11
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả
Nguyễn Thu Hương
22
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, em xin cảm ơn cô giáo – PGS.TS.Nguyễn
Thị Mùi đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành khóa luận.
Em xin cảm ơn các thầy cô trong tổ bộ môn tài chính ngân hàng, các thầy cô
giảng dạy tại trường Đại học Thương Mại đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu.
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi luôn nhận được sự động
viên của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
33
MỤC LỤC
44
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
TDĐTPT
NSNN
Tập đoàn Điện lực Việt Nam
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
55
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
66
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sự ra đời và hoạt động của Ngân hàng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử phát
triển và tiến bộ của con người. Lê Nin đã coi sự ra đời của Ngân hàng như “Sự phát
minh ra lửa” hay “Sự phát minh ra bánh xe”. Vai trò to lớn của hoạt động Ngân
hàng đối với sự phát triển của nền kinh tế và xã hội được xuất phát từ đặc trưng của
hoạt động Ngân hàng. Ngân hàng có hoạt động hết sức đặc thù khác rất xa với các
doanh nghiệp kinh tế khác, điều này xuất phát từ chức năng kinh doanh tiền tệ với
tư cách là tổ chức trung gian tài chính. Ngân hàng là tổ chức đi vay để cho vay, các
Ngân hàng nắm giữ phần lớn tài sản Có của mình dưới dạng tài sản tài chính, và để
tài trợ cho các tài sản Có này, các Ngân hàng phải huy động tài sản Nợ từ các thị
trường bán lẻ và thị trường bán buôn, thông qua tiền gửi của khách hàng dưới các
hình thức và đi vay tại các tổ chức tài chính quốc tế khác.
Trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế, việc gia nhập WTO đặt Việt
Nam vào một môi trường cạnh tranh gay gắt mang tính quốc tế. Trong bối cảnh đó,
các ngân hàng thương mại Việt Nam đã từng bước nâng cao chất lượng hoạt động
Bộ Tài chính công bố theo nguyên tắc phù hợp với lãi suất thị trường. Như vậy, lãi
suất cho vay của NHPT tuy vẫn mang tính ưu đãi nhưng đã được điều chỉnh theo sự
biến động của thị trường. Như vậy, hoạt động của NHPT hiện nay có tính cạnh
tranh cao hơn và điều kiện cho vay chặt chẽ hơn. Chính sách tín dụng thắt chặt hơn
so với trước đây của NHPT cũng là một bất lợi đối với khách hàng đang và sẽ có ý
định vay vốn tại đây cũng như bất lợi của chính Ngân hàng trong việc tìm kiếm
khách hàng để đẩy mạnh hoạt động cho vay.
Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng đầu
tư phát triển của NHPT mà vẫn đảm bảo mục tiêu chính sách của Nhà nước. Do đó tôi
đã chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đầu tư phát triển
tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Ngân hàng Phát triển Việt Nam là một loại hình ngân hàng đặc thù, hoạt động
không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự trữ bắt buộc 0%, được Chính phủ đảm bảo
khả năng thanh toán, mới được thành lập hơn hai mươi năm (trên cơ sở tổ chức lại
88
hệ thống Quỹ HTPT), do đó chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về tín
dụng của loại hình ngân hàng này. Liên quan tới hiệu quả nâng cao chất lượng tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã thu hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu. Tuy
nhiên, cho đến nay cách tiếp cận mức độ và phạm vi nghiên cứu về tín dụng đầu tư
phát triển dưới nhiều góc độ khác nhau. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu
có liên quan đến đề tài luận văn:
- Luận án tiến sĩ “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước”
của tác giả Trần Công Hoà, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2007, luận án
đã phân tích và đánh giá một cách hệ thống hiệu quả sử dụng của đầu tư phát triển ở
Việt Nam, đi sâu vào đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển tại Ngân hàng Phát triển
Việt Nam, từ đó có những biện pháp như xây dựng chiến lược phát triển dài hạn
cấu Ngân hàng.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng đầu tư phát triển của
nhà nước.
Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng đầu tư phát triển tại Ngân
hàng Phát triển Việt Nam giai đoạn 2013-2016; đề xuất các giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng đầu tư phát triển tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến năm 2020.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng tín dụng đầu tư phát triển.
