Header Page 1 of 166.
1
LỜI MỞ ĐẦU
1) Sự cần thiết của đề tài
Môi trường kinh doanh của Việt Nam luôn thay đổi trong suốt những năm
gần đây. Các nhà quản lý doanh nghiệp phải đối mặt với một môi trường cạnh tranh
ngày càng cao và phức tạp. Vì vậy, yêu cầu cần phải có những đổi mới trong việc
quản lý và kinh doanh, đặc biệt là công việc đánh giá thành quả hoạt động của
doanh nghiệp. Để đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp cần phải có
những thước đo tài chính và phi tài chính. Những thước đo truyền thống như: lợi
nhuận, vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover), vòng quay tài sản, tỷ suất
sinh lợi trên tổng tài sản (Return on total asset –ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ
phần (Return on equity – ROE), thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), ...v.v được các
nhà quản lý sử dụng để đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp trên nhiều khía
cạnh khác nhau. Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh thì ngoài mục tiêu lợi nhuận
doanh nghiệp còn theo đuổi mục tiêu giá trị, vì vậy, sử dụng các thước đo truyền
thống trên để đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp đã bộc lộ một số hạn chế:
Thứ nhất, hầu hết các thước đo truyền thống không tính đến chi phí sử dụng
vốn, đặc biệt là chi phí sử dụng vốn chủ - là chi phí cơ hội khi nhà đầu tư bỏ vốn
vào hoạt động kinh doanh. Vì vậy, chúng chưa chỉ ra được liệu rằng doanh nghiệp
có tạo ra giá trị cho mình và cổ đông hay không.
Thứ hai, cơ sở để xác định các thước đo truyền thống đều dựa trên số liệu kế
toán. Nhưng số liệu kế toán được ghi nhận lại dựa trên một số giả định và tuân thủ
các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận, vì vậy, sẽ dẫn đến một số hạn chế
như: hạn chế trong việc xác định lợi nhuận, hạn chế trong việc phản ánh vốn đầu
tư,....v.v. Đặc biệt nhà quản lý có thể thông qua đó để bóp méo số liệu kế toán phục
vụ cho mục đích của mình.
Thứ ba, để theo đuổi mục tiêu giá trị thì các thước đo truyền thống không
thích hợp vì chúng chủ yếu sử dụng số liệu quá khứ trên báo cáo kế toán, trong khi
để tính chính xác giá trị mà doanh nghiệp tạo ra thì phải tính theo giá trị thị trường.
- Vận dụng thước đo EVA và kết hợp EVA với ABC trong việc đánh giá
thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An.
3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thước đo EVA
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng đánh giá thành quả
hoạt động tại Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An.
Footer Page 2 of 166.
Header Page 3 of 166.
3
4) Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu vận dụng trong nghiên cứu đề tài là phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn kết hợp sử dụng các
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, diễn dịch, kết hợp giữa phân
tích lý luận với thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
5) Những đóng góp của luận văn
Về cơ sở lý luận: luận văn hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến
thước đo EVA, kết hợp EVA với ABC trong việc đánh giá thành quả hoạt động
doanh nghiệp.
Về ý nghĩa thực tiễn: (1) Đánh giá xem Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường
An có tạo ra giá trị cho các cổ đông hay không, (2) Đánh giá thành quả hoạt động
của Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An bằng các thước đo truyền thống như
lợi nhuận, ROI, EPS, v.v... và thước đo thành quả hoạt động mới là EVA, (3) Kết
hợp thước đo EVA với ABC để đánh giá thành quả hoạt động Công ty Cổ phần dầu
thực vật Tường An.
BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
- CHƯƠNG 1: Cở sở lý luận về thước đo giá trị kinh tế tăng thêm
(Residual Income - RI) mà nhiều doanh nghiệp đã sử dụng trước đây. Điển hình là
công ty General Electric (GE) đã sử dụng RI trong những năm 1950-1960 để đánh
giá thành quả hoạt động. GE định nghĩa RI như là “sự chênh lệch giữa lợi nhuận
thuần và chi phí sử dụng vốn, nó là phần thặng dư của lợi nhuận thuần sau khi trừ đi
chi phí sử dụng vốn” (Salomons, 1965).
