tờng khai rằng ông
Sổ chết tối 16/4/1947.
Kể từ đó đến nay, tín đò Hoà Hảo vẫn cho rằng cộng sản đã giết thầy.
Song họ lại tin rằng: thầy chỉ tạm vắng mặt vãe có ngày thầy sẽ trở về.
1.3. Đạo Hoà Hảo ra đời nh thế nào?
Trong thời hạn của tiểu luận, do vậy việc tiếp cận Hoà hảo với t cách là
một tôn giáo theo 3 đặc trng sau:
Một là: Thông qua tác giả là Huỳnh Phú Sổ, đạo Hoà Hảo đã có một hệ
thống giáo lý riêng, tức là những quan niệm riêng về tự nhiên, xã hội Dù
rằng trong đó có trộn lẫn, pha tạp của t tởng Phật, lão, Nho, cho rằng có sự kế
thừa t tởng cốt lõi của Bửu Sơn Kỳ Hơng, nhng giáo lý Hoà Hảo vẫn lảiêng,
không thể trùng khít với một đạonào. và nó đợc bắt đầu hình thnàh từ năm
1939 và đi vào ổn định vào năm 1945.
Hai là: Về mặt xã hội, hệ thống giáo lý đó đợc một cộng đồng nhất định
chấp nhận, trong một thời gian ngắn đã có một lợng tín đò đông đảo tin theo,
và đức tin đó bền vững cho đến tận ngày nay. Trong hoạt động tôn giáo, cộng
đồng tín đồ đó đã từng có một tổ chức hành chính đạo này thành giáo hội.
Song theo giáo lý nguyên thuỷ, đây là một tôn giáo không có giáo hội, sự liên
kết cộng đồng chỉ là sự liên kết bằng đức tin.
ở đây có một vấn đề thực tế đặt ra, đó là việc Lê Quang Liêm nguyên
hội trởng của hệ phái Phật giáo Hoà Hảo đã nhiều năm nay liên tiếp gởi đơn
th lên các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nớc ta đòi tái phục hoạt động
giáo hội Phật giáo Hoà Hảo. Lý do mà ông Liêm đa ra là: Tổ chức giáo hội
chết và 56 ngời bị thơng.
+ Giai đoạn 1981 1985: Bọn phản cách mạng trong Phật giáo Hoà
Hảo đẩy mạnh hoạt động chiến tranh tâm lý, mê tín dị đoan để hù doạ khống
chế tín đồ về mặt t tởng nh: rải truyền đơn, tuyên truyền rỉ tai: Minh vơng
xuất hiện, Rắn nổi, sói lở, Sao chổi xuất hiện, ếch nói, Ma màu,
Cồn tiên nổi phục hồi các tập tục cũ nh búi tóc dài, mặc đồ đen, ăn chay
trờng, lôi kéo giành giật tín đồ, quần chúng không để họ ngẻ về phía cách
mạng. Lúc này xu hớng lập lại các tổ chức hệ thống giáo hội, Đảng dân xã và
Bảo an Phật giáo Hoà Hảo luôn gắn liền với việc tuyên truyền giáo lý, vận
động quần chúng giữ đạo, chờ thời cơ sẽ có ngày đổi đời, Thầy về, nhằm
tìm cách cột chặt quần chúng tín đồ vào thần quyền, giáo lý, vào các tổ chức
mới phục hồi của chúng. Đặcbiệt là chúng đa ngời vào các hoạt động trong
các tổ chức từ thiện nhân đạo của ta, các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn
thể quần chúng để phá hoại, làm lũng đoạn nội bộ, chia rẽ giữa Đảng, chính
quyền với các tín đồ Phật giáo Hoà Hảo.
Vậy chúng ta có thể khẳng định rằng nếu nh ở giai đoạn 1975 1980,
các thế lực phản động lợi dụng Phật giáo Hoà Hảo ráo riết đẩy mạnh các hoạt
động vũ trang, bạo loạn với hình thức công khai trắng trợn thì ở giai đoạn
1981 1985 chúng đã chuyển vào hoạt động bí mật và hoạt động của chúng
gắn chặt với việc tranh giành, lôi kéo quần chúng tín đồ, chuẩn bị lực lợng
chính trị chờ thời cơ chống phá cách mạng Việt Nam.