Thứ hai, phân tích và đánh giá chất lượng tín dụng đầu tư phát triển tại Ngân
hàng Phát triển Việt Nam trong thời gian qua.
Thứ ba, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng tín dụng đầu
tư phát triển tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:Chất lượng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển tại
Ngân hàng Phát triển Việt Nam; Các vấn đề liên quan và các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: chất lượng tín dụng đầu tư phát triển tại NHPT Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2015, đề ra giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đầu tư phát
10
10
triển tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến năm 2020.
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp... kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn trong những điều kiện lịch sử nhất định.
cá nhân, tổ chức và đất nước.
Trong thực tế, có rất nhiều hình thái biểu hiện cụ thể của đầu tư. Tùy từng góc
độ tiếp cận với những tiêu thức khác nhau người ta cũng có thể có các cách phân
chia hoạt động đầu tư khác nhau. Một trong những tiêu thức thường được sử dụng
đó là tiêu thức quan hệ quản lý của chủ đầu tư. Theo tiêu thức này, đầu tư được chia
thành đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.
- Đầu tư gián tiếp: Là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp
tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Chẳng
hạn như nhà đầu tư thực hiện hành vi mua các cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị
trường chứng khoán thứ cấp. Trong trường hợp này nhà đâu tư có thể được hưởng
các lợi ích vật chất (như cổ tức, tiền lãi trái phiếu), lợi ích phi vật chất (quyền biểu
quyết, quyền tiên mãi) nhưng không được tham gia trực tiếp quản lý trực tiếp tài sản
mà mình bỏ vốn đầu tư.
- Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham
gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Đầu tư trực
tiếp lại bao gồm đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển.Trong đó, đầu tư dịch
chuyển là một hình thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyển
quyền sở hữu giá trị của tài sản. Thực chất trong đầu tư dịch chuyển không có sự
12
12
gia tăng với mức khống chế để có thể tham gia hội đồng quản trị một công ty, các
trường hợp thôn tính, sáp nhập doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.Phân theo lĩnh
vực hoạt động, có các khái niệm về đầu tư trong từng lĩnh vực cụ thể, baọ gồm đầu
tư phát triển, đầu tư tài chính và đầu tư kinh doanh thương mại.
- Đầu tư phát triển: Là một phương thức của đầu tư trực tiếp.Hoạt động đầu tư
này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh
hoạt đời sống của xã hội.Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền
này là để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, phát triển
kinh tế xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo, phát triển các vùng khó khăn, giải
quyết việc làm cho người lao động. Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu của chính
sách TDĐT đang được Chính phủ hướng tới là thực hiện các mục tiêu phát triển bền
vững, đó là phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát
triển bền vững về môi trường. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, TDĐTPT của Nhà nước thực hiện các dự án có tính lợi ích xã hội
lâu dài.TDĐTPT của Nhà nước chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực then chốt hoặc
một số ngành, một số vùng, hay một số khu vực có vai trò quan trọng đối với nền
kinh tế quốc dân.
TDĐTPT của Nhà nước được coi là đồng vốn mới để xây dựng cơ sở hạ tầng,
tạo nền tảng thúc đẩy sự phát triển ở một số ngành nghề trọng điểm, thực hiện các
công trình xây dựng có tính chiến lược. Bên cạnh đó TDĐTPT của Nhà nước sẽ tập
trung vào các lĩnh vực để giải quyết các vấn đề xã hội của đất nước như việc làm
cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các
vùng, bảo đảm an ninh, trật tự xã hội, chính trị.
Thứ hai, TDĐTPT của Nhà nước nhằm bảo đảm lợi ích cho các nhà đầu tư
vào các lĩnh vực, ngành nghề khu vực có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc
dân vì một số lĩnh vực có tính hiệu quả kinh tế thấp nên để khuyến khích các thành
phần kinh tế tham gia đầu tư, Nhà nước cần phải có chế độ ưu đãi nhất định mà
không ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của nền kinhtế.
