PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định
“GD&ĐT cùng với KH&CN là quốc sách hàng đầu; là nền tảng và là động lực
thúc đẩy CNH – HĐH đất nước. Đầu tư cho giáo duc là đầu tư cho sự phát
triển. Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức, có văn hoá, có kĩ năng nghề
nghiệp… gắn học với hành, tài với đức..”
Để định hướng trên đi vào Giáo dục một cách thiết thực trong nhiều năm
qua các cuộc thi Học sinh giỏi Olympic, thi học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh, cấp
quốc gia hay các cuộc thi tìm ra nhân tài trên truyền hình như “Đường lên đỉnh
Olimpia", "Theo dòng lịch sử"… luôn được tổ chức và đi vào chiều sâu. Nhằm
chọn ra nhân tài cho đất nước.
Đối với địa phương Lai Châu - thuộc khu vực vùng cao Tây Bắc, điều
kiện kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, công việc “Đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài” lại là một thách thức đối với ngành giáo dục. Tuy nhiên, trong
những năm qua, đặc biệt từ khi thay sách đến nay, công tác phát triển, nâng cao
chất lượng giáo dục của tỉnh nhà cũng ngày càng được quan tâm. Bằng chứng là
các cuộc thi học sinh giỏi các cấp luôn được Tỉnh chỉ đạo thực hiện sát sao hàng
năm. Các đơn vị trường trong toàn huyện ngày càng đầu tư vào chất lượng giáo
1
dục. Vì vậy công tác “Bồi dưỡng nhân tài” hay nói một cách khác đi việc bồi
dưỡng học sinh giỏi ngày càng được chú trọng.
Mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục địa phương và Trường PTDT Nội
trú Than Uyên là chuẩn bị cho học sinh sau khi học hết cấp ra trường có thể
thích ứng nhanh chóng với sự phát triển của kinh tế xã hội ở địa phương. Cụ thể
là học sinh phải được trang bị kiến thức để có hiểu biết về tổ quốc về cộng đồng
Uyên - Lai Châu.
2. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hình thức tổ chức và hướng ôn luyện học sinh giỏi môn Ngữ
văn cấp THCS. Chương trình Ngữ văn lớp 6,7,8,9 được chia ra làm 6 kiểu văn
bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, điều hành (hành chính
công vụ) và được phân đều ra các lớp. Khi ôn luyện học sinh giỏi văn mỗi lớp
chủ yếu là các kiểu văn bản sau:
- Lớp 6: kiểu văn bản tự sự, miêu tả
- Lớp 7: kiểu văn bản biểu cảm, nghị luận
- Lớp 8: kiểu văn bản tự sự (kết hợp các yếu tố), nghị luận, thuyết minh.
- Lớp 9: kiểu văn bản nghị luận; thuyết minh (sử dụng một số biện pháp
nghệ thuật, miêu tả; tự sự đặc điểm và sự kết hợp các yếu tố).
3
Riêng kiểu văn bản điều hành phân phối đều phần cuối năm của tất cả các
khối lớp. Như vậy cách thức bồi dưỡng học sinh giỏi văn phải dựa vào đặc điểm
này để ôn luyện sao cho sát thực tế, trọng tâm kiến thức, kĩ năng của các lớp.
nên đối tượng nghiên cứu ở đây là cách ôn luyện học sinh giỏi văn ở bậc THCS
nói chung.
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Với mục đích nâng cao chất lượng giáo dục đặc biệt chất lượng mũi nhọn
trong quá trình học tập môn Ngữ Văn của học sinh cấp THCS. Từ đó giúp chất
lượng giáo dục của địa phương nâng lên và phát huy được năng lực vốn có của
học sinh. Với mục đích cuối cùng là sau khi ra trường học sinh có thể tự tin học
bộ môn ở bậc THPT và có cơ sở thi và học chuyên nghiệp tốt hơn. Từ đó đào
tạo được nhân tài cho địa phương, cho đất nước.
IV. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ sự vận dụng thành công sáng kiến, bản thân tôi mạnh dạn đưa ra kinh
Nội thì "Bồi dưỡng học sinh giỏi văn hiểu theo nghĩa thông thường tức là giáo
viên - người hướng dẫn biết khơi dậy khả năng, năng lực cảm thụ văn học của
học sinh trên cơ sở vốn hiểu biết học sinh đã có và cao hơn nữa là cung cấp cho
các em những điểm mới, sâu hơn về văn học mà học sinh chưa có. Để từ đó các
em vận dụng vào việc làm văn hiệu quả".