1.1.2. Thời kỳ từ năm 1986 đến nay.
Các tín đồ Phật giáo Hoà Hảo phần tử phản động đã lợi dụng những
diễn biễn phức tạp của tình hình quốc tế và khu vực. Lợi dụng đờng lối, chính
sách đổi mới việc đề cao và mở rộng nền dân chủ trong các lĩnh vực đời sống
kinh tế xã hội, các thế lực phản động lợi dụng Phật giáo Hoà Hảo đã
chuyển sang hoạt động phát triển tôn giáo, đòi vỉtí hợp pháp của các tổ chức
giáohội, chuẩn bị lực lợng chờ thời cơ cụ thể là:
phép, đi theo các chơng trình 40, ODP, AC cùng với việc phát triển tín đồ ở nớc ngoài làm tăng số lợng tín đồ Phật giáo Hoà Hảo lu vong.
Năm 1986, với công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc, mở rộng dân chủ,
thực hiện đờng lối đối ngoại mở rộng: Đa phơng hoá, đa dạng hoá với tinh
thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới.
Những hoạt động nổi bật trong thời kỳ này là đẩy mạnh hoạt động mở rộng,
phát triển địa bàn, hình thành hệ thống tổ chức Phật giáo Hoà Hảo hải ngoại
hòng xây dựng tổ chức có thực lực lớn mạnh, có vị trí và ảnh hởng trong phạm
vi quốc tế. Hiện nay, theo các tài liệu đợc biết, cho đến nay Phật giáo Hoà
Hảo lu vong có mặt ở một số nớc của 4 châu: Châu á, châu Âu, châu Mỹ,
châu úc trong đó có 3 trung tâm lớn là Mỹ, Pháp và Anh. ở Mỹ trong 17
tiểu ban có tới 32 ban trị sự; Canađa có 1; tại Châu Âu gồm Đức, Pháp và Hà
Lan có 6 bảntị; tại 8 bang của australiba đều có ban trị sự, đồng thời ở thủ đô
Carbera có văn phòng đại diện của 8 ban trị sự địa phơng. Tại 6 trại tỵ nạn ngời Việt Nam ở các nớc Philippin, Malaysia, Inđônêsya và Thái Lam đều có
ban trị sự; ở Nhật có 1 ban trị sự. Các ban trị sự ở các nớc nói trên thì 3 ban trị
sự ở Mỹ nh Washington do Lê Thái Hoà làm hội trởng có cơ quan ngôn luận
là tờ Đuốc từ bi; Ban trị sự ở Cabiformia do Nguyễn Hùng Quyền làm hội
trởng, có cơ quan ngôn luận là tờ Dân Hoà và Ban trị sự ở Texas do Vũ
Công Minh làm hội trởng. Đây là tổ chức có ảnh hởng và chi phối lớn đối với
Phật giáo Hoà Hảo lu vong.
- Về đờng lối hoạt động của hệ thống ban trị sự Phật giáo Hoà Hảo hải
ngoại hiện nay làtiếp tục củng cố kiện toàn các ban trị sự đã có và mở rộng
đến các vùng, các địa phơng ở nớc ngoài. Thu hút các tín đồ Phật giáo Hoà
Hảo lu vong vào các tổ chức của giáo hội hải ngoại. Thông qua các tổ chức
quốc tế nh Liên Hiệp Quốc, Uỷ ban nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, các tổ
chức phi chính phủ, tranh rhut sự ủng hộ của chính phủ Việt Nam cho Phật
giáo Hoà Hảo trong nớc có giáo hội và phục hồi hoạt động nh thời điểm trớc
năm 1975.
Song thực trạng của Phật giáo Hoà Hảo lu vong hiện nay có tổ chức nhng không có lực lợng và thực lực nh họ mong muốn của họ. Vì Ban trị sự lập
Nam tại Hoa Kỳ nhằm hỗ trợ cho cuộc đấu tranh của ngời Việt Nam các nơi
trong lĩnh vực tôn giáo.
Qua thực tiễn đấu tranh cho thấy bọn phản động đã lợi dụng Phật giáo
Hoà Hảo trong nớc và ngoài nớc với các thế lực thù địch ở nớc ngoài có quan
hệ chặt chẽ với nhau để chống phá cách mạng nớc ta. So với giai đoạn 1975
1985 thì thời gian gần đây sự cấu kết của bọn phản động Phật giáo Hoà
Hảo ngày càng thể hiện rõ nét, thờng xuyên tăng cờng bằng nhiều con đờng,
hình thức khác nhau thông qua nhiều hoạt động với nhiều phơng châm và thủ
đoạn mới.
1.3. Những hoạt động tôn giáo của Phật giáo Hoà Hảo có ảnh hởng
đến an ninh trật tự.