Với các mục đích hoạt động nêu trên, Chính phủ ban hành các cơ chế chính
sách, danh mục đối tượng được hỗ trợ đầu tư là các chương trình đầu tư, các dự án
cần được ưu tiên đầu tư của Nhà nước trong các thời kỳ. Việc tổ chức triển khai đầu
tư có hiệu quả đối với cácchương trình này là nhiệm vụ của nguồn vốn tín dụng của
Nhà nước, qua đó để thực hiện các mục đích đã được Chính phủ định hướng.
14
14
15
15
thị trường thế giới và như vậy là máy móc thiết bị, trình độ công nghệ của chúng ta
tương đương với thế giới; vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu lựa chọn đầu tư những
máy móc như thế nào để có hiệu quả cao nhất, tránh tình trạng đầu tư những loại
máy móc lạc hậu, không đồng bộ gây ra những lãng phí không cần thiết.
Thứ ba, tăng nguồn thu cho ngân sách.
TDĐTPT của Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất
do đó khi sản xuất phát triển tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá để tiêu thụ trong nước
cũng như để xuất khẩu. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước do đó
trong trường hợp sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ với khối lượng lớn, ổn định sẽ
tạo ra nguồn thu cho ngân sách từ thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế sử dụng
tài nguyên.
Ngoài ra, khi các doanh nghiệp làm ăn có lãi thì Nhà nước còn có khoản thu từ
thuế thu nhập, trong trường hợp sản phẩm sản xuất ra được xuất khẩu sang các nước
thì chúng ta sẽ có điều kiện thu được ngoại tệ đảm bảo chi trả cho nhu cầu nhập
khẩu, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Thứ tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá
hiện,đại hoá.
Thông qua công tác TDĐTPT của Nhà nước có thể tập trung cho vay phát
triển đối với ngành này cũng có thể hạn chế đối với một số ngành nghề kinh tế
khác. Như vậy, chính sách tín dụng đối với các ngành kinh tế có thể thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hoá. Công nghiệp
hoá không chỉ đơn giản là tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế mà
là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về công nghệ tạo nền tảng
cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc
dân.
của Nhà nước bao gồm:
Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội:
(1) Cấp nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt;
(2) Công trình xử lý nước thải, rác thải tại các khu đô thị, khu công nghiệp,
khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, bệnh viện và các cụm công nghiệp,
làng nghề;
(3) Xây dựng quỹ nhà ở tập trung cho người thu nhập thấp;
(4) Mở rộng, nâng cấp, đầu tư thiết bị, xây dựng mới đối với các dự án xã hội
17
17
hóa giáo dục, y tế, thể thao, môi trường;
(5) Đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu công nghiệp hỗ trợ, khu chế xuất,
khu công nghệ cao.
Các dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn:
(1) Dự án nuôi, trồng thủy, hải sản gắn với chế biến công nghiệp;
(2) Dự án phát triển giống cây trồng, giống vật nuôi, giống cây lâm nghiệp;
(3) Dự án chăn nuôi gia súc, gia cầm gắn với chế biến công nghiệp.
Các dự án công nghiệp:
(1) Dự án đầu tư chế biến sâu từ quặng khoáng sản:
- Sản xuất fero hợp kim sắt có công suất tối thiểu 1 nghìn tấn/năm;
- Sản xuất kim loại màu có công suất tối thiểu 5 nghìn tấn/năm;
- Sản xuất bột màu đioxit titan có công suất tối thiểu 20 nghìn tấn/năm;
(2) Dự án đầu tư sản xuất thuốc kháng sinh, thuốc cai nghiện, vắc xin thương
phẩm và thuốc chữa bệnh HIV/AIDS; sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP;
(3) Dự án đầu tư xây dựng nhà máy phát điện sử dụng các nguồn năng lượng:
gió, mặt trời, địa nhiệt, sinh học và các tài nguyên năng lượng khác có khả năng tái tạo;
(4) Dự án đầu tư xây dựng thủy điện nhỏ, với công suất nhỏ hơn hoặc bằng
Đặc điểm, tính chất của nguồn vốn TDĐTPT của Nhà nước phụ thuộc vào đối
tượng sử dụng vốn tín dụng đầu tư là các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
thuộc danh mục các dự án chương trình do Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ,
các dự án đầu tư vào các vùng sâu, vùng xa vùng khó khăn theo quy định của Chính
phủ. Đây là các dự án đầu tư dài hạn, nhiều rủi ro, thời gian hoàn vốn dài (thường
trên 5 năm, trong đó một số dự án có thời gian thu hồi vốn đến 15 năm) bao gồm
các dự án, chương trình giúp cho việc thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện dại
hóa đất nước, các dự án tạo việc làm cho người lao động, góp phần cải tạo môi
trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại các vùng khó khăn đề góp phần xóa đói giảm
nghèo. Các dự án này đều là những lĩnh vực không hấp dẫn đối với các nhà đầu tư,
thời hạn thu hồi vốn kéo dài, lãi suất thấp và chịu nhiều rủi ro, nếu không có sự hỗ
trợ đầu tư của Nhà nước thì không khuyến khích được các nhà đầu tư, dẫn đến sự
phát triển của nền kinh tế không bền vững, là mất cân đối về kinh tế giữa các vùng
miền, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, môi trường không được cải thiện, việc nâng
cao chất lượng, cuộc sống không đảm bảo.
