TRIỂN VỌNG HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ĐÔNG Á VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM - Pdf 41

Header Page 1 of 166.

Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.01.06/06-10

TRIỂN VỌNG HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ĐÔNG Á VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM
(Báo cáo tổng hợp)

Chủ nhiệm: PGS. TS. Lưu Ngọc Trịnh

Hà Nội, tháng 3 năm 2010

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ABFI
ABMI
ACFTA
ACMECS

: Sáng kiến Quỹ Trái phiếu châu Á
: Sáng kiến Thị trường Trái phiếu châu Á
: Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc
: Chiến lược Hợp tác Kinh tế Ayeyawady - Chao Phraya Mekong
ACU
: Đơn vị Tiền tệ châu Á
ADB

: Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện
CEPEA
: Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Đông Á
CJKFTA
: Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc-Nhật Bản-Hàn
Quốc
CGE
: Mô hình cân bằng tổng thể có thể tính toán được
CLMV
: Campuchia, Lào, Myanma, Việt Nam
CMI
: Sáng kiến Chiang Mai
EAEC
: Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử châu Âu
EAFTA
: Khu vực Thương mại Tự do Đông Á

Footer Page 2 of 166.


Header Page 3 of 166.

EAS
EAVG
EC
ECSC
EEC
EHP
EL
EMEAP

: Cộng đồng châu Âu
: Cộng đồng Than Thép Châu Âu
: Cộng đồng Kinh tế châu Âu
: Chương trình thu hoạch sớm
: Danh mục loại trừ
: Hội nghị các cán bộ điều hành của Ngân hàng trung ương
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
: Liên minh Tiền tệ châu Âu
: Hiệp định đối tác kinh tế
: Nhóm Nhân vật Nổi tiếng
: Liên minh Nghị viện châu Âu
: Viện nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á
: Liên minh châu Âu
: Tự nguyện tự do hóa sớm theo lĩnh vực
: Hành lang Kinh tế Đông-Tây
: Diễn đàn Hợp tác Đông Á - Mỹ Latinh
: Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển
: Nhóm 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới
: Hiệp định Chung về Thuế quan và Mậu dịch
: Tổng sản phẩm nội địa, tổng sản phầm quốc nội
: Tiểu vùng Sông Mê Kông Mở rộng
: Tổng sản phẩm quốc dân
: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
: Hiệp định/khu vực thương mại tự do
: Sáng kiến Hội nhập ASEAN
: Quỹ Tiền tệ Quốc tế
: Tam giác tăng trưởng Indonesia - Malaysia - Thailand
: Nhóm Nghiên cứu Chuyên sâu
: Thị trường Chung Nam Mỹ
: Khu vực/Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ

: Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (của ASEAN)
: Đối tác Xuyên Thái Bình Dương
: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển
: Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc
: Dollar Mỹ
: Xuất khẩu
: Chương trình Hành động Vientiane
: Ngân hàng Thế giới
: Tổ chức Thương mại Thế giới


Header Page 5 of 166.
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

Trang
BẢNG
Bảng 2-1: Tỷ trọng thương mại nội vùng trong tổng giá trị thương

20

mại của khu vực thời kỳ 1986-2006
Bảng 2-2: Quan hệ thương mại của các nước ASEAN và các nước

21

Đông Bắc Á
Bảng 7.1: Các lựa chọn hội nhập khu vực (I)

158


Hình 6.4: So sánh chỉ số hạn chế logistics

148

Hình 6.5: Chênh lệch về GDP vào năm 2025 giữa trường hợp có tác

151

động của phát triển cơ sở hạ tầng và không có

Footer Page 5 of 166.


Header Page 6 of 166.