Công ty Stern Stewart được coi là người sáng lập đầu tiên công thức EVA –
cho đến nay đã tư vấn cho hơn 200 doanh nghiệp thực hiện, áp dụng thước đo EVA
để đánh giá thành quả hoạt động và xây dựng chính sách khuyến khích khen thưởng
(Stern Stewart & Co., 1997). Danh sách một số công ty tại Hoa Kỳ áp dụng EVA
như: Allied Holdings, Briggs & Stratton, Coca Cola, CSX, Dun & Bradstreet, Eli
Footer Page 4 of 166.
Header Page 5 of 166.
5
Lilly, Federal-Mogul, Georgiaa-Pacific, Monsanto, Olin, R.R. Donnelley, Sprint,
SPX, Toys R Us, and Whirlpool. Tính ưu việt của EVA ngày càng được khẳng định
và nó không chỉ giới hạn đối với các công ty ở Hoa Kỳ, mà còn lan rộng sang các
công ty ở Châu Âu như: Anh, Đức, New Zealand….v.v.
1.1.2 Sự cần thiết vận dụng thước đo EVA
Các thước đo truyền thống đánh giá hoạt động của doanh nghiệp trên nhiều
khía cạnh khác nhau và thoả mãn nhu cầu cho nhiều đối tượng khác nhau. Tuy
nhiên, trong một số trường hợp thì kết quả đánh giá mà các các thước đo đưa ra là
khác nhau hay thậm chí là trái ngược nhau. Điều này làm các nhà quản lý phải đối
mặt với thách thức lớn hơn trong việc đưa ra quyết định phù hợp.
Các nhà đầu tư cũng quan tâm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp như
các nhà quản lý, nhưng quan trọng hơn cả là họ muốn biết mỗi đồng vốn đầu tư bỏ
ra có thu nhập thật sự là bao nhiêu sau khi tính đến chi phí cơ hội của việc sử dụng
với nhà đầu tư là người cung cấp vốn cho doanh nghiệp thì lãi suất sử dụng vốn là
tỷ suất sinh lời mà nhà đầu tư đòi hỏi khi cung cấp vốn cho doanh nghiệp. Mức sinh
lời này phải tương ứng với mức độ rủi ro mà nhà đầu tư có khả năng gặp phải khi
cung cấp vốn.
Doanh nghiệp là người sử dụng nguồn tài trợ thì lãi suất sử dụng vốn là tỷ lệ
hoàn vốn đầu tư tối thiểu cần phải đạt được để đảm bảo duy trì tỷ suất lợi nhuận trên
vốn và tạo ra giá trị tăng thêm cho cổ đông.
Lãi suất sử dụng vốn phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố: tính mạo hiểm của việc
sử dụng vốn, lãi suất của các khoản nợ phải trả, cấu trúc vốn của doanh nghiệp,
chính sách phân phối lợi nhuận…Vì vậy, khi tính toán lãi suất sử dụng vốn cần phải
lượng hoá được lãi suất bình quân của tất cả các nguồn tài trợ (WACC).
Vốn đầu tư là số vốn doanh nghiệp cần phải có để thực hiện hoạt động đầu tư
hay hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Về nguyên tắc thì vốn đầu tư nên
được xác định theo giá thị trường.
Cũng giống như cách tính toán các chỉ tiêu đo lường thành quả hoạt động
truyền thống khác, số liệu kế toán là số liệu ban đầu sử dụng cho việc xác định giá
trị kinh tế tăng thêm. Tuy nhiên, số liệu kế toán được lập dựa trên một số giả định
và tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận, vì vậy có sự khác
biệt với lý thuyết tài chính: giữa giá trị theo sổ sách kế toán và giá trị thị trường của
các loại tài sản và nguồn vốn; lợi nhuận trên Báo cáo kế toán khác biệt với số tiền
Footer Page 6 of 166.