19
19
Xuất phát từ yêu cầu sử dụng vốn của các đối tượng vay vốn TDĐTPT của
Nhà nước; nguồn vốn để cho vay đầu tư có hai đặc điểm như sau:
- Là nguồn vốn có tính chất dài hạn, đảm bảo cân đối giữa bình qúân thời
hạn sử dụng vốn với bình quân thời hạn huy động vốn, đảm bảo khe hở huy động
vốn ở mức thấp nhất. Điều này có thể chưa phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội
của Việt Nam hiện nay nhưng qua đó cho thấy để đảm bảo an toàn đối với tổ
chức cho vay đầu tư của Nhà nước thì cần có cơ chế hỗ trợ của Nhà nước đế phát
huy tối đa khả năng huy động các nguồn vốn có thời hạn sử dụng phù hợp với
thời hạn cho vay dự án.
- Chi phísử dụng vốn thấp so với các tổ chức tíndụng khác.Đây là điều kiện
chia làm hai phần: nguồn vốn tích lũy trong nước và nguồn vốn viện trợ, vay nước
ngoài. Nguồn vốn viện trợ, vay nợ của nước ngoài ở đây là nguồn Chính phủ tiếp
nhận viện trợ và vay ưu đãi từ các Chính phủ và các tổ chức quốc tế.
Thứ hai,nguồn vốn vay nợ, viện trợ của nước ngoài.
Là một định chế tài chính của Chính phủ, ngoài phần vốn vay nợ, viện trợ
được chuyển từ NSNN sang, nguồn vốn cho ĐTPT của Nhà nước dưới hình thức
tín dụng có thể được tạo dựng bằng cách trực tiếp thực hiện việc vay nợ và nhận
viện trợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Đặc điểm của nguồn vốn này là
không thường xuyên nhưng có lãi suất thấp và ưu đãi về thời hạn thanh toán,....
Đây là khoản vay rất quan trọng đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng và thực hiện
các chính sách TDĐT,TDXK của Nhà nước đặc biệt đối với các dự án có nguồn thu
trực tiếp bằng ngoại tệ. Tuy nhiên, đối với việc vay nợ nước ngoài, chi phí thực
(chi phí vốn) còn bao gồm cả sự biến động về tỉ giá, về tính rủi ro trong quá trình
tiếp nhận các thiết bị, công nghệ... Chính vì vậy, bên cạnh vấn đề lãi suất, cần
quan tâm tới xu hướng biến động của tỉ giá để thực hiện các nghiệp vụ phòng
chống rủi ro tỷ giá, hoặc có các biện pháp sử dụng vốn đạt hiệu quả hơn.
Thứ ba,nguồn vốn thu hồi nợ hàng năm.
Hoạt động cấp tín dụng với nguồn vốn của Nhà nước là hoạt động vay trả và
được thực hiện thường xuyên, nên hàng năm luôn có một lượng vốn nhất định
được thu hồi từ các dự án cho vay trước đó. Vốn thu hồi nợ được sử dụng để trả
nợ, bù đắp chi phí hoạt động và phần còn lại được bổ sung vào nguồn vốn tín
dụng của Nhà nước.