PHẦN 1
GIỚI THIỆU

I.1. Tính cần thiết của đề tài
Hiện nay, quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa kinh tế đang tiếp tục
diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Điều này không những được thể hiện ở xu
hướng thị trường hóa đang trở thành xu hướng chủ đạo trên thế giới, mà còn
thể hiện ở chỗ các quan hệ giao lưu buôn bán, đầu tư, viện trợ, chuyển giao
công nghệ và sự dịch chuyển đan xen lẫn nhau của các dòng vốn và nhân lực.
Cùng với việc các nền kinh tế quốc gia có quan hệ đan xen và ràng buộc chặt
chẽ lẫn nhau và nền kinh tế thế giới ngày càng trở thành một thực thể thống
nhất, thì các khối kinh tế khu vực cũng hình thành và cạnh tranh lẫn nhau,
khiến cho các nền kinh tế ngoài khối bị tác động không nhỏ và không thể thờ
ơ.
Sau nhiều năm chậm chân so với các khu vực châu Âu và Bắc Mỹ trong

I.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là dự báo về triển vọng hình thành
Cộng đồng Kinh tế Đông Á (East Asia Economic Community - EAEC) và một
số tác động chủ yếu của nó đối với kinh tế thế giới, khu vực và đặc biệt là đối
với sự phát triển của Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề tài sẽ kiến nghị một số điều
chỉnh chính sách và giải pháp thích ứng của Việt Nam.
Để thực hiện được mục đích đó, đề tài sẽ: i) Hệ thống hóa một số vấn đề
lý luận cơ bản liên quan đến hội nhập/liên kết kinh tế, và xu hướng hình thành
các khối kinh tế khu vực và các hiệp định hợp tác kinh tế và mậu dịch song

Footer Page 7 of 166.

2


Header Page 8 of 166.

phương hiện nay trên thế giới; ii) Làm rõ nhu cầu, điều kiện và khả năng, những
thuận lợi và khó khăn của việc hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á; iii) Làm
rõ vai trò và những ý đồ của một số nước lớn và nhóm nước đối với hợp tác
kinh tế Đông Á nói chung và Cộng đồng kinh tế Đông Á nói riêng và các điều
chỉnh chính sách chủ yếu của họ; iv) Trên cơ sở những phân tích trên, phác thảo
một số nét cơ bản về lộ trình hình thành Cộng đồng Kinh tế Đông Á; v) Dự báo
về triển vọng hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á, mô hình và thể chế vận
hành của nó; những cơ hội và thách thức mà nó mang lại đối với nền kinh tế thế
giới và khu vực; và vi) Dự báo một số tác động chủ yếu (cả tiêu cực lẫn tích
cực) của việc hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á đến sự phát triển của Việt
Nam.

I.3. Phạm vi nghiên cứu

những nhận thức, những giá trị quan, những kế hoạch; chịu chung các tác động
tới tính thống nhất của tập thể; có ý thức cộng đồng; cùng ra quyết định chung.
Cộng đồng kinh tế là cộng đồng của hai hay nhiều nền kinh tế. Trong thế
kỷ 20, các khối kinh tế tự nhận là cộng đồng được thành lập đầu tiên có lẽ là
Cộng đồng Than Thép châu Âu (European Coal and Steel Community, thành
lập vào năm 1952), Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (European
Atomic Energy Community, 1957), Cộng đồng Kinh tế châu Âu (European
Economic Community, 1957). Những cộng đồng kinh tế này được thành lập
trên nguyên tắc của chủ nghĩa siêu quốc gia (supranationalism). Chủ nghĩa siêu
quốc gia là phương thức ra quyết định của cộng đồng các quốc gia, trong đó
quyền lực được ủy nhiệm cho một thể chế do các chính phủ các nước thành viên
cùng thành lập. Từ ba cộng đồng trên, các nước châu Âu đã lập ra Cộng đồng
châu Âu vào năm 1992, tiền thân của Liên minh châu Âu.
Ngoài ra, hiện trên thế giới đã có các khối kinh tế tự nhận là cộng đồng sau
được thành lập: Cộng đồng Caribbe, Cộng đồng Kinh tế Trung Phi, Cộng đồng

Footer Page 9 of 166.