Từ năm 1986, thực hiện đờng lối đổi mới đất nớc cùng với mở rộng dân
chủ, trong lĩnh vực tôn giáo Đảng và Nhà nớc ta đã có những văn bản đáp ứng
kịp thời yêu cầu của tình hình mới đang đặt ra đó là Phật giáo Hoà Hảo đã có
sự biến động và biến dạng nhanh chóng bằng phục hồi các sinh hoạt cũ, phát
sinh những hình thức mới, nảy sinh nhiều hình thức tôn giáo tự phát bằng
những hành động nổi bật.
- Phục hồi các sinh hoạt tôn giáo mang tính tập thể ở gia đình và nơi thờ
tự nh trớc năm 1975 Tự thành lập hàng loạt các Ban, Hội niệm nằm rải rác
ở các xã có đạo, lợi dụng các đám tang, cúng tuần, giỗ ở nhà các tín đồ để cầu
nguyện, tụng niệm có khi lên tới vài trăm ngời thông qua đó để lôi kéo tập hợp
quần chúng tuyên truyền giảng đạo và phát triển đạo trái phép. Lợi dụng các
chùa chiền, đình, dinh có tổ chức lễ giỗ hợp pháp để lồng các sinh hoạt tôn
giáo, biến những nơi đây thành cơ sở thờ phụng tôn giáo của mình và lợi dụng
hoạt động từ thiện để tuyên truyền, củng cố, phát triển đạo và lôi kéo quần
chúng nh hàng năm vào dịp 18.05 âm lịch hoạt động diễn ra nhộn nhịp ở
nhiều tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp và Vĩnh Long.
- Phơng thức hoạt động của chúng là bí mật đi vận động tín đồ sau đó
Tổ đình bằng việc yêu cầu chuyển Tổ đình thành phủ thờ của gia tộc họ
Huỳnh.
+ Tiếp đó, đến nagỳ Khai đạo năm Nhâm tuất (18/5/1982) chính
quyền tỉnh An Giang yêu cầu gia tộc họ Huỳnh ra thông báo cho tín đồ không
đợc hành hơng về Toỏ đình nhân ngày khai đạo nh truyền thống, mà tổ chức
cúng lễ tại gia đình.
Đến đây, mọi sinh hoạt tôn giáo chỉ đợc duy trì tại gia với t cách cá
nhân. Những sinh hoạt tôn giáo mang tính tập thể dù ở gia đình hay nơi thờ
tự, kể cả việc hành hơng cúng lễ ở Tổ đình đều trở thành bất hợp pháp.
- Thực trạng hoạt động quản lý Nhà nớc về tôn giáo ở địa bàn Phật giáo
Hoà Hảo từ năm 1975 đến nay có thể khái quát qua 2 giai đoạn sau:
+ Giai đoạn từ năm 1975 1985:
Công tác quản lý Nhà nớc về tôn giáo đối với Phật giáo Hoà Hảo luôn
gắn liền với các sự kiện nêu trên và dựa trên cơ sở tinh thần chỉ thị 07/CTTW tháng 07/1997 và Nghị quyết số 40/NQ-TW tháng 10/1981 của Ban bí th
Trung ơng Đảng. Thời kỳ này thì công tác quản lý của Nhà nớc về căn bản
đáp ứng những yêu cầu đặt ra nhằm tớc bỏ những yếu tố chính trị ra khỏi đạo,
bảo đảm cho quần chúng tín đồ tu tại gia, cúng lễ tại nhà. Với khí thế ngày
càng cao của những tháng ngày đất nớc hoàn toàn thống nhất và trong điều
kiện nền kinh tế tập trung, bao cấp kéo dài, với t tởng nóng vội duy ý chí, có
tác động ảnh hởng nhiều đến lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có cả lĩnh
vực quản lý Nhà nớc về tôn giáo, nên nôn nóng muốn xoá bỏ ngay Phật giáo
Hoà Hảo.