Header Page 7 of 166.
7
tạo ra cho cổ đông và nó dễ dàng bị thay đổi. Vì vậy, khi tính EVA cần thiết phải
thực hiện một số điều chỉnh để giảm sự khác biệt này.
Tỷ lệ hoàn vốn
đầu tư (ROI)
Vốn cổ phần
:
Tổng tài sản
x
Formatted: Font: 15 pt
Tỷ suất sinh lợi trên
doanh thu (ROS)
Vòng quay
VĐT
÷
÷
Lợi nhuận
ròng
Doanh thu
Doanh thu
1.2.1.1 Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư ( Return on Investment-ROI)
ROI được phát triển bởi công ty DuPont Power trong những năm đầu 1900
để quản lý doanh nghiệp một cách thống nhất (Johnson&Kaplan, 1987).
ROI là tỷ số giữa thu nhập thuần trên vốn đầu tư đã bỏ ra. Ngoài ra ROI còn
được phân tích là tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu với vòng quay của doanh thu trên
vốn đã sử dụng (mô hình Du-Pont). Mô hình Du-Pont là mô hình đo lường thành
quả tài chính truyền thống dựa trên các khái niệm về thu nhập kế toán. Nhiều ý kiến
Footer Page 8 of 166.
Header Page 9 of 166.
9
cho rằng mô hình tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) là một chỉ tiêu đo lường thành quả
hoạt động hoàn hảo. Tất cả các hoạt động trong một tổ chức đều được biểu hiện qua
mô hình Du-pont này. Với việc phân tích nhấn mạnh nhiều vào sự phụ thuộc của chỉ
số tài chính dựa trên bốn khía cạnh liên quan đến tài chính doanh nghiệp: Lợi
nhuận, khả năng thanh toán, cấu trúc vốn, hoạt động.
Công thức ROI
ROI =
Lợi nhuận
Vốn đầu tư
ROI =
=
=
Footer Page 9 of 166.
Header Page 10 of 166.
10
Mặc dù thước đo hoàn vốn đầu tư ROI có nhiều ưu điểm và được các nhà
quản trị sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá thành quả hoạt động, nhưng nó vẫn
còn tồn tại một số hạn chế như sau:
- ROI có khuynh hướng chú trọng đến mục tiêu ngắn hạn hơn là dài hạn, do
vậy, nếu nhà quản trị chỉ quan tâm đến ROI có thể bỏ qua nhiều cơ hội đầu tư mà
kết quả của chúng thể hiện trong dài hạn.
- Sử dụng ROI để đánh giá các bộ phận và khen thưởng sẽ làm cho các nhà
quản lý bộ phận chỉ quan tâm đến lợi ích của bộ phận, của cá nhân mà không hướng
mục tiêu của bộ phận vào mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp.
- ROI có thể không hoàn toàn chịu sự điều hành của nhà quản trị cấp cơ sở,
vì chỉ có trung tâm đầu tư cấp cao có quyền điều tiết ROI.
- ROI là số tương đối nên không lượng hoá được mức độ tăng thêm tuyệt đối
là bao nhiêu.
- ROI không phù hợp với mô hình vận động của dòng tiền khi sử dụng trong
phân tích vốn đầu tư.