4


Header Page 10 of 166.

Kinh tế Tây Phi, Cộng đồng Kinh tế châu Phi, Cộng đồng Đông Phi, Cộng đồng
Kinh tế ASEAN. Tuy nhiên, không cộng đồng kinh tế nào trong số các cộng
đồng mới này đang thực thi nguyên tắc chủ nghĩa siêu quốc gia như các cộng
đồng kinh tế ở châu Âu.
Điểm chung của các cộng đồng kinh tế là đều có liên kết kinh tế, thấp nhất
là ở mức độ thương mại tự do.


nêu ra các quan điểm sơ bộ của mình về hợp tác Đông Á và những cơ hội và
thách thức đối với các nước Đông Á, chứ không riêng gì của Việt Nam, nếu một
Cộng đồng Đông Á được hình thành trong tương lai. Trừ tham luận của
PGS.TS. Nguyễn Xuân Thắng (Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới), còn hầu hết
các tham luận còn lại đều bàn chủ yếu đến những khía cạnh văn hóa, lịch sử và
giá trị Đông Á mà chưa chú ý đến sự hợp tác kinh tế Đông Á hiện tại và các vấn
đề liên quan đến Cộng đồng kinh tế Đông Á trong tương lai.
Hội thảo quốc tế "Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh
hội nhập Đông Á" do Viện nghiên cứu Đông Bắc Á (Viện Khoa học xã hội Việt
Nam) tổ chức tại Bắc Ninh tháng 12 năm 2003 mới đề cập chủ yếu đến quan hệ
hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc hiện nay và triển vọng. Đề tài khoa
học cấp bộ do Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á chủ trì, TS. Trần Quang Minh làm
chủ nhiệm về “Quan điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế” công bố năm 2007 chủ yếu đề cập
đến quan điểm và hoạt động hội nhập Đông Á của Nhật Bản. Còn về hợp tác

Footer Page 11 of 166.

6


Header Page 12 of 166.

kinh tế ở khu vực Đông Bắc Á, thì hội thảo và đề tài trên mới chỉ đề cập đến
như là một môi trường tác động đến mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước
Việt Nam và Hàn Quốc, còn Cộng đồng kinh tế Đông Á hầu như chưa được đề
cập gì.
Tiếp cận chủ đề liên kết Đông Á qua hướng nghiên cứu về hợp tác
ASEAN+3 có đề tài cấp bộ do Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Viện Khoa học
xã hội Việt Nam) chủ trì, do PGS. TS. Nguyễn Thu Mỹ làm chủ nhiệm “Một số

và những vấn đề liên quan đến Cộng đồng kinh tế Đông Á trong tương lai, cũng
như sự tham gia của Việt Nam vào tiến trình hình thành Cộng đồng này chưa
được các tác giả Việt Nam đề cập đến một cách có hệ thống, toàn diện, sâu sắc
và cụ thể, mà mới chỉ được đề cập thoáng qua trong các công trình bàn về các
vấn đề hợp tác khu vực, ở các khía cạnh cụ thể khác như hợp tác văn hoá, an
ninh, hay giá trị Đông Á hoặc quan hệ hợp tác kinh tế song phương giữa hai
nước nào đó trong khu vực, chứ Cộng đồng kinh tế Đông Á như là một thực thể
độc lập (hình thành, tiến triển và tác động như thế nào trong tương lai) chưa
được hầu hết các công trình đề cập. Do đó, có thể nói, trong khoảng 5 năm qua,
Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) không
những là một trong những Viện đi tiên phong mà còn là Viện nghiên cứu một
cách khá tập trung, toàn diện và cụ thể quá trình hợp tác kinh tế Đông Á và việc
hình thành và mô hình Cộng đồng kinh tế Đông Á trong tương lai và sự tác
động của nó. Trên thực tế, Viện đã đạt được những kết quả nghiên cứu bước đầu
khá tích cực và cụ thể.

