1
NG
UY
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ỄN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
CHÍ
----------------------------
TH
ỨC
LUẬ
VŨ THỊ HẢI HÀ
N
VĂ
N
TH
HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TIẾT
ẠC
KIỆM TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
----------------------------
VŨ THỊ HẢI HÀ
HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TIẾT
KIỆM TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
Chuyên Ngành
: Tài Chính - Ngân Hàng
Mã số
: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THANH HUYỀN
2
3
HÀ NỘI, NĂM 2017
3
6
MỤC LỤC
Agribank
EUR
GĐ
NH
NHNN
NHTM
NHN0&PTNT
NHTW
PGD
PGĐ
TCTD
TG
TGTK
VB
VNĐ
USD
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Đồng tiền chung Châu Âu Euro
Giám đốc
Ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Ngân hàng Trung ương
Phòng giao dịch
nước, với chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm đưa nước ta trở
thành một nước công nghiệp phát triển vào năm 2020. Tuy nhiên, đi liền với cơ hội
là những thách thức không hề nhỏ, để thực hiện được mục tiêu đó chúng ta cần
lượng vốn rất lớn, đặc biệt là khi Việt Nam đã gia nhập sân chơi quốc tế. Do đó,
hoạt động huy động vốn đang từng ngày, từng giờ diễn ra và được coi là vấn đề đặc
biệt quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.
Có thể nói vốn là điều kiện tiên quyết cho mọi hình thức sản xuất kinh doanh
khác. Trong các kênh huy động vốn, huy động vốn qua ngân hàng có ý nghĩa rất
quan trọng (ở Việt Nam 50% nguồn vốn chủ yếu được huy động từ hệ thống các
ngân hàng thương mại). Công tác huy động vốn đặc biệt là huy động vốn TGTK
không chỉ mang ý nghĩa quyết định thắng lợi trong kinh doanh của bản thân ngân
hàng mà còn tác động và chi phối sự phát triển về mặt kinh tế xã hội của đất nước
nói chung.
Trong tiến trình phát triển nền kinh tế ở Việt Nam đến nay, việc huy động
lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư là biện pháp hữu hiệu để đáp ứng kịp thời nhu cầu
vốn cho nền kinh tế. Trước áp lực gia tăng của nhiều kênh đầu tư, tiền gửi tiết kiệm
vẫn được nhiều người lựa chọn. Tuy nhiên, đáng chú ý là lãi suất huy động tiền gửi
tiết kiệm hiện vẫn chưa hấp dẫn đối với tiền nhàn rỗi, nhất là đối với các nhà đầu tư
cá nhân, bên cạnh đó còn có cả sự cạnh tranh trên thị trường các ngân hàng. Hiện
dòng tiền nhàn rỗi đang băn khoăn chọn kênh bỏ vốn, với kỳ vọng vừa có khả năng
sinh lời, vừa mang tính an toàn cao. Vì vậy, hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm
của các ngân hàng vẫn gặp nhiều khó khăn.
Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế thường không ổn định do sự chuyển động
liên tục của dòng tiền. Trong khi đó, vốn huy động từ tiền tiết kiệm của khách hàng
10
cá nhân ổn định hơn do người dân gửi tiền vào ngân hàng thương mại với mục đích
tích lũy. Việc đẩy mạnh và phát triển hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm trong
dân với chi phí hợp lý là vấn đề cần quan tâm và hết sức cần thiết đối với mỗi ngân
thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam và từ đó đưa ra những giải pháp nhằm
11
tăng cường huy động vốn từ nền kinh tế. Luận văn nghiên cứu khá chi tiết về công
tác huy động vốn trên các mặt: quy mô, cơ cấu, sự ổn định, chi phí vốn và sự phù
hợp với sử dụng vốn. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu về thời gian là từ năm
2007 đến nửa đầu năm 2009 nên không còn tính cập nhật.
- Tác giả Nguyễn Bạch Hồng (2014) “Hoàn thiện hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết
kiệm tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh
Đã Nẵng”, luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh. Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề
lý luận về huy động vốn tiền gửi tiết kiệm, phân tích thực trạng huy động vốn tiền gửi
tiết kiệm và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết
kiệm tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh
Đà Nẵng. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu về không gian của luận văn là Ngân hàng
thương mại cổ phần BIDV Đà Nẵng – phân tích số liệu của Chi nhánh ngân hàng loại I
nên sẽ có nhiều nghiệp vụ hiện đại và phát triển hơn so với Chi nhánh loại III như
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố
Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình còn hạn chế về nghiên cứu marketing ngân hàng.
