1
1
NG
UY
ỄN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
CHÍ
TH
ỨC
-
TRƯƠNG NGỌC CHI
LUẬ
N
VĂ
N
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG
TH
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
ẠC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
CHÍ
TH
TRƯƠNG NGỌC CHI
ỨC
LUẬ
N
VĂ
N
TH
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH TÂY HỒ HÀ NỘI
ẠC
SĨ
KIN
Chuyên Ngành
: Tài Chính - Ngân Hàng
Mã số
: 60 34 02 01
giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của PGS. TS. Lê Thị Kim Nhung. Tác giả rất mong nhận
được những góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu
được hoàn thiện, góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động cho vay tại Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam- chi nhánh Tây Hà Nội
6
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là
: Trương Ngọc Chi
Lớp
: Cao học 21A-TCNH
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Khoa
: Sau đại học
Trường
: Đại học Thương Mại
Tôi xin cam đoan với Nhà trường và Khoa sau Đại học là: Luận văn tốt nghiệp
này là do tôi tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Lê Thị Kim Nhung.
Bài viết không có sự sao chép từ bất kỳ luận án tiến sĩ hoặc luận văn tốt
nghiệp nào, các tài liệu đó chỉ mang tính chất tham khảo. Nếu lời cam đoan trên đây
QTRR
: Quản trị rủi ro
CIC
: Trung tâm thông tin tín dụng
DNVVN
: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
NHNNVN
: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
NHTM
: Ngân hàng thương mại
NHCT
: Ngân hàng công thương
NHTMCP
: Ngân hàng thương mại cổ phần
RRTD
CVQLTD
: Chuyên viên quản lý tín dụng
KSTD
: Kiểm soát tín dụng
HĐTD
: Hợp đồng tín dụng
10
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang chuyển mình với những bước đi đúng hướng, những thành
tựu mới trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội. Xu hướng toàn
cầu hóa trên thế giới cùng với việc Việt Nam kí kết hiệp định TPP đã mở ra nhiều
cơ hội cho mọi thành phần, mọi lĩnh vực trong đó không thể không nói tới ngân
hàng – một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở Việt Nam. Đất nước ta đang thực hiện
những cam kết mở cửa, khiến cho các doanh nghiệp đứng trước sự cạnh tranh ngày
càng khốc liệt, cơ hội nhiều nhưng thách thức cũng không ít. Điều này tạo ra những
ảnh hưởng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì thế ảnh
hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại nói chung và hoạt động cho
vay của ngân hàng nói riêng.
Trong các hoạt động của các NTHM Việt Nam hiện nay, hoạt động cho vay
là một trong nghiệp vụ truyền thống, nền tảng, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu tài
sản và cấu thu nhập. Nhưng cũng là hoạt động phức tạp, tiềm ẩn những rủi ro lớn
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam - chi nhánh Hà Nội”
(2015) của Lê Thị Phương Thảo, Đại học Thương Mại. Luận văn đã nghiên cứu làm
sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của
NHTM , cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân. Qua đó, tác giả đã
phân tích hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của NHTM CP Công Thương Việt
Nam – chi nhánh Hà Nội.
Thứ hai, Luận văn thạc sĩ :” Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh” (2015) Vũ Thị Lan,
Đại học Thương Mại. Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận
trong hoạt động cho vay tiêu dùng của hệ thống ngân hàng thương mại. Phân tích
tình hình cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi
nhánh Tây Nam Quảng Ninh. Từ đó đưa ra những hiệu quả đạt được và hạn chế của
công tác này đối với ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Tây
Nam Quảng Ninh trong bối cảnh hiện nay. Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của công tác hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Tây Nam Quảng Ninh.