Nói đến thành công của một bài văn là nói đến nhiều phương diện. Bài
văn hay là sản phẩm của vốn sống, vốn văn học, năng lực tư duy, năng lực giao
tiếp, sự thành thạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, sự sáng tạo của cá nhân…Có
thể nói bài văn là sản phẩm tổng hợp nhất của tất cả năng lực của học sinh. Bởi
thế người ta nhìn vào bài văn sẽ biết được năng lực của học sinh song một phần
6
thấy được khả năng bồi dưỡng của người dạy văn. Nói như vậy có nghĩa là công
việc bồi dưỡng khả năng, năng lực vốn có của học sinh là rất qua trọng, sẽ giúp
học sinh phát huy năng lực của bản thân trở thành người giỏi văn thực thụ.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1. Thuận lợi
Trong những năm gần đây, cùng với sự thay đổi về SGK, phương pháp
dạy học, Bộ GD&ĐT cũng hết sức quan tâm đến công tác nâng cao chất lượng
giáo dục, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Trong tỉnh nhà, Sở Giáo dục và
Đào tạo cũng quan tâm, thực hiện chế độ ưu đãi đối với những giáo viên, học
sinh có thành tích tốt trong giảng dạy và học tập... Đây là động lực rất lớn động
viên thày và trò trường PTDT Nội trú Than Uyên thực hiện tốt công tác nâng
cao chất lượng giáo dục mũi nhọn, trong đó có công tác ôn luyện, bồi dưỡng học
sinh giỏi.
2. Khó khăn
Qua trải nghiệm thực tế có thể nhận định: “Bồi dưỡng học sinh giỏi là
công việc mới và khó đối với giáo viên và học sinh. Mới bởi đây là phần việc
thường qua các cuộc họp Hội đồng, họp Chuyên môn, khi nghe Ban giám hiệu
trưng cầu ý kiến nguyện vọng rằng: “Ai có thể đảm nhận công tác ôn luyện học
sinh giỏi? Người nào? Môn nào?”... Rất thông thường sự đáp lại là biểu hiện im
8
lặng. Bởi tâm lí chung là không ai muốn đương đầu với một công việc khó khăn
mà danh hiệu, kết quả và thù lao là cái không thể nhìn thấy hoặc tính trước
được. Vì vậy việc đầu tiên đặt ra ở đây là: Hãy mạnh dạn đứng lên đảm nhận
công tác này bằng cả tâm huyết và lòng nhiệt tình. Công việc nào cũng vậy, hãy
nhận và làm, tiếp theo rồi sẽ “vỡ vạc” và ít nhiều thu nhận dược thành quả.
2. Việc lựa chọn học sinh
Ở bậc THCS chúng ta hay nói tới công tác ôn luyện học sinh giỏi ở lớp 9.
Các lớp 6,7,8 cũng có tham gia công tác này nhưng mức độ và phạm vi hẹp hơn,
song đó không phải là vấn đề chính. Điều đáng nói ở đây là giáo viên đảm nhận
công tác này cần chú ý quan tâm và lựa chọn học sinh, phát hiện “Nhân tài”
ngay từ các lớp dưới. Bởi học sinh giỏi phải là người có tố chất, năng khiếu, sự
sáng tạo và vốn kiến thức cơ bản vững chắc ... Điều này thể hiện rõ nhất qua kết
quả và hoạt động học tập của các em trên lớp. Giáo viên căn cứ vào đó để lựa
chọn những học sinh thực sự có năng lực và tố chất tham gia vào đội tuyển ôn
luyện học sinh giỏi.
3. Lên kế hoạch chủ động bồi dưỡng, ôn luyện học sinh giỏi ngay từ đầu
năm học
Đã gọi là hoạt động, là công tác “mũi nhọn” thì phải “xuyên suốt”. Một số
trường chỉ thực hiện công tác này trước thời điểm thi học sinh giỏi vài tháng,
thường là vào đầu học kì II của năm học. Nếu thực hiện như vậy thì quỹ thời
gian ôn luyện dành cho các em là rất ngắn. Trong khi như đã nóỉ ở phần đầu:
học sinh của chúng ta xuất phát từ một mặt bằng giáo dục còn thấp. Các trường
nằm ở vùng thuận lợi đã vậy, các trường ở vùng sâu, vùng xa, trường chuyên
9
- Về danh hiệu: Thật vinh dự khi các em thi đạt giải sẽ được cả trường,
huyện, tỉnh biết đến. Đây quả là phần thưởng vô giá và tuyệt vời.