Footer Page 13 of 166.

8


Header Page 14 of 166.

I.5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cách tiếp cận của đề tài này là đặt sự phát triển của khu vực Đông Á nói
chung, của Cộng đồng Kinh tế Đông Á nói riêng, trong sự phát triển chung của
thế giới, trong dòng xoáy của xu thế toàn cầu hoá, của nền kinh tế tri thức đang
diễn ra một cách mạnh mẽ, từng ngày, từng giờ tác động (cả tích cực lẫn tiêu
cực) đến sự phát triển của các quốc gia, dân tộc. Trước tiên, cần giải quyết được
những cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình hợp tác kinh tế Đông Á để thấy

đồng Kinh tế Đông Á. Các phương pháp lịch sử cụ thể và so sánh sẽ được sử
dụng để có thể hiểu rõ được vấn đề một cách cụ thể, có chiều sâu lịch sử, theo
một quá trình, không những thấy được tính phổ biến mà còn thấy được những
điểm đặc thù của hiện tượng hợp tác kinh tế Đông Á và Cộng đồng kinh tế
Đông Á. Các phương pháp biện chứng và duy vật lịch sử sẽ được vận dụng để
nghiên cứu vấn đề một cách sâu sắc, để hiểu được bản chất của quá trình liên
kết kinh tế Đông Á, ý đồ thực sự của các thực thể tham gia liên kết. Trong khi
đó, các phương pháp thống kê và phân tích hệ thống sẽ được sử dụng để có thể
vạch ra được lộ trình và sự tiến triển của Cộng đồng kinh tế Đông Á, các kịch
bản tương lai của nó và tác động có thể của nó đối với thế giới, khu vực và Việt
Nam. Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã tiến hành khảo sát thực địa và trao
đổi thực tế tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc với một số học giả
tại các trung tâm nghiên cứu lớn ở trong nước và quốc tế, tổ chức các hội thảo
chung lẫn chuyên sâu về từng vấn đề để có thể tập hợp được các ý kiến rộng rãi

Footer Page 15 of 166.

10


Header Page 16 of 166.

của các chuyên gia, hiểu kỹ hơn quan điểm của các nước và làm sâu sắc và hoàn
chỉnh hơn quan điểm của Việt Nam về hợp tác kinh tế Đông Á và Cộng đồng
Kinh tế Đông Á. Đồng thời, đề tài đã tiến hành khảo sát tại một vài địa phương
trong nước (Hải Phòng, Quảng Ninh, Lào Cai, thành phố Hồ Chí Minh) để tìm
hiểu nhu cầu và thực tiễn liên kết khu vực của các địa phương và doanh nghiệp,
trao đổi ý kiến với các nhà khoa học về đề tài.

I.6. Nội dung của báo cáo này

để Việt Nam có thể khai thác được những cơ hội mà việc thành lập Cộng
đồng Kinh tế Đông Á và việc Việt Nam tham gia Cộng đồng này đem tới,
đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực.

Footer Page 17 of 166.

12


Header Page 18 of 166.

PHẦN 2
NHU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP
CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ĐÔNG Á

II.1. Nhu cầu thành lập Cộng đồng kinh tế Đông Á
II.1.1. Nhu cầu phát triển thể chế để phù hợp với liên kết trên thực tế
Trên thực tế, liên kết kinh tế ở khu vực Đông Á đã phát triển mạnh, thể
hiện ở thương mại nội bộ và đầu tư nội bộ khu vực.