12
Thứ ba, Luận văn Thạc sĩ :” Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng công thương Hoàn Kiếm” (2012)
của Mai Tuấn Anh, Học Viện Tài chính. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về
hiệu quả cho vay đối với DNNVV của ngân hàng thương mại, phân tich các nhân tố
ảnh hưởng tời hiệu quả cho vay DNNVV. Đánh giá thực trạng hiệu quả cho vay
DNNVV tại NHCT Hoàn Kiếm, phân tích các nguyên nhân dẫn đến các hạn chế
hiệu quả cho vay. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay DNNVV
tai chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm.
Thứ tư, Luận văn thạc sĩ :” Chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Đại Dương - chi nhánh Thái Bình” (2015) của Vũ Thu Hoài Linh, trường
Đại học Thương Mại. Luận văn đã tập trung làm rõ các vấn đề cơ bản về tín dụng,
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động cho vay của NHTM và
hoạt động cho vay tại NHTMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tây Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu:
Đề tài dựa vào các số liệu thu thập được trên các Báo cáo tài chính để tiến
hành phân tích hoạt động cho vay, từ đó đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tại
NHTMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tây Hà Nội
- Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu tại NHTMCP Công Thương Việt
Nam – chi nhánh Tây Hà Nội.
- Về mặt thời gian: Đề tài sử dụng số liệu các năm tài chính 2013, 2014 và
2015 của NHTMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tây Hà Nội.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu,
chủ yếu là các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Chú trọng phương
pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê để phân tích, đánh giá điểm
mạnh, điểm yếu và triển vọng phát triển dịch vụ huy động vốn tại Ngân hàng thương
mại Cổ phần Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tây Hà Nội. Luận văn kế thừa
những nhân tố hợp lý của các công trình khoa học đã được nghiên cứu, tiến hành
phân tích, lựa chọn tri thức để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận
văn.
- Phương pháp cụ thể:
14
+ Thu thập thông tin: Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo thường
niên, các báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh Ngân hàng thương mại Cổ phần
Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tây Hà Nội giai đoạn 2013-2015 .
chất mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn kết hợp tính
chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Với mỗi quốc gia khác nhau, hình thành
một khái niệm khác nhau về NHTM.
Theo các nhà Kinh tế học thế giới thì “Ngân hàng Thương mại là một loại
hình doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng”. Theo
cách tiếp cận trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì
“Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tổ chức tài chính, cung cấp một
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tiết kiệm, dịch vụ thanh
toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức nào
trong nền kinh tế.
Theo Luật tổ chức tín dụng năm 2010 của Việt Nam: “NHTM là loại hình
ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về NHTM giữa các nước trên thế giới
nhưng có thể hiểu một cách chung nhất: “NHTM là một tổ chức tài chính, hoạt
động kinh doanh chủ yếu trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng, cung cấp một danh mục
sản phẩm, dịch vụ vô cùng đa dạng với tính chất chung là nhận tiền gửi để sử dụng
vào mục đích cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác”.
1.1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
a. Huy động vốn
Các NHTM thực hiện một dịch vụ rất quan trọng đối với tất cả các khu vực
của nền kinh tế bằng cách cung ứng những điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền tiết
kiệm của dân chúng và bằng cách đưa những phương thức dễ dàng để thực hiện các
16
mục đích có tính xã hội. Người gửi tiền tiết kiệm được nhận một khoản tiền thưởng
dưới danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửi tiết kiệm ở các ngân hàng, với mức độ
an toàn và hình thức thanh khoản cao. Số tiền huy động được thông qua hình thức
công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn
thanh toán.
- Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho
thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở
hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy
móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên
thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản
thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận.