- Về quyền lợi: Các em sẽ được một khoản tiền thưởng nhất định, được
ưu tiên khi xét tuyển vào trường Dân tộc Nội trú của tỉnh hay trường THPT,
được tuyên dương ghi nhớ danh hiệu trong hồ sơ học bạ...
Ví dụ đơn cử trên chỉ là công tác tư tưởng ban đầu định hướng cho học
sinh động cơ học tập, phấn đấu và đạt giải. Ngoài ra, việc động viên khích lệ về
tư tưởng phải được tiến hành thường xuyên trong từng tiết học giờ học bằng lời
nói, hành động việc làm cụ thể: Một lời khen ngợi, động viên, một phần quà nhỏ
như chiếc bút bi, quyển vở, hay gói kẹo “liên hoan”... sẽ giúp các em phấn khởi
và tích cực học tập rất nhiều... Sau mỗi buổi học, giáo viên cần dành thời gian để
rút kinh nghiệm giờ học, tháo gỡ mọi thắc mắc và chỉ rõ ưu, nhược điểm trong
bài viết, hướng suy nghĩ của các em, có sự so sánh, khen ngợi, góp ý cụ thể từng
học sinh trong nhóm, giúp các em tiến bộ từng ngày. Có thể nói: làm tốt công
tác giáo dục về tư tưởng cho học sinh có nghĩa là chúng ta đã thành công một
nửa trong công tác ôn luyện học sinh giỏi.
b. Bồi dưỡng về kiến thức
Nhiều giáo viên, học sinh quan niệm: Giỏi là trên mức bình thường. Vì
vậy kiến thức ôn luyện học sinh giỏi phải cao sâu... Thực tế không hoàn toàn
như vậy. Giống như việc chúng ta xây nhà, phải bắt đầu từ nền móng. Kiến thức
11
và kĩ năng cũng vậy: không có kiến thức, kĩ năng cơ bản sẽ không có chuyên
sâu. Do đó, nên ôn cho học sinh hiểu và nhớ kiến thức cơ bản trọng tâm trong
chương trình phổ thông trước đã. Khi đã có vốn kiến thức cơ bản trọng tâm
vững chắc rồi thì dù có gặp đề khó, các em sẽ biết kết hợp cái nền tảng mình đã
có chính là kiến thức kĩ năng cơ bản với năng khiếu, sự sáng tạo, cùng với áp
lực, động lực thi cử... để giải đáp được mọi câu hỏi mà đề bài yêu cầu. Đương
nhiên việc cung cấp cho các em vốn kiến thức nâng cao và chuyên sâu cũng là
của mình khi chưa có hiểu biết đầy đủ về đối tượng trình bày. Bởi vậy tư liệu,
kiến thức càng sâu, rộng, phong phú, đa dạng thì nội dung càng hàm súc, chặt
chẽ. Giáo viên cần cung cấp thêm kiến thức sâu, rộng của vấn đề từ đó học sinh
có cái nền vững chắc cho bài viết. Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh,
không phải tất cả hiểu biết đều đưa vào bài mà cần biết chọn lọc, lựa chọn cái gì
trong vốn hiểu biết của mình cho phù hợp với đề bài. Do vậy việc chuẩn bị tốt
những nội dung cho học sinh lựa chọn là điều không thể thiếu trước khi làm bài.
Chẳng hạn, với đề văn “Hãy phân tích tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn
Trãi thể hiện trong đoạn trích “Nước Đại Việt ta” - Ngữ Văn 8, tập II, ít ra học
sinh phải nắm các nội dung cụ thể: Thế nào là tư tưởng nhân nghĩa? và có thêm
kiến thức như: thời đại, thân thế và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn trãi… càng
nhiều càng tốt. Hay khi bồi dưỡng về mảng “Truyện Kiều” của Nguyễn Du -Văn
13
9, tập I, giáo viên không thể không cung cấp những câu chuyện xoay quanh
những điển tích, điển cố được tác giả sử dụng trong các đoạn trích.Thiếu những
hiểu biết đó, đặc biệt những kiến thức phục vụ trực tiếp cho đề bài, học sinh
không thể không tránh khỏi lúng túng khi triển khai bài viết của mình.