1.2.1.2. Lợi nhuận còn lại (Residual Income – RI)
Lợi nhuận còn lại là khoản thu nhập của bộ phận hay toàn doanh nghiệp sau
khi trừ đi chi phí sử dụng vốn đã đầu tư vào bộ phận đó. Chỉ tiêu này nhấn mạnh
đến khả năng tạo thu nhập vượt trên chi phí vốn đã đầu tư vào một bộ phận hay toàn
doanh nghiệp
Công thức tính của RI
Lợi nhuận còn lại
(RI)
Vốn đầu tư
Đánh giá kết quả thực hiện theo ROI
Đánh giá kết quả thực hiện theo RI
Dự án mới
Tổng cộng
400.000
90.000
490.000
2.000.0000
500.000
2.500.000
20%
18%
19,6%
100.000
15.000
Bộ phận D
Lợi nhuận
3.600.000
8.100.000
Vốn đầu tư
20.000.000
45.000.000
15%
15%
3.000.000
6.750.000
600.000
1.350.000
Tỷ suất sinh lời đòi hỏi
Chi phí sử dụng vốn
Lợi nhuận còn lại
của một doanh nghiệp được lấy từ Báo cáo xác định kết quả kinh doanh.
NOPAT = Lợi nhuận sau thuế + lãi vay x ( 1- thuế suất thuế TNDN)
Bước 2: Tính vốn đầu tư (Total Invested capital – TC)
Chúng ta tính vốn đầu tư dựa vào số liệu Bảng cân đối kế toán trong kỳ, đơn
giản đó chính là tổng tài sản của doanh nghiệp.
Bước 3: Xác định lãi suất sử dụng vốn bình quân (Weighted Average Cost
of Capital – WACC)
Lãi suất sử dụng vốn bình quân (WACC) được xác định theo tỷ lệ phần trăm
(%), chính là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư tối thiểu cần phải đạt được khi sử dụng nguồn tại
trợ. Để tính WACC, chúng ta cần tính lãi suất sử dụng nợ và lãi suất sử dụng vốn
chủ sở hữu .
Lãi suất sử
dụng vốn
bình quân
Tỷ trọng
Lãi suất sử
=
dụng nợ vay
sau thuế
WACC
X
nợ trong
tổng vốn
đầu tư
Header Page 14 of 166.
14
(lá chắn thuế). Do lãi vay được khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp
nên lãi suất sử dụng nợ vay cần được tính sau thuế
- Lãi suất sử dụng nợ vay trước thuế (rd)
- Lãi suất sử dụng nợ vay sau thuế (rd*)
rd* = rd (1 − T)
T: là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Như vậy, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp làm giảm đáng kể lãi suất sử
dụng nợ vay, và lãi suất sử dụng nợ vay tỷ lệ thuận với thuế suất thuế thu nhập.
Nhưng khi doanh nghiệp bị thua lỗ thì lãi suất sử dụng nợ vay trước và sau thuế
bằng nhau, vì khi đó doanh nghiệp không thể giảm chi phí này ra khỏi “lợi nhuận”.
Lãi suất sử dụng vốn chủ
- Lãi suất sử dụng vốn cổ phần ưu đãi (rp)
Lãi suất sử dụng vốn cổ phần ưu đãi (rp) được xác định theo mức chi trả hàng
năm cho các cổ đông ưu đãi.
rp
=
Cổ tức cổ phần ưu đãi
Pp x (1- %chi phí phát hành cổ phần ưu đãi)
Với: Pp là giá bán cổ phiếu ưu đãi
- Lãi suất sử dụng vốn cổ phần thường (re)
Có nhiều cách để tính lãi suất sử dụng vốn cổ phần thường. Trên thực tế mô
trọng từng nguồn vốn theo nguyên tắc bảo toàn vốn.
+ Quan điểm cổ đông và các nhà đầu tư tương lai thì giá trị doanh nghiệp cần
được xác định theo giá thị trường: Các khoản nợ và cổ phiếu cần căn cứ vào giá thị
trường tại từng thời điểm xác định. Quan điểm này phù hợp hơn trong việc tính tỷ
trọng vốn.
Như vậy WACC tính theo tỷ trọng vốn theo giá trị sổ sách kế toán công ty sẽ
đảm bảo nguyên tắc phù hợp và nhất quán khi so sánh. Tuy nhiên, WACC tính theo
giá trị sổ sách bỏ qua chi phí cơ hội của việc sử dụng lợi nhuận tái đầu tư của nhà
đầu tư hiện tại cũng như những khoản đầu tư mới trong tương lai.