Công ty cho thuê tài chính là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
- Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua
hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các
khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp
đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
- Các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
c. Các hoạt động dịch vụ và ngân quỹ
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi khách hàng
gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh
chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không
dùng tiền mặt. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh
chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và
nâng cao thu nhập cho khách hàng. Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền
vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Cùng với sự phát triển của công
nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu,
L/C đã phát triển các hình thức thanh toán mới bằng thẻ, qua điện thoại…
- Tài trợ thương mại: Là hình thức ngân hàng hỗ trợ cho đơn vị, tổ chức hoặc
doanh nghiệp thông qua các dịch vụ như: dịch vụ nhờ thu, tín dụng chứng từ, bảo
lãnh nước ngoài…mà ở đó khách hàng tham gia giao dịch tài trợ thương mại phải
trả một khoản phí nhất định để được hưởng những quyền lợi và tiềm năng thương
mại có thể được mang lại từ việc tài trợ chương trình.
cho vay.
19
Nhà kinh tế pháp Louis Baundin, đã định nghĩa tín dụng như là “Một sự trao
đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”. Ở đây, chúng ta thấy yếu tố thời gian
đã xen lẫn vào cũng vì có sữ xen lẫn đó, cho nên có sự bất trắc, rủi do xảy ra và cần
có sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng.
Tại Việt Nam các quyết định 1627/2001_QĐ_NHNN ngày 31/12/2001 của
thống đốc ngân hàng về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng và hướng dẫn thực hiện số 49/QĐ_HĐQT ngày 31/05/2002 của NHCT
Việt Nam , quyết định số 106/QĐ_HĐQT_NHCT ngày 20/08/2002 về việc cho vay
đối với khách hàng trong hệ thống ngân hàng công thương Việt Nam, phân tích
đánh giá doanh nghiệp dưới giác độ tài chính _ ngân hàng.
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho
khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo
thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả ngốc và lãi.
* Đặc điểm của hoạt động cho vay
- Tài sản trong quan hệ cho vay của ngân hàng là tiền.
- Ngân hàng chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin
rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín
dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi quyết định
cho vay.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói các
khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết
hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín
dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay
cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
1.1.2.2. Phân loại hoạt động cho vay của NHTM
- Tín dụng đối với cá nhân: là loại hình cho vay để bù đắp nhu cầu tiêu dùng
cá nhân. Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy theo mục
đích sử dụng vốn vay và nguồn trả nợ của cá nhân.
- Cho vay đối với tổ chức/doanh nghiệp: là loại hình cho vay để phục nhu cho
21
nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thời hạn cho vay có thể là ngắn
hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy vào nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
Ngoài ra còn có thể phân chia loại hình cho vay theo phương pháp hoàn trả,
xuất xứ tín dụng, mức độ tín nhiệm với khách hàng,…
1.1.2.3. Quy trình cho vay
Bước 1: Hướng dẫn khách hàng và tiếp nhận hồ sơ
Lập hồ sơ tín dụng là khâu căn bản đầu tiên của quy trình tín dụng, nó được
thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn.
Lập hồ sơ là khâu quan trọng vì nó là khâu thu thập thông tin làm cơ sở để
thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra quyết định vay.
Tùy theo quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, loại tín dụng yêu cầu và quy
mô tín dụng, cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với những thông tin,
yêu cầu khác nhau. Nhìn chung một bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thu thập từ
khách hàng những thông tin sau:
-
Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng
-
Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng
-
Thẩm định khách hàng
Kiểm tra tư cách pháp lý
Đánh giá khả năng tài chính
Thẩm định phương án vay vốn
Đánh giá tính khả thi
Phân tích hiệu quả kinh tế
Đánh giá khả năng tài trợ
Thẩm định tài sản đảm bảo nợ vay
Kiểm tra tính hợp lệ của tài sản đảm bảo
Xác định giá trị còn lại của tài sản đảm bảo
Lập tờ trình
Tờ trình thẩm định là báo cáo kết quả công tác thẩm định và ý kiến đề xuất
của nhân viên thẩm định
Bước 3. Quyết định
Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với một hồ sơ vay
của khách hàng. Đây là khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình tín dụng vì nó ảnh
hưởng rất lớn đến các khâu sau và ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả hoạt động tín
dụng của ngân hàng.
