ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG VĂN QUÂN
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BUÔN LẬU
TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG VĂN QUÂN
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BUÔN LẬU
TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. BÙI ĐỨC THỌ
THÁI NGUYÊN - 2016
Tác giả luận vãn
Hoàng Vãn Quân
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ÐOAN .................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................... ii
MỤC LỤC .............................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG.................................................................... vii
DANH MỤC CÁC HÌNH .................................................................... viii
MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ................................. 2
4. Những đóng góp của luận văn ............................................................ 3
5. Kết cấu của luận văn ........................................................................... 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC
PHÒNG, CHỐNG BUÔN LẬU ........................................................... 4
1.1. Cơ sở lý luận về phòng, chống buôn lậu .......................................... 4
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về phòng, chống buôn lậu .................... 4
1.1.2. Công tác phòng, chống buôn lậu của cơ quan Hải quan ............. 18
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phòng chống buôn lậu của cơ
quan Hải quan........................................................................................ 22
1.2. Cơ sở thực tiễn về phòng, chống buôn lậu..................................... 25
1.2.1. Kinh nghiệm phòng, chống buôn lậu tại một số Cục Hải quan .. 25
1.2.2. Bài học kinh nghiệm cho Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn ............. 32
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................... 34
3.2.6. Tổ chức kiểm tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý các hành vi buôn
lậu .......................................................................................................... 55
3.3 Những yế u tố tác đô ̣ng tới công tác phòng, chố ng buôn lâ ̣u ta ̣i Cu ̣c
Hải quan tỉnh La ̣ng Sơn ........................................................................ 56
v
3.4. Đánh giá thực trạng công tác phòng, chống buôn lậu của Cục Hải
quan tỉnh Lạng Sơn ............................................................................... 61
3.4.1. Những kết quả đã đạt được ......................................................... 61
3.4.2. Những hạn chế trong công tác phòng, chống buôn lậu............... 69
3.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác phòng, chống buôn
lậu .......................................................................................................... 71
Chương 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÒNG,
CHỐNG BUÔN LẬU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN . 76
4.1. Quan điểm - phương hướng - mục tiêu trong hoạt động đấu tranh
phòng, chống buôn lậu của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn thời gian tới 76
4.1.1. Dự báo xu hướng buôn lậu qua các cửa khẩu ở tỉnh Lạng Sơn .. 76
4.1.2. Quan điểm ................................................................................... 77
4.1.3. Phương hướng ............................................................................. 79
4.1.4. Mục tiêu....................................................................................... 80
4.2. Giải pháp tăng cường phòng, chống buôn lậu của Cục Hải quan tỉnh
Lạng Sơn ............................................................................................... 81
4.2.1. Giải pháp về mặt quản lý vĩ mô .................................................. 81
4.2.2 Giải pháp về mặt quản lý vi mô ................................................... 83
4.3. Một số kiến nghị............................................................................. 93
KẾT LUẬN .......................................................................................... 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................... 97
PHỤ LỤC ............................................................................................. 99
Xuất nhập cảnh
XNC
6
Xuất nhập khẩu
XNK
NSNN
NXB
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Kết quả xử lý vi phạm qua công tác kiểm tra sau thông quan 52
Bảng 3.2. Kết quả xử lý hành vi buôn lậu ở Cục Hải quan tỉnh Lạng
Sơn .......................................................................................... 65