Bước 4: Xác định giá trị kinh tế tăng thêm (Economic value added – EVA)
EVA = NOPAT – (TC x WACC)
Ở bước 4 này chúng ta tính được EVA của doanh nghiệp chỉ đơn giản dựa
vào các số liệu trên Báo cáo tài chính do kế toán cung cấp. Cách tính này đơn giản,
dễ tính toán và phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp. Ưu điểm của EVA theo
cách tính này đã khắc phục được một số hạn chế của các chỉ tiêu đánh giá thành quả
hoạt động truyền thống như: lợi nhuận, ROI, ROE, RI…..v.v. Tuy nhiên những hạn
chế vốn có khi sử dụng các chỉ tiêu này để đo lường thu nhập thực cho doanh
nghiệp cũng như cổ đông chính là những hạn chế của số liệu kế toán.
Footer Page 15 of 166.
Header Page 16 of 166.
16
1.2.2.2 Tính EVA sau khi đã điều chính các số liệu kế toán
EVA phụ thuộc vào 3 nhân tố chính i)- Lợi nhuận; ii)- Vốn đầu tư; iii)- lãi
suất sử dụng vốn, điều chỉnh một trong 3 nhân tố này hoặc đồng thời chúng ta cũng
thu được EVA khác nhau.
17
này trong việc xác định vốn đầu tư chính là các khoản nợ không phát sinh lãi là
những khoản nợ có thời hạn ngắn, thời gian chi trả thường không cố định, doanh
nghiệp thường phải dự phòng một số tiền nhất định để chi trả cho các nghĩa vụ nợ
này. Vì vậy, có rất ít mối liên hệ giữa các khoản mục này với việc tạo ra thu nhập.
- Các quỹ của doanh nghiệp: Theo chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam
lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp phải được trích lập các quỹ theo quy định: Quỹ
đầu tư phát triển; quỹ dự phòng tài chính; quỹ trợ cấp việc làm, quỹ khen thưởng
phúc lợi. Số lợi nhuận còn lại mới được chi trả cổ tức hoặc giữ lại sử dụng tái đầu
tư. Vì vậy, số dư khoản mục các quỹ dự trữ này là số tiền chưa được sử dụng để tái
đầu tư, chưa tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Do đó, khi xác định vốn đầu tư thì
các quỹ dự trữ này cũng phải được loại trừ.
Cũng có quan điểm khác giải thích việc phải loại trừ các khoản nợ không
phát sinh lãi và các quỹ dự trữ xuất phát từ quan điểm vốn luân chuyển. Tổng tài
sản có thể bị thổi phồng nếu các khoản nợ chiếm dụng tăng lên, các khoản nợ nội bộ
tăng lên. Nhà quản lý có thể bóp méo số liệu khi sử dụng kỹ thuật tính toán vốn đầu
tư theo cách ghi nhận kế toán để điều chỉnh thành quả hoạt động của mình như đã
từng làm với các chỉ tiêu ROI, ROA, ROS…
b/. Một số khoản mục chi phí cần được vốn hoá ngược lại vào vốn đầu tư
đồng thời phải điều chỉnh tăng lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh
- Điều chỉnh các khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán: Các khoản nợ
tương đương tài sản cần được vốn hoá thay vì ghi nhận tất cả vào chi phí trong kỳ,
mục tiêu của chúng ta là biết được những khoản đầu tư hay những khoản nợ mà nó
không thể hiện trên Bảng cân đối kế toán hiện hành (tiền thuê hoạt động, chi phí
nghiên cứu phát triển).