+ Giai đoạn từ năm 1986 đến nay:
Đối với công tác đấu tranh chống bọn phản động lợi dụng Phật giáo
Hoà Hảo, bài trừ mê tín dị đoan và các hủ tục lạc hậu đi liền với hoạt động tồn
giáo ở hầu hết các địa phơng có chung quan điểm, thống nhất vận dụng các
chỉ thị, nghị quyết của Đảng, văn bản của Nhà nớc về tôn giáo làm phơng tiện
để tiến hành công tác quản lý Nhà nớc có hiệu quả nhằm bảo đảm giữ vững an
phong trào an ninh trật tự luôn đợc giữ vững, các thế lực thù địch từ chỗ hoạt
động manh động, trắng trợn đến chỗ co cụm, rút vào hoạt động bí mật, nằm
im chờ thời cơ. từ chỗ quần chúng tín đồ bị kìm kẹp, lừa gạt, bị khống chế về
mặt tinh thần và t tởng đến chỗ quần chúng đợc giải phóng về mặt tinh thần,
thoát khỏi sự ràng buộc của bọn phản động và làm chủ cuộc đời mình. Từ đó,
góp phần đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn những âm mu, thủ đoạn, hoạt
động phá hoại của các thế lực thù địchchống phá cách mạng ở địa bàn Phật
giáo Hoà Hảo. Công tác vận động quần chúng trong những năm qua đã đem
lại những kết quả và đợc ghi nhận ở 2 phơng diẹen cơ bản sau:
+ Thứ nhất: nắm vững đờng lối về công tác quần chúng của Đảng, đánh
giá đúng bản chất của quần chúng tín đồ, tin tởng vào quần chúng, vận động
lôi kéo hớng dẫn họ góp phần xây dựng quê hơng đất nớc, nâng cao đời sống
vật chất tinh thần, hoà hợp dân tộc, khơi dậy ở họ tình yêu đất nớc, yêu chủ
nghĩa xã hội, căm ghét bọn phản động lợi dụng tôn giáo để phản nớc hại dân.
Đồng thời trong quá trình thực hiện công tác vận động quần chúng đã gắn
liền với việc tháo gỡ những vớng mắc, những mặc cảm nặng nề còn đông
trong t tởng tình cảm của tín đồ với cách mạng. Bên cạnh đó luôn tôn trọng
sinh hoạt tín ngỡng theo tôn chỉ hành đạo Tu tại gia, cúng lễ tại nhà. Làm
cho tín đồ luôn bền vững tin ở chế độ mới. Đảng cộng sản Việt Nam Nhà
nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân hăng hái
đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thật vậy, phong trào
quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc luôn đợc đẩy mạnh và duy trì thờng
xuyên từ năm 1975 đến nay. Ví dụ nh tại Cần Thơ, tính riêng năm 1986 quần
chúng đã cung cấp cho chúng ta nhiều tin tức quan trọng, phục vụ công tác
truy quét có kết quả, bắt 225 tên, thu 54 súng, 12 lựu đạn, 1000 viên đạn,
trong đó có 4 tên ra hàng, nộp 4 súng.
+ Thứ hai: Quá trình vận động quần chúng bảo vệ Phật giáo Hoà Hảo
tại các địa bàn Phật giáo Hoà Hảo gắn liền với việc củng cố hệ thống chính trị
phận tín đồ phản động.
2.3. Công tác đấu tranh và xử lý
- Chủ trơng, đối sách và kết quả đấu tranh trấn áp.
+ Trớc hết phải khẳng định đây là cuộc đấu tranh diễn ra phức tạp,
quyết liệt và đầy gian khổ. Bằng việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo các biện
pháp các hình thức đấu tranh; nhằm đập tan âm mu của bọn phản động hòng
giành lại vị trí đã mất, mơ tởng xây dựng Vơng quốc đạo trị giữ vững an
ninh trật tự, bảo đảm các yêu cầu và nghiệp vụ cũng nh đúng với pháp luật đã
ban hành.
Đây là một quá trình phản ánh rất rõ nét chủ trơng của Đảng, pháp luật
của Nhà nớc và kế hoạch - đối sách của ngành công an chống lại các thế lực
thù địch lợi dụng Phật giáo Hoà Hảo. Thể hiện nổi bật là việc vận dụng các
chiến thuật nghiệp vụ để đấu tranh ngăn chặn, kết hợp với các biện pháp tấn
công chính trị, xử lý hành chính và hình sự.
+ Trong điều kiện đất nớc ổn định, công cuộc đổi mới đạt đợc nhiều
thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội Dân chủ đ ợc mở rộng thì các thế lực lợi dụng Phật giáo Hoà Hảo cấu kết chặt chẽ trong
ngoài nớc, chuyển vào hoạt động phục hồi tổ chức bí mật về mặt công khai là
đòi hợp pháp hoá giá hội Phật giáo Hoà Hảo. Điều đó cho phép nhận định về
âm mu lâu dài và ảo tởng của chúng về một Vơng quốc Phật giáo Hoà Hảo
đồng thời phản ánh thủ đoạn đấu tranh luôn gắn chặt với tôn giáo chính trị, lấy
tôn giáo làm vỏ bọc, bình phong rồi lại mu đồ biến Phật giáo Hoà Hảo thành
một lực lợng chính trị từ cơ cấu tổ chức đến hoạt động.