Bảng 3.3. Kết quả xử lý buôn lậu tại các Chi cục tại Cục Hải quan tỉnh
Lạng Sơn ................................................................................. 68
Bảng 3.4. Quan điểm về hạn chế trong công tác phòng, chống buôn
lậu ............................................................................................ 69
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Bộ máy phòng, chống buôn lậu qua biên giới tại các Cục Hải
lậu có tổ chức và chuyên nghiệp cao, lợi dụng những bất cập về cơ chế, chính
sách trong điều hành xuất nhập khẩu, thách thức pháp luật và công tác chống
buôn lậu của các cơ quan chức năng. Nhiều vụ vi phạm bị phát hiện có sự câu
kết của các đối tượng buôn lậu trong nước với các đối tượng ở nước ngoài và
một số cán bộ tha hóa, biến chất của các lực lượng chức năng. Đây chính là lý
2
do mà tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tăng cường công tác phòng, chống
buôn lậu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn” cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành
quản lý kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng công tác phòng, chống buôn lậu, từ đó chỉ rõ
nhưng thành tựu và hạn chế trong công tác phòng chống buôn lậu. Từ đó, đề
xuất giải pháp tăng cường công tác phòng, chống buôn lậu một cách hữu hiệu
tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phòng, chống
buôn lậu qua biên giới tại các Cục Hải quan có cửa khẩu.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến
công tác phòng, chống buôn lậu qua biên giới tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường phòng, chống buôn lậu qua biên giới
tại Cục Hải quan Lạng Sơn trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý công tác phòng, chống
buôn lậu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn và các yếu tố tác động tới công tác
phòng, chống buôn lậu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Lạng Sơn
Chương 4. Giải pháp tăng cường công tác phòng, chống buôn lậu tại
Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BUÔN LẬU
1.1. Cơ sở lý luận về phòng, chống buôn lậu
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về phòng, chống buôn lậu
1.1.1.1. Khái niệm buôn lậu qua biên giới
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam buôn lậu là [24]:
1. Hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hóa hoặc
ngoại tệ, kim khí và đá quý, những vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa mà
Nhà nước cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn bán hàng hóa nói chung
qua biên giới mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của Hải quan.
2. Hành vi buôn bán trốn thuế, lậu thuế những hàng hóa ở trong nước
mà Nhà nước cấm kinh doanh.
Tổ chức Hải quan thế giới WCO (World Customs Organization) họp tại
thủ đô Nairobi của nước Cộng hòa Kênia ngày 09/6/1977 thống nhất đưa ra
khái niệm (còn gọi là công ước Nairobi) như sau: "Buôn lậu là gian lận thương
mại nhằm che giấu sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan bằng mọi thủ đoạn,
mọi phương tiện trong việc đưa hàng hóa lén lút qua biên giới".
Trước năm 1985, thuật ngữ Tội buôn lậu đã được đề cập đến trong một
số văn bản pháp luật của nước ta như pháp lệnh về nhiệm vụ và quyền hạn của
lực lượng Cảnh sát Nhân dân (20/7/1962); Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ,
buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (10/6/1982). Song về cơ bản tội
danh buôn lậu chưa được hướng dẫn nhận diện đầy đủ với các yếu tố cấu thành
và dấu hiệu pháp lý đặc trưng. Phần lớn người ta vẫn chịu ảnh hưởng của các
như hàng thực phẩm, quần áo may sẵn cao cấp, động vật hoang dã, gỗ quý, kim
khí quý, hàng điện tử, điện máy, hàng tiêu dùng hàng ngày…
Thủ đoạn của bọn buôn lậu diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp, đa dạng.
Chúng tinh vi ở chỗ thường xuyên có một đội quân nghiên cứu chính sách của
nhà nước về quản lý kinh tế, sau đó chúng tìm phương án lách luật, trốn thuế
6
và mua chuộc các phần tử biến chất trong đội ngũ chống buôn lậu. Thủ đoạn
thường thấy nhất là chúng lợi dụng những cư dân nghèo ở các xã giáp biên để
vận chuyển hàng lậu. Chúng thuê người xé lẻ từng lô hàng để dễ vận chuyển
và nếu có bị bắt giữ thì hàng hóa không đồng bộ nên không có giá trị. Tại các
tuyến biên giới, chúng thường vận chuyển theo phương thức dùng xe phân khối
lớn chạy tốc độ cao vào nội địa, các lực lượng chức năng không dám đuổi bắt
vì sợ gây tai nạn cho người đang tham gia giao thông
Có nhiều dạng buôn lậu qua biên giới, trong đó có thể nêu ra một số dạng
chủ yếu sau:
- Mang vác công khai hoặc lén lút các mặt hàng cấm xuất khẩu, nhập
khẩu như động vật hoang dã, ma túy, vũ khí, vật liệu nổ hoặc công cụ hỗ trợ.