Qua quá trình đánh giá tổng quan các nghiên cứu và tài liệu liên quan đến hoạt
động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại, các nghiên cứu đã
góp phần hình thành một cơ sở lý thuyết khá đầy đủ và rõ ràng về khái niệm về vốn
tiền gửi, vốn tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại và hoạt động huy động
vốn tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, việc phân tích và đánh
giá các số liệu vẫn còn tổng quát và chưa thực sự phù hợp với thực tế tại Chi nhánh
ngân hàng trên địa bàn Thành phố công nghiệp đang phát triển như Tam Điệp.
Luận văn “Hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Tam Điệp, Tỉnh
Ninh Bình” được nghiên cứu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Tam Điệp, Tỉnh Ninh Bình về thực trạng huy
a) Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác huy động
TGTK của NHTM, các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động TGTK của
NHTM.
b) Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu và khảo sát tại NHN 0&PTNT
chi nhánh Thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Về thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong 3 năm từ năm 2013 đến
năm 2015.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu trong luận văn được thu thập từ các
báo cáo hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán và một số
báo cáo khác.
- Phương pháp phân tích: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp,
phương pháp so sánh, phương pháp thống kê…để nghiên cứu thực trạng hoạt động
huy động vốn TGTK tại Chi nhánh.
Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, danh mục bảng biểu và biểu đồ, danh mục từ viết tắt, kết
luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 phần:
CHƯƠNG 1: Lý luận chung về hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm
của ngân hàng thương mại
CHƯƠNG 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm tại
NHN0&PTNT Thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2013-2015
CHƯƠNG 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết
kiệm của NHN0&PTNT Thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đến năm 2020
13
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về NHTM và nguồn vốn của NHTM
nhận tiền ký thác, tiền ký gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào nghiệp vụ
cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng.
14
Ở Việt Nam, theo Khoản 3 Điều 4 Luật Các Tổ chức Tín dụng số
47/2010/QH12 ban hành 29/06/2010: “Ngân hàng thương mại là một loại hình ngân
hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh
khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Theo khoản 1 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước số 46/2010/QH12 ban hành
29/06/2010 đưa ra định nghĩa : “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng
thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và
cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
1.1.1.2.
Chức năng của Ngân hàng thương mại
a) Chức năng trung gian tín dụng
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là “cầu nối”
giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các
khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM hình thành nên quỹ cho
vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai
trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay, đồng thời NHTM đã góp phần
tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay,
thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của
mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa, ngân hàng còn
đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán
tiện lợi.
Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi
tiêu, thanh toán mà không phải bỏ ra nhiều sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi
cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến
tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền,…
Đối với ngân hàng, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân
hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn
cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư trong tài khoản tiền gửi của khách hàng.
Chức năng trung gian thanh toán cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền
của NHTM.
c) Chức năng “tạo tiền”
Khi có sự phân hóa trong hệ thống ngân hàng thì ngân hàng trung gian không
còn thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa. Nhưng với chức năng
trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo tiền tín dụng
(hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại
NHTM. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch.
Ban đầu từ những khoản tiền dự trữ tăng lên, NHTM sử dụng để cho vay bằng
chuyển khoản, sau đó những khoản tiền này sẽ được quay lại NHTM một phần khi
những người sử dụng tiền gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn. Quá trình này
tiếp diễn trong hệ thống ngân hàng và tạo nên một lượng tiền gửi (tức tiền tín dụng)
gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số
16
mở rộng tiền gửi. Hệ số này, đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt
buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công
chúng. Với chức năng “tạo tiền”, hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán
trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Rõ ràng khái niệm về
tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do NHTW phát hành ra mà còn bao gồm
một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các NHTM tạo ra.
Khả năng mở rộng
Số tiền gửi huy động
Hệ số nhân mở
Thứ hai, NHTM là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường.