II.1.1.1. Thương mại nội bộ khu vực
Thương mại nội bộ khu vực Đông Á đã tăng trưởng mạnh mẽ trong
khoảng ba thập kỷ gần đây. Như Bảng 2-1 cho thấy, thương mại nội bộ khu
vực (gồm ASEAN+3 và Hong Kong, Đài Loan) trong tổng kim ngạch thương
mại toàn Đông Á đã tăng từ 37% năm 1980 lên 55% năm 2006. Tỷ lệ này tuy
còn thấp hơn so với thương mại nội bộ của EU-15 trước đây (đạt mức cao
nhất 66% năm 1990), song nó vượt chỉ số này của khu vực thương mại tự do
Bắc Mỹ (49% năm 2001).
Sự nhộn nhịp của thương mại nội bộ khu vực còn thể hiện khá mạnh ở
con số thương mại giữa các nước ASEAN và Đông Bắc Á, như Bảng 2-2 cho

ASEAN+3+Hong
36,8
39,0
43,1
51,9
52,1
51,9
53,8
55,4
55,9
55,4
54,5
Kong+Đài Loan
ASEAN+6
34,6
34,8
33,7
40,8
40,5
40,6
41,3 423,4
43,0
43,1
42,6
ASEAN+6+Hong
40,5
42,7
46,3
54,5
54,6

15,7
EU cũ
60,7
59,8
66,2
64,2
62,3
62,2
62,5
63,0
62,2
60,4
59,5
EU mới
61,5
60,0
66,8
66,9
66,3
66,7
67,4
68,1
67,6
66,2
65,8
Nguồn: Kawai, Masahiro & Ganeshan Wignarja (2007), “ASEAN+3 or ASEAN+6: Which Way Forward?” ADBI discussion paper 77.
Ghi chú:
- NIE-4 là 4 nước công nghiệp mới châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Singapore);
- ASEAN+3 là toàn bộ khối ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc;
- ASEAN+6 là ASEAN+3 và Austrlia, New Zealand, Ấn Độ.

21,93
32,71
Philippine 14,68 19,02 3,07 7,42 1,74 2,42
19,49
28,86
Việt Nam 19,03 14,12 2,33 12,06 6,71 11,00
27,07
37,18
Nguồn: Theo The International Centre for the Study of East Asian Development, 2002.
Ghi chú: XK là xuất khẩu; NK là nhập khẩu.

Đông Á còn mang sắc thái nội ngành khá rõ rệt. Thương mại nội ngành theo
chiều dọc, đặc biệt trong các sản phẩm chế tạo được mở rộng nhanh chóng.
Hiện nay, phần lớn trao đổi thương mại các sản phẩm chế biến nội vùng ở
Đông Á là theo chiều dọc và theo bản chất nội ngành. Các công ty đa quốc gia
đã tạo ra các loại hình thương mại như vậy thông qua các hoạt động đầu tư
định vị các quy trình sản xuất khác nhau ở các nước khác nhau theo năng lực
công nghệ và lợi thế so sánh về các đầu vào sản xuất. Đó chính là nhân tố
thúc đẩy thương mại nội ngành đối với các phụ tùng, phụ kiện, bán thành
phẩm và thành phẩm trên khắp các nước trong khu vực.

II.1.1.2. Đầu tư nội bộ khu vực
Tỷ trọng FDI nội vùng vào Đông Á so với tổng vốn FDI vào Đông Á
trong những năm 1999-2001 đã tăng từ 37% lên 40%. Bên cạnh Nhật Bản là

Footer Page 20 of 166.

15



(2005),

“On

Economic

Cooperation

in

East

Asia,”

/>
Footer Page 21 of 166.