C. Bồi dưỡng về kĩ năng làm bài
C.1. Kĩ năng xác định nội dung, yêu cầu của đề bài và phương hướng
triển khai bài viết:
Để xác định nội dung, yêu cầu của đề bài và vạch ra phương hướng triển
khai bài viết một cách đúng đắn, học sinh cần phải:
- Đọc kĩ đề bài, chú ý tới các dữ kiện đề bài đưa ra và những yêu cầu mà
đề bài đòi hỏi. Khi đề có lời dẫn thì hết sức thận trọng, tìm hiểu cẩn thận từng từ
ngữ, từng mối quan hệ giữa các thành phần câu để có thể hiểu một cách chính
xác nội dung mà đề được nêu.
Giả dụ: lời dẫn là một câu tục ngữ, châm ngôn hoặc lời nói có ngụ ý sâu
xa cần phải xem xét cả nghĩa đen và nghĩa bóng để có thể hiểu đúng hướng,
có la bàn, học sinh sẽ viết lung tung, phá vỡ sự tập trung của chủ đề, thiếu ý
hoặc loãng ý.
15
Khi viết bài, học sinh có thể bổ sung ý vào bài viết của mình khi cần thiết
song phải đảm bảo mạch lạc sự phát triển của vấn đề, không được tạo ra sự gãy
khúc trong khi trình bày văn bản.
C.4. Kĩ năng lập luận
Lập luận là cách thức đưa vấn đề, trình bày vấn đề sao cho có tính thuyết
phục và luôn luôn đảm bảo sự nhất quán trong suốt quá trình trình bày. Luận
điểm, luận cứ, luận chứng là những yếu tố quan trọng của lập luận. Luận điểm là
mội dung quan trọng mà người viết muốn đề cập đến, phục vụ cho việc làm sáng
rõ nội dung của bài viết. Luận điểm được coi là một tiểu chủ đề. Còn luận cứ là
những lí lẽ mà người viết đưa ra nhằm thuyết minh, làm sáng tỏ luận điểm. Đây
chính là những ý phụ của luận điểm. Một luận điểm có thể chia làm nhiều luận
cứ. Như vậy luận điểm không cùng bậc với luận cứ, nó thuộc bậc trên, bậc lớn
hơn. Còn luận chứng là những tài liệu, dẫn chứng minh hoạ… làm sáng tỏ luận
cứ. Chính vì vậy lập luận chính là sự xâu chuỗi các luận cứ, luận chứng sao cho
hợp lí, thuyết phục người đọc nhất, giúp người đọc nhận ra luận điểm, tin ở luận
điểm.
Để lập luận chặt chẽ, yêu cầu học sinh sử dụng một số cách triển khai
đoạn văn như liệt kê, quy nạp, móc xích, song hành, hỏi đáp, tương phản.
C.5. Kĩ năng hành văn
Trong thực tế ôn luyện, nhiều học sinh lầm tưởng rằng khi viết văn càng
dùng nhiều hình ảnh, nhiều sự ví von, so sánh hoặc nhiều từ ngữ sinh động bài
viết càng đạt kết quả cao. Vì sự ngộ nhận này mà nhiều lúc các em cố tình dùng
từ ngữ sáo mòn, diễn đạt vòng vèo, cầu kì, không phù hợp với phong cách của
16
Sự chu đáo cũng bắt nguồn từ tâm huyết. Nên quan tâm rèn nắn cho học sinh
đến từng câu văn, nét chữ... đưa các em đi thi, nhắc nhở các em chuẩn bị giấy
vở, bút mực trước khi vào phòng thi... Những cử chỉ, hành động, sự quan tâm
tưởng chừng như nhỏ nhoi ấy, đời thường ấy thực ra lại có sức lan toả rất lớn, là
động lực giúp các em lập nên kì tích.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Qua quá trình vận dùng cho đối tượng học sinh giỏi ở trường THCS Pắc
Ta - Tân Uyên, học sinh giỏi huyện Tân Uyên, học sinh giỏi trường PTDT Nội
trú Than Uyên và được sự quan tâm của của các cấp lãnh đạo, các Tổ chức đoàn
thể trong nhà trường, với sự nỗ lực và cố gắng của bản thân tôi, trong những
năm học gần đây, khi còn giảng dạy tại trường THCS xã Pắc Ta - Tân Uyên Lai Châu tôi liên tục có đội tuyển học sinh tham gia và đạt giải trong các kì thi
học sinh giỏi cấp Huyện và cấp Tỉnh, cụ thể:
+ Năm học 2006-2007 có 01/02 học sinh tham gia và đạt giải HSG cấp
Huyện; 01/02 học sinh tham gia và đạt giải HSG cấp Tỉnh.