Công tác đấu tranh chống hoạt động lợi dụng Phật giáo Hoà Hảo tuyên
truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa cũng diễn ra thờng xuyên liên tục trên
các địa bàn, mặc dù đã làn tan rã nhiều tổ chức giáohộ phục hồi một cách thờng xuyên, kiên quyết và có hiệu quả tại các địa phơng. Trong những năm qua
công tác đấu tranh thờng tập trung vào những hành vi tuyên truyền, xuyên tạc
đờng lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc về tôn giáo; khoét sâu
mâu thuẫn chủ nghĩa xã hội với tôn giáo giuã cách mạng với Phật giáo Hoà
Hảo. Bằng việc lợi dụng những sơ hở thiếu sót của ta và những vấn đề dols để
lại, với luận điệu đòi dân chủ, nhân quyền Đa nguyên, đa Đảng phối
chống phá của các thế lực và một số phần tử phản cách mạng, loại bỏ các tổ
chức đạo trá hình hoặc bí mật do bọn chúng lợi dụng Phật giáo Hoà Hảo để
nhằm chống phá cách mạng.
Song khi nhìn lại cả quá trình đấu tranh phải thừa nhận rằngL trong một
thời gian dài (hơn 10 năm) chúng ta còn nặng về thiên hớng coi Phật giáo Hoà
Hảo là một tổ chức của địch và đã xem nhẹ, thậm chí bỏ qua Phật giáo Hoà
Hảo là một tôn giáo. Cũng từ đó, trong thực tế chúng ta cha định hình kịp thời
về mặt chính sách, pháp luật nhất làtừ năm 1986 trở về trớc. Và điều này đã
gây nên không ít kho khăn, cản trở trong công tác đấu tranh, phòng ngừa
chống các loại tôi phạm lợi dụng Phật giáo Hoà Hảo trong thời gian qua.
Đồng thời, trong những năm gần đây, nhờ có những quan tâm chỉ đạo
và những chính sách thích hợp trên lĩnh vực tín ngỡng tôn giáo cũng nh việc
thực hiện có hiệu quả những quan điểm chỉ đạo và chính sách đó, hầu hết các
đồng bào có đạo đã hồ hởi, phấn khởi tham gia một cách tự giác vào quá trình
đổi mới. Những thành tựu to lớn trên mọi mặt mà công cuộc đổi mới gần 20
năm qua đạt đợc có sự đóng góp không nhỏ của đồng bào có đạo.
Do vậy việc nắm vững những quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách
của Nhà nớc trên lĩnh vực tôn giáo và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nớc
trênlĩnh vực này nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa sự tham gia tích cực và tự
giác của toàn dân trong đó có đồng bào theo đạo vào quá trình đổi mới là vấn
đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách của nớc ta hiện nay.
3. Một số kiến nghị và đề xuất
3.1. Những vấn đề đặt ra hiện nay
Hiện nay, theo Ban tôn giáo Chính phủ, Phật giáo Hoà Hảo có
1.232.572 tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, trong
đó tập trung đông nhất ở các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần
Thơ.
Gần đây do chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nớc ta, về
- Về nhu cầu tín ngỡng của Phật giáo Hoà Hảo:
Để ***** chính sách tự do tín ngỡng của Đảng và Nhà nớc đi vào cuộc
sống, các cơ quan chức năng phải thật sự tôn trọng nhu cầu tôn giáo của tín
đồ. Nghĩa là phải biết phát hiện nhu cầu, nhìn nhận là chính đáng cho phép họ
đợc tự do hoạt động và tạo điều kiện thuận lợi để họ thực hiện nhu cầu đó.
Và đến lúc chúng ta cần nhận thức rằng tôn giáo cũng là một hiện tợng
văn hoá trong đời sống xã hội của con ngời. Do vậy, thái độ đối với tôn giáo
nói chung đối với Phật giáo Hoà Hảo nói riêng cũng phải dựa trên nền tảng
truyền thống văn hoá dân tộc, đờng lốivh của Đảng và Nhà nớc ta.
- Cách nhìn nhận đánh giá về các hoạt động phi tôn giáo của giáo hội
Phật giáo Hoà Hảo.
+ Lịch sử phát triển của tôn giáo này cho thấy ở từng thời điểm khác
nhau cũng bộc lộ những yếu điểm của nó, đó là sự tham gia vào các hoạt động
phi tôn giáo.
+ Hoạt động chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá - xã hội của giáo hội
Phật giáo Hoà Hảo thời kì 1939 1975 dù hợp pháp hay không đều là những