16


Header Page 22 of 166.

từ Nhật Bản, trong khi 18% đến từ EU và 16% từ Mỹ. Ở Trung Quốc, Mỹ
chiếm 10% dòng chảy FDI vào, trong khi EU và Nhật Bản lần lượt chiếm
8,3% và 6,2%. Các nước công nghiệp mới châu Á, trong đó có Hong Kong,
chiếm khoảng 55% dòng chảy FDI vào Trung Quốc.
Như vậy, bên cạnh các nhà đầu tư từ Mỹ và EU, các nước Đông Á đang
có vai trò lớn hơn với tư cách là nhà đầu tư FDI vào khu vực. Hiện nay, Nhật
Bản là nhà đầu tư lớn nhất ở ASEAN. Đồng thời, các NIE và một số nước
ASEAN có thu nhập trung bình và Trung Quốc đang trở thành các nhà đầu tư

mại quốc tế, khoảng cách địa lý là một nhân tố quy định quan trọng đối với
các dòng FDI song phương ở khu vực. Xuất khẩu và FDI bổ sung cho nhau;
xuất khẩu càng nhiều sẽ thúc đẩy dòng FDI chảy vào. Điều này cho thấy có
một sự phân công theo chiều dọc và chia sẻ sản xuất (fracmentation of
production) giữa các nền kinh tế châu Á. GDP bình quân đầu người giữa nước
đầu tư và nước thu hút đầu tư càng chênh lệch, thì dòng FDI càng nhỏ - chứng
tỏ FDI ở khu vực chịu ảnh hưởng lớn của các xí nghiệp chủ trương liên kết
theo chiều dọc trong khu vực.4
Các mạng sản xuất đã kết nối hệ thống xí nghiệp giữa các quốc gia và trở
thành một nhân tố quan trọng liên kết kinh tế Đông Á. Mạng lưới này được
thực hiện dưới sự đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản và dựa trên cơ sở
của sự phân công lao động nhiều tầng. Theo đó, quá trình sản xuất một sản
phẩm được phân chia thành các quá trình nhỏ và phân bổ chúng ở các nước có
mức độ phát triển và thu nhập khác nhau dựa trên lợi thế so sánh và năng lực
công nghệ. Đây gọi là phân công lao động theo quá trình sản xuất. Các mạng
lưới sản xuất khu vực này đã nối các nền kinh tế khác nhau của châu Á, liên
kết, đan xen chúng với nhau. Điều này dẫn đến sự phát triển của thương mại
ngành dọc quy mô lớn đối với phụ tùng, phụ kiện, bán thành phẩm và sản
4

Rajan, Ramkishen S. (2007), “Chapter 13: Intra-Developing Asia FDI Flows:

Magnitudes, Trends, and Determinants,” in Hadi Soesastro edited (2007), “Deepening
Economic Integration in East Asia,” ERIA Research Project Report 2007, No. 1-2.

Footer Page 23 of 166.

18



Hadi Soesastro edited (2007), “Deepening Economic Integration in East Asia,” ERIA

Research Project Report 2007, No. 1-1.
6

Obashi, Ayako (2009), “Stability of Production Networks in East Asia:Duration and

Survival of Trade,” ERIA Discussion paper No.2009-03.

Footer Page 24 of 166.

19


Header Page 25 of 166.
phối thu nhập bên trong khi mà thuê ngoài toàn cầu có xu thế làm tăng bất
bình đẳng thu nhập trong mỗi nước. Hầu hết Đông Á đã tránh được sự gia
tăng bất bình đẳng tiền lương bằng cách kết nối tăng trưởng nhu cầu lao động
kỹ năng do toàn cầu hóa với tăng trưởng cung ứng lao động có kỹ năng nhờ
đầu tư vào giáo dục bởi cả khu vực hộ gia đình lẫn chính phủ.
Về mặt lý thuyết, thương mại đầu vào cho phép giảm hàng rào thương
mại và giảm chi phí sản xuất và cuối cùng là tăng đáng kể tổng dòng thương
mại.7,

8

Và thực tế ở Đông Á cho thấy, sự gần gũi về mặt địa lý giữa các nước

cũng như sự cải thiện cơ sở hạ tầng đã góp phần đáng kể giảm chi phí vận tải;
trong khi đó, tự do hóa thương mại và các cơ chế hoàn thuế đã giúp giảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status