+ Năm học 2007-2008 có 03/05 học sinh tham gia và đạt giải HSG cấp
Huyện; 02/05 học sinh tham gia và đạt giải HSG cấp Tỉnh.
+ Năm học 2008-2009 có 01/02 học sinh tham gia và đạt giải HSG cấp
Huyện; 01/02 học sinh tham gia và đạt giải HSG cấp Tỉnh.
18
+ Năm học 2009-2010 có 01/02 học sinh tham gia và đạt giải HSG cấp
Huyện. Ôn luyện đội tuyển HSG huyện Tân Uyên có 04/05 học sinh đạt
giải cấp Tỉnh.
+ Năm học 2010-2011 có 02/02 học sinh tham gia và đạt giải HSG cấp
Huyện; 02/02 học sinh tham gia và đạt giải HSG cấp Tỉnh. Ôn học sinh
giỏi huyện Tân Uyên cấp Tỉnh với 11 học sinh, trong đó có 6 em đạt giải
cấp Tỉnh.
chuyên nghiệp danh tiếng như: Đại học Luật, Đại học Công đoàn, Đại học Sư
phạm, Đại học KHXH và Nhân văn…Để được điều đó - như các em tâm sự cũng là nhờ vào quá trình bồi dưỡng của các thầy cô giáo từ cấp II.
III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG VÀ TRIỂN KHAI
Sáng kiến có thể áp dụng ở tất cả các vùng miền trên cả nước. Đặc biệt
thích hợp với học sinh vùng núi như khu vực Lai Châu. Bởi đặc điểm vùng
miền, học sinh ở đây không chỉ cần bồi dưỡng cho giỏi kiến thức, kĩ năng mà
còn cần cả sự động viên, khích lệ của nhà giáo đối với phụ huynh, học sinh. Có
như vậy, gia đình các em mới tạo điều kiện cho các em đi học, các em mới có
niềm vui khi đến trường.
IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
20
Trong nhng nm gn õy cụng tỏc ụn luyn, bi dng hc sinh gii ó
nhn c s quan tõm, ng viờn rt ln t cỏc cp lónh o Ngnh. Tuy nhiờn,
nh ó núi, õy l cụng vic ht sc khú khn ũi hi nhiu cụng sc, tõm huyt
v thi gian ca c thy v trũ khi tham gia i tuyn. Chớnh vỡ vy kớnh mong
cỏc cp lónh o Ngnh, c bit l S, Phũng Giỏo dc v o to sm cú vn
bn mang tớnh phỏp quy, quy nh c th v ch khen thng u ói ng
thi quan tõm hn na ti ch ng viờn, khen thng v vt cht, tinh thn
i vi cỏc tp th, cỏ nhõn giỏo viờn v hc sinh cú nhiu úng gúp cú thnh
tớch trong cụng tỏc ụn v thi hc sinh gii nhm nõng cao hiu qu, thnh tớch v
cht lng ca cụng tỏc ụn luyn hc sinh gii núi riờng v mt bng cht lng
giỏo dc ca huyn, tnh nh núi chung.
Nhà văn Xô Viết Alexandor Phadeep viết; Ngời thầy giáo, cái từ mới đẹp
làm sao...! Tơng lai của trẻ em chúng ta, của nhân dân chúng ta ở trong tay các
thầy giáo, ở trong trái tim vàng của thầy giáo. Giáo viên với t cách là nhà giáo
dục phải không ngừng nâng cao nhận thức, hiểu biết, nâng cao năng lc chuyên
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
Tổng điểm:..................; Xếp loại:.................
Ngày......tháng......năm 2012
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
23
TÀI LI ỆU THAM KHẢO
1. Lê A - Nguyễn Quang Ninh - Bùi Minh Toán, Phương pháp dạy hoc tiếng
vịêt, Nhà xuất bản Giáo dục, 239 trang.
2. Bồi dưỡng chuyên môn chu kì III năm 2004 - 2007, quyển 1,2,3, Nhà xuất
bản Giáo dục.
3. Phan Trọng Luận - Trương đĩnh - Nguyễn Thanh Hùng - Trần Thế Phiệt,
Phương pháp dạy học Văn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 415 trang.
4. SGK và SGV Ngữ Văn lớp 6,7,8,9 THCS - Nhà xuất bản Giáo dục.
24
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Phần mở đầu
TRANG
I. Lý do chọn đề tài