Bước sang cơ chế thị trường, sự phát triển của tín dụng NH đã làm biến đổi
hoạt động thủ công trong các nhà máy, xí nghiệp, thay vào đó là các dây chuyền sản
xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến-
17
đây là điều rất khó thể thực hiện bằng vốn tự có của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
tín dụng NH còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng cường nguồn
vốn lưu động của các doanh nghiệp. Một khía cạnh khác đòi hỏi sự có mặt của tín
dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp đó là ngân quỹ để đào tạo đội ngũ lao động
phù hợp với sự phát triển của khoa học- kỹ thuật- công nghệ cao, đặc biệt là trong
điều kiện nước ta vẫn còn thiếu nhiều những chuyên gia đầu ngành, những cán bộ
có năng lực và những công nhân lành nghề.
Thứ ba, NHTM là người thực hiện các chính sách kinh tế của Chính phủ, góp
phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.
Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về Ngân hàng Trung ương. Để thực
thi chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung ương phải sử dụng các công cụ như lãi suất,
dự trữ bắt buộc, thị trường mở… Chính các ngân hàng thương mại là chủ thể chịu
tác động trực tiếp của các công cụ này và đồng thời đóng vai trò cầu nối trong việc
chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế. Bởi vì hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại gắn liền với các hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp, các tổ chức và các chủ thể khác trong nền kinh tế. Mặt khác,
cũng qua ngân hàng thương mại và các định chế tài chính trung gian khác, tình hình
sản lượng, giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, lãi suất, tỷ giá… của nền kinh
tế được phản hồi về cho Ngân hàng Trung ương để Chính phủ và Ngân hàng Trung
ương có những chính sách điều tiết thích hợp với từng tình hình cụ thể.
Thứ tư, NHTM là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.
Với xu hướng phát triển của nền kinh tế là hướng hội nhập vào cộng đồng
kinh tế khu vực và toàn thế giới, việc mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế là một tất
hiện, sẽ gặp khó khăn trong hoạt động.
Nguồn vốn là cơ sở và phát triển hoạt động cho vay
Huy động vốn và cho vay là hai hoạt động cơ bản của NHTM. Hai hoạt động
này có mối quan hệ tương hỗ với nhau, nếu không có nguồn huy động thì ngân hàng
khó lòng cho vay và thực hiện cung cấp các dịch vụ, ngược lại hoạt động cho vay
có tác động trở lại hoạt động tạo nguồn thông qua việc kích thích các NHTM gia
tăng nguồn vốn
Vốn của ngân hàng được xem như là một phương tiện để điều tiết sự tăng trưởng,
đảm bảo sự phát triển của ngân hàng. Vốn cần phải được phát triển tương ứng với sự
tăng trưởng của cả danh mục cho vay và đầu tư những tài sản rủi ro khác.
Nguồn vốn dùng để bù đắp rủi ro
Việc trích lập các quỹ để phòng ngừa và bù đắp rủi ro luôn được thực hiện
định kỳ ở các NHTM, vì thế mỗi quốc gia đều có quy định về tỷ lệ an toàn vốn so
với tài sản. Nếu NHTM không đáp ứng được tỷ lệ an toàn như quy định ngân hàng
đó sẽ rơi vào tình trạng mất thanh khoản.
19
Nguồn vốn là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng
Vốn chủ sở hữu của NHTM là cơ sở để xác định niềm tin của công chúng, một
ngân hàng có quy mô vốn lớn sẽ được dân chúng tin tưởng hơn so với ngân hàng có
quy mô vốn nhỏ hơn nếu không xét tới các yếu tố khác.
Với cơ chế công bố thông tin của các NHTM hiện nay, khách hàng sẽ tìm tới
ngân hàng nào có những thông tin tốt và vốn sẽ là thông tin đầu tiên mà khách hàng
quan tâm.