Đối với loại hình buôn lậu này, bọn chủ mưu thường tổ chức rất tinh vi và hết
sức manh động, sẵn sàng chống đối, thậm chí gây án mạng để tẩu thoát qua bên
kia biên giới.
- Trốn thuế đối với những mặt hàng có thuế suất cao như: Vải may mặc,
linh kiện điện tử, phụ tùng ô tô, xe máy, sản phẩm là thực phẩm chức năng, hàng
hóa thuộc diện hạn chế nhập hoặc nhập khẩu có điều kiện như các loại hóa chất,
thuốc trừ sâu và nguy hại hơn là các loại thuốc bảo vệ thực vật và kích thích sinh
trưởng không rõ nguồn gốc. Hình thức buôn lậu này chủ yếu là lén lút, tập kết
hàng hóa phía bên kia biên giới, gần khu vực hai bên cánh gà cửa khẩu, sau đó
thuê đội ngũ “cửu vạn” khuân vác nhập lậu qua biên giới.
- Gian lận về xuất xứ, chủng loại, phẩm cấp hàng hóa, vi phạm về sở
cho buôn lậu diễn ra sôi động. Mặt khác, lợi nhuận của hoạt động buôn lậu còn
được hỗ trợ tích cực bằng nhiều biện pháp khuyến mãi, hậu thuẫn của bọn trùm
đầu lậu ở nước ngoài. Lợi nhuận cao và được hỗ trợ tích cực, rủi ro được chia
sẻ đến mức thấp nhất, đó chính là những điều kiện rất quan trọng tạo cho hoạt
động buôn lậu tiếp tục phát triển.
- Nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Nước ta đã trải qua nhiều năm đổi
mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
8
phần được khuyến khích phát triển, cơ chế thị trường được vận hành và quản
lý tốt, tạo môi trường cạnh tranh rộng rãi, kích thích giao lưu và hợp tác, mở
rộng phân phối để nền kinh tế hàng hóa tiếp tục được phát triển. Tuy nhiên,
công nghệ nước ta còn lạc hậu là nguyên nhân cơ bản làm cho hàng hóa trong
nước có chất lượng chưa tốt, giá thành cao, mẫu mã đơn điệu, tính cạnh tranh
thấp.
Thứ 2, nhân tố văn hóa - xã hội
- Vấn đề lao động và việc làm. Một trong những nguyên nhân xã hội quan
trọng nhất là vẫn đề lao động và việc làm. Dân số lớn trong khi tỷ lệ thất nghiệp còn
cao, thực trạng thiếu công ăn việc làm đã dẫn đến một bộ phận lớn lao động đi vào
con đường buôn lậu. Vì cuộc sống của người dân vùng biên giới còn nhiều vất vả
nên bọn buôn lậu dễ dàng lôi kéo bao gồm cả tầng lớp người già và trẻ em.
- Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng lớn. Chính sự phân
hóa giàu nghèo này làm góp phần nảy sinh một bộ phận nuôi ý chí làm giàu
bằng mọi giá, thông qua những phương pháp nhanh nhất, táo bạo và liều lĩnh
nhất. Một trong những phương pháp ấy chính là buôn lậu. Những món lợi kếch
xù do buôn lậu mà có, làm giàu một cách nhanh nhất khiến nhiều đối tượng rơi
vào con đường này.