Đây là khâu quan trọng và cũng là khâu dễ phạm phải sai lầm nhất. Có hai loại
sai lầm cơ bản thường xảy ra trong khâu này:
vay, tùy vào kết quả phân tích và thẩm định ở khâu trước. Nếu chấp thuận cho vay,
cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn khách hàng ký kết hợp đồng tín dụng và làm tiếp các
bước tiếp theo. Nếu từ chối vay, ngân hàng sẽ có văn bản trả lời và giải thích lý do
cho khách hàng được rõ.
Hợp đồng tín dụng
Hợp đồng thế chấp, cầm cố và các hợp đồng khác
Thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo và quản lý tài sảm đảm bảo nợ vay
Bước 5. Giải ngân
Giải ngân là khâu tiếp tiếp theo sau khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết.
Giải ngân là phát tiền vay cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã cam kết trong
hợp đồng. Tuy là khâu tiếp theo sau của quyết định tín dụng, nhưng giải ngân cũng
là khâu quan trọng vì nó có thể góp phần phát hiện và chấn chỉnh kịp thời nếu có sai
sót ở các khâu trước. Ngoài ra, cách thức giải ngân còn góp phần kiểm tra và kiểm
soát xem vốn tín dụng có được sử dụng đúng mục đích cam kết hay không. Nguyên
24
tắc giải ngân là luôn luôn gắn liền vận động tiền tệ với vận động hàng hóa hoặc dịch
vụ đối ứng nhằm đảm bảo khả năng thu hồi nợ sau này. Tuy vậy, giải ngân cũng
phải tuân thủ nguyên tắc đảm bảo thuận lợi, tránh gây khó khăn và phiền hà cho
khách hàng.
Căn cứ giải ngân cho khách hàng
- Hồ sơ do khách hàng cung cấp
- Báo cáo thẩm định
- Hợp đồng tín dụng
- Hợp đồng đảm bảo nợ vay
- Chứng từ pháp lý của tài sản đảm bảo
- Chứng từ chứng minh nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng
25
- Hoàn trả tài sản đảm bảo nợ vay cho khách hàng
- Lưu trữ hồ sơ vay
Xử lý nợ vay
Nếu đến hạn trả nợ, bên đi vay không trả được nợ cho ngân hàng và không
được đồng ý gia hạn/ điều chỉnh kỳ hạn nợ thì ngân hàng tiến hành xem xét chuyển
nợ quá hạn, tiếp tục theo dõi để thu hồi nợ.
1.2 Những vấn đề cơ bản của hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM
1.2.1. Khái niệm hiệu quả cho vay của NHTM
Hiệu quả của một khoản vay có thể được hiểu là hiệu quả kinh tế mà khoản
vốn vay đó mang lại cho cả người đi vay và người cho vay. Một khoản vay được
coi là có chất lượng tốt nếu nó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cả ngân hàng
và khách hàng, tức là vốn vay được người vay đưa vào quá trình đầu tư tạo ra
một số tiền lớn hơn vừa để hoàn trả nợ gốc và lãi vay, vừa trang trải các chi phí
khác mà vẫn bảo đảm có lợi nhuận qua đó đóng góp vào sự tăng trưởng chung
của nền kinh tế. Xét một cách tổng thể khoản vay đó vừa tạo ra hiệu quả kinh tế
vừa tạo ra hiệu quả xã hội.
Theo lý thuyết chung, hiệu quả hoạt động cho vay trong NHTM là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực sử dụng vốn cho vay của NHTM vào
hoạt động kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận và tối thiểu hoá chi phí.
Như vậy, Hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM chính là mối tương quan
giữa kết quả thu được của hoạt động cho vay với chi phí cho vay của ngân hàng.
Vốn cho vay phù hợp và đảm bảo được mục tiêu chi phí hợp lý, đồng thời nguồn
vốn đó phải đảm bảm được vấn đề an toàn trong kinh doanh mà vẫn đem lại khả