Nguồn vốn cung cấp khả năng tài chính và phát triển dịch vụ mới
Ngân hàng luôn cần bổ sung vốn để thúc đẩy tăng trưởng và chấp nhận rủi ro
gắn với sự ra đời của những sản phẩm dịch vụ mới. Nguồn vốn của ngân hàng chủ
yếu sử dụng trong cho vay, ngoài ra các NHTM sử dụng nguồn vốn để góp vốn cổ
- Các quỹ (Quỹ thặng dư vốn cổ phần, Quỹ dự phòng tổn thất, Quỹ bảo tồn vốn, Quỹ
khác)
Hoạt động của ngân hàng không thể thiếu các quỹ, mỗi quỹ có mục đích riêng
và việc trích lập phải đảm bảo nguyên tắc và quy định trong hạch toán kế toán.
b) Vốn tiền gửi
Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ với chức năng huy động vốn và sử
dụng nguồn vốn đó để cho vay và đầu tư. Ngân hàng huy động vốn từ dân chúng,
trả lãi cho các khoản tiền gửi đó, sử dụng vốn đó vào mục đich kinh doanh của
mình là cho vay và đầu tư với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Vì thế, vốn tiền gửi là
nguồn vốn quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh của một NHTM. Ngân hàng
thực hiện việc mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng,
bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của doanh nghiệp, tổ chức và dân cư.
“ Tiền gửi là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng
đang tạm thời quản lí sử dụng với trách nhiệm hoàn trả” (3).
Đặc điểm của vốn tiền gửi:
- Tiền gửi trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM.
- Các NHTM hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn tiền gửi.
- Tiền gửi là nguồn vốn không ổn định, khách hàng có thể rút tiền của họ mà không
bị ràng buộc, nếu có ngân hàng chỉ phạt bằng việc trả lãi suất thấp hơn lãi đã cam
kết với khách hàng. Chính vì vậy, NHTM cần phải duy trì một lượng tiền dự trữ
đảm bảo khả năng thanh khoản, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng.
Điều này được thể hiện ở việc các NHTM thực hiện yêu cầu của Ngân hàng Trung
ương trong việc duy trì số dư tối thiểu tiền mặt tại quỹ, số dư tối thiểu tại Ngân
hàng Trung ương. Ngoài ra, để đảm bảo tốt hơn khả năng thanh toán, NHTM còn
gửi tiền ở các tổ chức tín dụng khác.
Với vai trò quan trọng của tiền gửi và đồng thời cũng là yếu tố thể hiện năng
lực cạnh tranh giữa các ngân hàng, ngân hàng cần có chiến lược tạo lập và sử dụng
đúng đắn và hiệu quả vốn tiền gửi. Một trong những chiến lược của các NHTM là
đưa ra những biện pháp nhằm tăng tiền gửi và để có được nguồn tiền có chất lượng
ngày càng cao, các ngân hàng đã áp dụng nhiều hình thức huy động khác nhau như :
hàng càng phát triển. Cụ thể là giữa các NHTM có thể vay mượn nhau trên thị
trường liên ngân hàng. Về thực chất các NHTM chuyển vốn cho nhau trong một
thời gian ngắn với mức lãi suất hợp lý để đảm bảo mức dự trữ tiền gửi theo quy
định và đáp ứng nhu cầu ngân quỹ đột xuất. Đây là hoạt động hết sức quan trọng để
đảm bảo khả năng thanh khoản của các NHTM vì trong ngắn hạn một NHTM có
thể tạm thời thiếu vốn để thực hiện nghĩa vụ khách hàng mà không muốn quyết toán
một hợp đồng tín dụng khác chưa đến hạn thanh toán. Trong khi đó có những ngân
22
-
hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do tiền huy động tăng và có chính sách giảm cho
vay trong một khoản thời gian.
Thứ ba, vay trên thị trường tài chính
NHTM có thể huy động vốn trên thị trường tài chính. Ngân hàng có thể thực
hiện huy động vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá như: kỳ phiếu, tín phiếu, trái
phiếu. Khi sử dụng phương pháp huy động vốn này, các NHTM xác nhận nghĩa vụ
trả nợ trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết
khác. Thời hạn huy động vốn có thể là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cụ thể:
Huy động vốn ngắn hạn: để huy động vốn ngắn hạn, các NHTM phát hành giấy tờ
Tiền ủy thác
Tiền ủy thác là nguồn tiền mà NHTM được Nhà nước hoặc các tổ chức tín
dụng khác ủy nhiệm cho thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Các nghiệp vụ ủy thác bao
gồm: ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát,…Với chức năng này,
NHTM thể hiện là một tổ chức tài chính trung gian, kênh dẫn vốn cho những chủ
thể nhận vốn đúng mục đích. Nguồn vốn này bổ sung vào tổng nguồn vốn kinh
doanh của NHTM.