- Công tác tuyên truyền còn yếu kém, trình độ dân trí thấp. Một trong
những hạn chế lớn là tâm lý xã hội về buôn lậu nói chung chưa được định hướng
- Hậu quả đối với nền kinh tế
Buôn lậu có tác hại rất lớn đối với nền kinh tế, những thành tựu của công
cuộc đổi mới mà đất nước đang tiến hành. Buôn lậu có nguy cơ kìm hãm tốc
độ phát triển của nền kinh tế, tạo thành một lực cản lớn đối với quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Hàng hóa nhập lậu là hàng gian lận, trốn
thuế sẽ làm mất tính cân bằng trong cạnh tranh thương mại giữa hàng nội và
hàng ngoại, đồng thời làm thất thu thuế XNK và các sắc thuế khác dẫn đến thất
thu cho ngân sách nhà nước. Thuế quan đánh trên hàng hóa xuất, nhập khẩu,
nhằm mục đích làm tăng giá của hàng nhập khẩu, bảo vệ và kích thích sản xuất
10
nội địa. Vì vậy, hàng nhập lậu - gian lận trốn thuế đã phá vỡ cạnh tranh lành
mạnh giữa hàng nội và hàng ngoại nhập. Hàng ngoại nhập lậu vào thị trường
do trốn thuế nhập khẩu nên giá rẻ hơn, chất lượng cao hơn hàng nội do có công
nghệ sản xuất tiên tiến, thiết bị khoa học hiện đại. Trong khi đó, những doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất trong nước vẫn phải nhập khẩu và chịu thuế một số
nguyên vật liệu, trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, họ còn phải nộp
các khoản thuế khác như: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp…
Cạnh tranh giữa hàng nội và hàng nhập lậu không chỉ gây thiệt hại cho người
sản xuất, mà còn ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Hàng ngoại tràn ngập thị
trường với giá rẻ tạo nên thị hiếu, tâm lý ưa dùng hàng ngoại. Nhập lậu hay
xuất lậu cũng gây thiệt hại như nhau về kinh tế, bởi nhập lậu ồ ạt biến nước ta
thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của nước ngoài, đặc biệt là hàng dư thừa,
kém chất lượng. Còn xuất lậu hàng hóa, đặc biệt là nguyên liệu, khoáng sản,
nhiên liệu thô, các mặt hàng chiến lược, hàng quốc cấm sẽ làm cho tài lực của
đất nước cạn kiệt. Hậu quả rõ nhất làm mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng,
làm chệch hướng phát triển của nền kinh tế.
Mặt khác, buôn lậu và gian lận thương mại còn làm cho đất nước thất
thu lớn về thuế xuất, nhập khẩu và các sắc thuế khác gây ảnh hưởng đến quá
hóa xã hội đã dẫn đến những tác hại về mặt chính trị, gây khó khăn cho sự quản
lý Nhà nước. Hàng nhập lậu làm cho thị trường hỗn loạn, đời sống kinh tế của
một bộ phận nhân dân gặp khó khăn, tệ nạn xã hội phát triển; công bằng, văn
minh xã hội không được thiết lập; nhà nước thất thu thuế nên không cân đối
được thu - chi ngân sách, một số quỹ phúc lợi bảo hiểm xã hội bị giảm sút….
Buôn lậu và các chủ thể buôn lậu vì những khoản lợi nhuận khổng lồ có
thể bất chấp pháp luật, bất chấp chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
với những thủ đoạn tinh vi để thu lợi nhuận bất chính. Những khoản lợi nhuận
này tạo cho bọn buôn lậu giàu có và ăn chơi sa đọa, phung phí, trong khi đại bộ
phận nhân dân làm ăn chân chính thì sống khó khăn và nghèo khổ. Chính sự
12
bất công đó đã làm nảy sinh tâm lý coi thường pháp luật, coi thường Nhà nước,
kèm theo khủng hoảng cả hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp. Với chính
sách mở cửa thì cuộc chiến tranh giành thị trường nổ ra không kém phần gay
go so với các hình thức chiến tranh khác. Chủ quyền lãnh thổ bị đe dọa với hình
thức xâm lăng mới, đó là “diễn biến hòa bình” và “chiến tranh biên giới mềm”,
hàng hóa đến đâu là biên giới đến đó - dần dần các nước chậm phát triển từng
bước phụ thuộc vào kinh tế và cuối cùng phải phụ thuộc vào chính trị. Trên
thực tế, biên giới nhiều quốc gia vẫn còn nguyên vẹn, bộ máy nhà nước vẫn do
những cán bộ trong nước điều hành, nhưng thực chất độc lập, chủ quyền lãnh
thổ bị mất. Vì vậy, bảo vệ an ninh biên giới không chỉ là việc bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, mà thực chất là bảo vệ các tiềm năng - yếu tố cơ bản của phát triển
kinh tế. Bảo vệ an ninh quốc gia góp phần bảo vệ vững chắc nguồn nhân lực,
vật lực, tài lực là phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế và sự vững chắc của
chế độ chính trị.
- Ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội
Buôn lậu gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế, văn
hoá xã hội, chính trị, đây là những hậu quả trực tiếp dễ nhìn nhận. Một hậu quả
an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn về y tế, tiêu chuẩn chất lượng như: Tân dược, đồ
chơi trẻ em, mũ bảo hiểm, rượu, nước giải khát…Tóm lại, những hậu quả và tác
hại do buôn lậu gây nên đó là: Làm mất ổn định giá cả thị trường, kìm hãm sản
xuất trong nước, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, gây thất thu cho ngân sách
cho nhà nước, tạo nên sự cạnh tranh không bình đẳng giữa hàng nội và hàng
ngoại, là nguyên nhân phát sinh các tiêu cực trong xã hội. Vì vậy, tệ nạn buôn
lậu, gian lận thương mại phải được ngăn chặn một cách triệt để và là nhiệm vụ
của toàn xã hội, trong đó có ngành Hải quan.
1.1.1.4. Khái niệm phòng, chống buôn lậu qua biên giới
Phòng, chống buôn lậu là hoạch định chính sách, kế hoạch, sách lược
triển khai lực lượng có liên quan nhằm ngăn chặn hoạt động buôn lậu và vận
chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Hoạt động phòng, chống buôn lậu qua
biên giới còn bao gồm các nội dung như tuyên truyền, vận động, giáo dục,
14
thuyết phục cư dân biên giới hiểu biết thêm về pháp luật thuế, về ngoại thương,
về tác hại của buôn lậu đối với đời sống xã hội, qua đó giúp họ tự giác không
tham gia các hoạt động tiếp tay cho các đầu nậu buôn lậu. Ngoài ra, lực lượng
phòng, chống buôn lậu còn có nhiệm vụ xây dựng cơ sở bí mật để nắm rõ tình
hình nội biên và ngoại biên, từ đó xây dựng phương án đấu tranh chống buôn
lậu có hiệu quả. Song song với các biện pháp nghiệp vụ trên, lực lượng phòng,
chống buôn lậu phải đi sâu nắm tình hình đời sống của nhân dân sở tại để tham
mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương có quyết sách đúng đắn nhằm xóa
đói giảm nghèo, xóa mù chữ và từng bước nâng cao đời sống cho nhân dân biên
giới, hạn chế tình trạng bọn buôn lậu lợi dụng sự thiếu hiểu biết và nghèo đói
của dân cư vùng biên để thuê họ vận chuyển hàng lậu qua biên giới.
Phòng, chống buôn lậu còn là việc triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp
vụ để bắt giữ hàng hóa và các đối tượng buôn lậu trốn nộp thuế cho Nhà nước
khi vận chuyển hàng hóa qua biên giới, chống việc vận chuyển hàng không được
phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
Trong trường hợp hàng hóa, phương tiện vận tải đã đưa ra ngoài phạm vi
địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan nhà nước hữu quan có căn cứ cho rằng có
hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì theo thẩm quyền,
cơ quan đó thực hiện việc kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
1.1.1.5. Đặc điểm của việc phòng, chống buôn lậu qua biên giới
Thứ nhất, việc phòng, chống buôn lậu qua biên giới tại các Cục Hải quan
rất khó khăn. Trong lĩnh vực thuế quan, hiện tượng buôn lậu được thực hiện
dưới hình thức khai báo gian dối về giá tính thuế, xuất xứ và chủng loại hàng
hóa. Đối với dạng buôn lậu này, việc đấu tranh có hiệu quả là tương đối khó
khăn vì các doanh nghiệp thường có các mối quan hệ với một số quan chức cao
cấp, có thể là các cơ quan ban hành chính sách hoặc các cơ quan có chức năng
kiểm định chất lượng hàng hóa. Do vậy, khi có xảy ra tranh chấp về giá và thuế
thì họ thường nhờ những người có thế lực gọi điện thoại đến để tác động, nhằm
đạt được mục đích gian lận của họ hoặc họ vin vào chính sách khuyến khích