+ Chi phí nghiên cứu phát triển: Theo Chuẩn mực 04 “Tài sản cố định vô
hình” thì toàn bộ chi phí nghiên cứu không được ghi nhận là TSCĐ vô hình mà
được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Vì vậy, chúng ta cần phải
vốn hoá những chi phí này và coi nó như những khoản đầu tư. Khi đó NOPAT phải
phòng là ước tính kế toán xác định mức giảm giá của các khoản mục có thể xảy ra
cho niên độ kế toán tiếp theo và được phản ánh trong kỳ hiện tại. Nếu khoản trích
lập dự phòng mà thực tế chưa xảy ra sẽ ảnh hưởng tới cả Bảng cân đối kế toán và
báo cáo kết quả kinh doanh. Vì khi thực hiện trích lập dự phòng, các tài khoản tài
sản bị ghi giảm theo làm giảm vốn đầu tư. Mặt khác, giá trị trích lập thường được
phản ánh vào chi phí trong kỳ và làm giảm lợi nhuận trong kỳ kế toán đó. Vì vậy,
trong kỳ kế toán quản trị cần thiết phải đánh giá xem liệu rằng mức trích lập dự
Footer Page 18 of 166.
Header Page 19 of 166.
19
phòng có phù hợp hay không và nó có xảy ra hay không từ đó có các điều chỉnh sao
cho phù hợp với mục tiêu quản trị của mình.
+ Các khoản trích trước: là việc phản ánh trước trong kỳ kế toán khoản chi
phí nào đó theo ước tính. Vì vậy cần thiết phải điều chỉnh tăng vốn đầu tư và tăng
lợi nhuận đúng bằng số dư các khoản chi phí trích trước trên bảng cân đối kế toán.
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp: Khi tính NOPAT, chúng ta lấy lợi nhuận
trước lãi vay và thuế đã điều chỉnh trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên,
chúng ta chỉ trừ số thuế mà doanh nghiệp thực sự trả bằng tiền mặt vì quan điểm
kinh tế dựa trên cơ sở dòng tiền thực thu, thực chi. Số tiền thuế mà doanh nghiệp trả
thì khác với số tiền mà họ ghi nhận là chi phí thuế. Điểm chính khi chỉ tính thuế mà
doanh nghiệp thực sự trả bằng tiền mặt là để biết được lợi nhuận thực tế được tạo ra từ
các khoản đầu tư bằng tiền thực sự.
Như vậy, EVA khác RI bởi số liệu kế toán để tính EVA sẽ thực hiện những điều
chỉnh như trên. Ngoài ra, chỉ tiêu lợi nhuận để tính EVA là lợi nhuận hoạt động trước
lãi vay sau thuế, còn RI sử dụng lợi nhuận trước thuế. Bên cạnh đó, để tính chi phí sử
dụng vốn thì EVA sử dụng lãi suất sử dụng vốn trung bình, còn RI sử dụng tỷ suất sinh
phát triển
5
6
7
Quan điểm khác
biệt giữa kế toán
và tài chính
Không được coi là
vốn đầu tư cần
phải trừ ra khỏi
bảng cân đối kế
toán khi tính vốn
đầu tư
Không được coi là
vốn đầu tư
cầnphải trừ ra
khỏi bảng cân đối
kế toán khi tính
vốn đầu tư
Chưa được coi là
sự chi ra của vốn
đầu tư
Là vốn đầu tư
phải được vốn hoá
ghi nhận trên bảng
cân đối kế toán
+
+
-
+
+
-
+
-
+
+
+
-
+
Lợi
nhuận
Vốn
Vốn đầu tư (TC) = Tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán – Số dư nợ không phát
sinh lãi – Các quỹ dự trữ + Vốn hoá (chi phí nghiên cứu, phát triển; tiềnthuê hoạt
động) + số dư dự phòng
Footer Page 20 of 166.
Header Page 21 of 166.