1.1.3.Các loại tiền gửi
1.1.3.1. Tiền gửi thanh toán
Việc mở tài khoản và cung cấp dịch vụ thanh toán là một trong những dịch vụ
đầu tiên của một NHTM. Khách hàng nộp tiền vào ngân hàng và khoản tiền này sẽ
được hạch toán vào tài khoản thanh toán. Thực chất đây là tiền mà doanh nghiệp
hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng, nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ.
Đặc điểm:
- Lãi suất của khoản tiền trong tài khoản thanh toán tại ngân hàng thường rất thấp
( hoặc bằng không), tuy nhiên khách hàng có thể sử dụng một số dịch vụ kèm thêm
với tài khoản thanh toán như : thanh toán séc tiền mặt, séc bảo chi, cho vay thấu chi
với mức phí thấp và những giá trị gia tăng như : tặng quà, dịch vụ...
- Số dư không ổn định : Thực chất tiền gửi thanh toán là tiền gửi không kì hạn vì thế
khách hàng có thể sử dụng ( khách hàng có thể rút tiền mặt bằng séc tiền mặt hoặc
giấy rút tiền, chuyển khoản bằng ủy nhiệm chi ) bất kể lúc nào. Chính vì vậy ngân
hàng cần có nguồn tiền dự trữ để đảm bảo việc chi trả cho khách hàng.
Tiền gửi thanh toán của khách hàng cung cấp lượng lớn vốn cho ngân hàng, có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Khi khách hàng sử
dụng dịch vụ này của ngân hàng sẽ tiết kiệm được chi phí lưu thông thông qua việc
thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng dịch vụ hiện đại của ngân hàng đặc biệt là
giảm được rủi ro mất mát khi khách hàng tự quản lí tiền của mình.
1.1.3.2. Tiền gửi tiết kiệm
Trong dân chúng luôn tồn tại các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng. Khi
đó họ có thể tới ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ hộ và mong muỗn ngân hàng sẽ
Vốn tiền gửi của NHTM rất đa dạng, bao gồm: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có
kì hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm dân cư, tiền gửi
của các ngân hàng khác. Trong đó, nguồn vốn từ huy động TGTK là mối quan tâm
hàng đầu của tất cả các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh của mình.
Theo điều 6 Quyết định số 1160/2004/QĐ – NHTW “Tiền gửi tiết kiệm là
khoản tiền được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết
kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận TGTK và được bảo hiểm theo
quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”.
25
Về bản chất, đây là một phần thu nhập của người gửi tiền chưa được sử dụng
tới. Họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy tiền một cách an toàn và hưởng lãi
suất theo quy định. Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt của tích lũy tiền tệ trong
tiêu dùng.
Hình thức phổ biến của loại tiền gửi này là tiết kiệm có sổ, người gửi tiền
được ngân hàng cấp cho một quyển sổ dùng để theo dõi tiền gửi vào và rút ra đồng
thời quyển sổ này cũng chứng nhận số tiền đã gửi, có thể đem cầm cố hoặc thế chấp
vay vốn.
TGTK của khách hàng là một bộ phận vốn quan trọng, chủ yếu mà ngân hàng huy
động được để quản lí, sử dụng cho vay và thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác
- Đối với khách hàng : Trong thực tế, khi có cơ hội, những người có ít tiền thì
đầu tư nhỏ, người có nhiều tiền thì đầu tư lớn, thậm chí vay thêm vốn tín dụng để
đầu tư. Tuy nhiên không phải ai cũng có kĩ năng kinh doanh, nên khi có được một
khoản tích lũy nhất định, những người này gửi tiết kiệm như là một kênh an toàn
nhất để bảo toàn vốn, đồng thời thu được một khoản lợi tức định kì.
- Đối với ngân hàng : Vốn là một trong những yếu tố quyết định quy mô hoạt
động của ngân hàng, ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Đặc biệt, TGTK là dòng tiền được đưa vào sản xuất kinh doanh có định hướng,
đúng địa chỉ nên ngân hàng có thể kiểm soát được rủi ro.