21
21
1.2. Chất lượng tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước:
Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ trọng tâm của tất cả các ngân hàng nên chất
lượng tín dụng cũng là mối quan tâm hàng đầu. Chất lượng tín dụng đi cùng với chất
- Hoạt động TDĐTPT của Nhà nước thực hiện đúng đối tượng, đảm bảo
nguyên tắc bảo toàn vốn, tăng trưởng tín dụng tốt, giảm cấp bù ngân sách đến mức
thấp nhất.
- Chất lượng TDĐTPT của Nhà nước được thể hiện thông qua thành công của
các dự án mà nó tài trợ, từ đó góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp thể
hiện ở sự tăng doanh thu, giảm chi phí, tặng lợi nhuận, tạo sự phát triển bền vững
cho doanh nghiệp.
Tổng hợp lại các phân tích ở trên có thể khái quát “Chất lượng TDĐTPT của
Nhà nước là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế
xã hội, đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng”. Chất lượng tín
dụng được hình thành và bảo đảm từ hai phía là bên cung ứng vốn và bên sử dụng
vốn, được thể hiện thông qua hiệu quả kinh tế xã hội của các dự án mà nó tài trợ.
Do vậy, nếu dự án có hiệu quả kinh tế xã hội thì hoạt động tín dụng có chất lượng,
nếu dự án có hiệu quả kinh, tế xã hội thấp hoặc không hiệu quả thì hoạt động tín
dụng có chất lượng thấp.
1.2.2. Một số tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước:
1.2.2.1. Các chỉ tiêu định lượng.
Quy mô cho vay:
Quy mô cho vay (doanh số cho vay) là chỉ tiêu phản ánh chính xác và trung
thực nhất về tình hình tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế.Chỉ tiêu này
có thể đánh giá ở mọi thời điểm và nó thể hiện quy mô hoạt động của ngân hàng
qua các năm.
Tuy nhiên để đánh giá được chất lượng tín dụng còn cần sử dụng chỉ tiêu tổng
dư nợ. Nếu doanh số cho vay và tổng dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng có quy mô
nhỏ, điều này có thể đánh giá được một phần khả năng hoạt động yếu kém của ngân
hàng, cán bộ tín dụng làm việc chưa hiệu quả. Mặt khác, kết cấu dư nợ phản ánh tỷ
trọng các loại dư nợ trong tổng dư nợ, giúp ngân hàng biết được cần đẩy mạnh cho
vay theo loại hình nào để cân đối.
24
24
Tổng nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu( % )
=
x
100
Tổng dư nợ
Bên cạnh chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn, người ta còn dùng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu để
phân tích thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân hàng, tổng nợ xấu của
ngân hàng bao gồm nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chuyển về nợ trong hạn,
chính vì vậy chỉ tiêu này cho thấy thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân
hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho
vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay.
Tỷ lệ nợ xấu càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém
và ngược lại.
Lãi đến hạn trả chưa trả:
Lãi đến hạn trả chưa trả (lãi treo) là lãi tính trên dư nợ gốc chưa thu hồi được.
Tổng các khoản lãi treo trên các món nợ càng thấp càng tốt bởi tất cả các ngân hàng
đều yêu cầu khách hàng trả lãi trước, trả gốc sau, nếu lãi treo quá cao, ngân hàng có
nguy cơ mất cả vốn lẫn lãi.Điều này ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng và kết quả
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Vòng quay vốn tín dụng càng cao, số vòng chu chuyển của vốn tín dụng càng
lớn thì tình hình vốn của ngân hàng luân chuyển càng nhanh, tổ chức quản lý vốn
tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng được đảm bảo. Vòng quay vốn tín dụng
thường được tính cho từng loại vay cụ thể: vay ngắn hạn, vay trung và dài hạn,…
nhằm có được các kết luận chính xác về tình hình tín dụng của ngân hàng.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu định tính.
Có thể nói thước đo chất lượng tín dụng của một ngân hàng chính là sự hài
lòng của khách hàng, đồng thời ngân hàng cũng phải đảm bảo tính hài hoà với an