21
NOPAT
= Lợi nhuận sau thuế + lãi vay x ( 1- thuế suất)+ dự phòng + chi phí
trích trước + chi phí R& D + tiền lãi thuê hoạt động x ( 1- thuế suất ) + thuế thu
nhập hoãn lại trong kỳ
Ví dụ minh hoạ 3
Bảng 1.4 - Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2005 của công ty X
ĐVT: 1.000.000 đồng
STT
Chỉ tiêu
Số tiền
1
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
629
Chi phí lãi vay
629
Chi phí bán hàng
2.453
Chi phí quản lý doanh nghiệp
4.051
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
3.800
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
3800
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
884
Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại
180
2. Tiền gửi ngân hàng
X
II- Các khoản đầu tư tài chính ngắn
X 2. Phải trả người bán
hạn
……..
X 3. Chi phí phải trả
III- Các khoản phải thu ngắn hạn
X
1. Phải thu khách hàng
X
2. Dự phòng phải thu khó đòi
3.001
11.132
1.343
(300)
IV- Hàng tồn kho
IV- Các khoản đầu tư tài chính dài
X
2.950
26.080
hạn
Tổng tài sản
53.902
Tổng nguồn vốn
53.902
- Cuối năm 2005 Công ty X lập dự phòng nợ phải thu khó đòi 300 triệu đồng.
- Công ty X thuê hoạt động một tài sản có thời gian thuê 6 năm, số tiền thuê
công ty cần thanh toán trong trong mỗi năm như sau:
Footer Page 22 of 166.
Header Page 23 of 166.
23
ĐVT: 1.000.000 đồng
STT
4
2008
1.509
1.031
5
2009
791
491
6
Năm cuối
1.685
951
Tổng
14.957
11.886
Trong ví dụ, công ty X tính tỷ suất phi rủi ro dựa vào lãi suất hai năm của trái phiếu
chính phủ là 5%, và hệ số Beta ( β ) của công ty X vào cuối năm tài chính là 1,15.
Chi phí sử dụng vốn = 5% + (1,15% x 5%) = 10,75%
Bảng 1.7 – Cấu trúc vốn Công ty X
STT
Chỉ tiêu
Giá trị
Tỷ trọng
1
2
Vốn chủ sở hữu
Nợ phải trả
26.080
27.821
0,48
0,52
3
4
Tổng vốn
Lãi suất sử dụng vốn bình quân
Lợi nhuận trước lãi vay sau thuế
3.164
3
Vốn đầu tư
4
Tỷ suất sinh lời đòi hỏi
10%
5
Lãi suất sử dụng vốn bình quân (WACC) %
8,7%
6
Chi phí sử dụng vốn bình quân (6=3x5)
4.695
7
RI (7=1-3x4)
Chúng ta vẫn thực hiện tính EVA như bốn bước trên, tuy nhiên cần thực hiện
điều chỉnh NOPAT và vốn đầu tư
Bảng 1. 9 - Điều chỉnh vốn đầu tư và lợi nhuận thuần
Chỉ tiêu
Vốn đầu tư ( bảng cân đối kế toán)
Vốn đầu tư
(TC)
Lợi nhuận
(NOPAT)
53.902
Lợi nhuận trước lãi vay sau thuế (NOPAT)
Trừ các khoản
3.164
12.475
0
1. Các quỹ
2. Các khoản vay không phát sinh lãi
12.475
Cộng các khoản
12.366
4.452
a) Điều chỉnh NOPAT
Lợi nhuận trước lãi vay và sau thuế
+ Dự phòng những khoản nợ phải thu khó đòi:
300 triệu đồng
+ Chi phí lãi tiền thuê hoạt động sau thuế : 1.188 x ( 1-32%)= 808 triệu đồng.
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phải trả:
180 triệu đồng
Chi phí lãi thuê hoạt động trước thuế = 10% x 11.886 = 1.188 triệu đồng
Trong ví dụ trên chúng ta sử dụng tỷ lệ chiết khấu là 10% để quy nghĩa vụ phải trả
trong tương lai về hiện tại là 11.866 triệu đồng. Như đã giải thích ở trên, giá trị
Footer Page 25 of 166.